BẠCH   LIÊN

 

 

TÔI   HỌC           

DƯỚI  CHÂN  THẦY

 

 

 

 

 

Nhóm Hội Viên Thông Thiên Học Hải Ngoại

hiệu đính và xuất bản tại Hoa Kỳ.

2004


 

1- Tạo một t́nh Huynh Đệ Đại Đồng không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, nam nữ, giai cấp hay màu da.

2- Khuyến khích việc học hỏi và đối chiếu Tôn Giáo, Triết Lư và Khoa Học.

3- Nghiên cứu những định luật thiên nhiên chưa giải thích được và những quyền năng ẩn tàng trong con người.

 

          Muốn gia nhập Hội, bạn chỉ cần thừa nhận mục đích 1 và xin liên lạc với Hội nơi Quốc Gia bạn cư ngụ; hay với một bạn Hội Viên nào bạn biết.

 

HỘI THÔNG THIÊN HỌC CÓ BA MỤC ĐÍCH.
MỤC LỤC
VÀI LỜI NÓI ĐẦU
GỞI BẠN
ĐỀ THI
CẢM THUẬT
VÀI LỜI VỀ TIỂU SỬ KRISHNAMURTI
ĐỜI NIÊN THIẾU CỦA KRISHNAMURTI
KRISNAMURTI BỊ THẦY DẠY HỌC ĐÁNH ĐẬP TÀN NHẪN
KRISHNAMURTI NÓI CHUYỆN VỚI HỒN MA
KRISHNAMURTI THEO ĐỨC BÀ A. BESANT
CÁCH GIÁO DỤC KRISHNAMURTI
KRISHNAMURTI THUYẾT PHÁP
CÂU TRẢ LỜI CỦA KRISHNAMURTI KHI NGƯỜI TA HỎI: “NGÀI CÓ PHẢI LÀ ĐẤNG CHRIST LÂM PHÀM KHÔNG ?”
TIỀN KIẾP CỦA KRISHNAMURTI
2.500 NĂM TRƯỚC KRISHNAMURTI LÀ ĐỆ TỬ CỦA ĐỨC THÍCH CA
THUYẾT PHÁP VỀ LỬA CHÁY- 1 -
THUYẾT PHÁP VỀ LỬA CHÁY TRÊN NÚI GAYA CHO MỘT NGÀN NGƯỜI DJATILA NGHE. - 2 -
DƯỚI CHÂN THẦY
LỜI TỰA
ĐIỂM ĐẠO LÀ G̀ ?
4 GIAI ĐOẠN GIỮA 2 KỲ ĐIỂM ĐẠO
ĐIỂM ĐẠO LẦN THỨ BA
ĐIỂM ĐẠO LẦN THỨ TƯ
TRẠNG THÁI A TỲ
NHỮNG VỊ ĐƯỢC ĐIỂM ĐẠO LẦN THỨ TƯ
AI ĐIỂM ĐẠO ?
7 ĐƯỜNG TIẾN HOÁ TRƯỚC MẶT CÁC VỊ SIÊU PHÀM
ALCYONE VIẾT QUYỂN “DƯỚI CHÂN THẦY” CÁCH NÀO ?
ĐỨC LEADBEATER ĐEM BẢN THẢO LÊN NHÀ CHƠN SƯ CÁCH NÀO ?
TẠI SAO ĐỨC ĐẾ QUÂN K.H. LẠI RA CÔNG DẠY ALCYONE ?
V̀ LẼ NÀO TIÊN TRƯỞNG BIẾT ĐƯỢC TR̀NH ĐỘ TIẾN HOÁ CỦA CÁC LOÀI TRONG ĐỊA PHẬN CỦA NGÀI CAI QUẢN ?
VỀ THIÊN LƯ
YAMA : GIỚI CẤM
NIYAMA : QUI LUẬT
TẠI SAO CỬA ĐẠO LẠI ĐÓNG CHẶT ?
BA CÂU CẦU NGUYỆN.
LỜI NÓI ĐẦU.
SỰ KINH NGHIỆM CỦA ĐỨC LEADBEATER.
BỐN CON ĐƯỜNG DỰ BỊ.
SỰ ÍCH LỢI KHI Ở GẦN VỊ ĐẠO SƯ
I - HẠNH PHÂN BIỆN
NHỮNG THÁI DƯƠNG HỆ TRÊN KHÔNG GIAN
NHỮNG THÁI DƯƠNG HỆ LỚN HƠN THÁI DƯƠNG HỆ CỦA CHÚNG TA
ĐỨC THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ CỦA CHÚNG TA
KHOA CÔNG TRUYỀN HAY LÀ HIỂN
KHOA BÍ TRUYỀN HAY LÀ MẬT
VỀ SỰ GIÀU SANG VÀ DANH VỌNG
VỀ SẮC DA VÀ TÍN NGƯỠNG
VỀ NHỮNG TÔN GIÁO
SỰ TIẾN HOÁ Ở TRƯỚC MẶT TA
BA SỰ TIẾN HOÁ
1- TIẾN HOÁ VỀ VẬT CHẤT VÀ H̀NH DẠNG
2- TIẾN HOÁ VỀ TRÍ THỨC
3- TIẾN HOÁ VỀ TINH THẦN HAY LÀ TÂM THỨC
CÁC TÔN GIÁO ĐỀU CÓ DẠY CƠ TIẾN HOÁ
ẤN GIÁO
9 HOÁ THÂN CỦA THƯỢNG ĐẾ VISHNOU
GIAI ĐOẠN THỨ NHỨT
GIAI ĐOẠN THỨ NH̀
GIAI ĐOẠN THỨ BA NHỮNG VỊ SIÊU PHÀM
ĐỜI MẠT KIẾP LÀ G̀ ?
ĐỜI MẠT KIẾP
THỜI ĐẠI MẠT KIẾP KHỞI SỰ HỒI NÀO ?
MỘT ĐẠI KIẾP
NHIỀU CHU KỲ NHỎ CỦA ĐỜI MẠT KIẾP
4 THỜI ĐẠI GIỐNG NHƯ 4 MÙA
TẠI SAO CHƠN THẦN PHẢI ĐẦU THAI LÀM THÚ VẬT TRƯỚC KHI LÀM NGƯỜI ?.
PHẬT GIÁO
KINH PHẬT DẠY LINH HỒN ĐI ĐẦU THAI TỪ LOÀI NẦY QUA LOÀI KIA
THIÊN CHÚA GIÁO
HỒI GIÁO
BA PHÁP MÔN
VẠN VẬT NHẤT THỂ
MUÔN VẬT MỘT THỂ
ĐI SÂU VÀO NỘI TÂM LÀ NGHĨA G̀ ?
CHƠN THẦN Ở TRONG M̀NH TA
SỰ CẤU TẠO 7 THỂ CỦA CON NGƯỜI
NHỮNG THỰC PHẨM TINH KHIẾT
THỰC PHẨM NÀO TINH KHIẾT ?
MỘT CÁCH NẤU GẠO LỨT RẤT DỄ
PHẢI ĂN CHAY
CHAY L̉NG VÀ CHAY MIỆNG
SỰ ÍCH LỢI CỦA THỰC PHẨM TINH KHIẾT
PHẢI CÓ TIẾT ĐỘ
KHÔNG NÊN HÚT THUỐC VÀ UỐNG RƯỢU
XÁC THÂN LÀ THỂ RẤT KHÓ ĐIỀU KHIỂN
TIẾNG NÓI CỦA CÁI VÍA VÀ CÁI TRÍ
TẠI SAO CON NGƯỜI ĐỒNG HOÁ VỚI CÁI VÍA ?
TÁNH CON NGƯỜI
CÁCH TINH LUYỆN CÁI VÍA
PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP
THỰC HÀNH
SỰ CẢM XÚC Ở TRONG CÁI VÍA CHỚ KHÔNG PHẢI Ở TRONG XÁC THÂN
NHỮNG THÍ NGHIỆM CỦA ÔNG HECTOR DURVILLE VỀ NGŨ QUAN
1- VỀ XÚC GIÁC (SỰ ĐỘNG DẠNG)
2- THỊ GIÁC (SỰ THẤY)
3- THÍNH GIÁC (SỰ NGHE)
4- KHỨU GIÁC (SỰ NGỬI)
5- VỊ GIÁC (SỰ NẾM)
TẠI SAO NGÀY NAY KHÔNG AI LẶP LẠI NHỮNG THÍ NGHIỆM NẦY ?
MỘT CÁCH ĐỊNH TRÍ DỄ DÀNG
NÊN BIẾT NHỮNG PHẢN ỨNG CỦA CÁI TRÍ
8 GIAI ĐOẠN CỦA RAJA YOGA
MUỐN GIÚP CƠ TẠO HOÁ CẦN PHẢI ĐÀO TẠO THANH NIÊN LÚC C̉N BÉ THƠ
ĐIỂM THỨ NHỨT
ĐIỂM THỨ NH̀
CỘI RỄ DANH TỪ TAM ĐỘC : THAM, SÂN, SI
THAM THIỀN ĐĂ CÓ TỪ THUỞ KHAI THIÊN TỊCH ĐỊA
NHỮNG LUẬT TRỜI C̉N ẨN TÀNG
CHÁNH KIẾN
ĐỨC LEADBEATER BỊ NGHI OAN
SỰ NGỜ VỰC Ở NGOÀI ĐƯỜNG
SỰ NÓNG GIẬN LÀ SỰ ĐIÊN CUỒNG
1- ĐỆ TỬ NHẬP MÔN
2- ĐỆ TỬ CHÁNH THỨC
3- CON CỦA THẦY
TẠI SAO CHƠN SƯ THÔNG HIỂU HẾT MỌI VIỆC ?
PHẬT DẠY ĐỆ TỬ LỜI NÓI PHẢI CHÂN CHÁNH. “TÔI NGHE NHƯ VẦY.”
NHỮNG ĐIỀU HỮU ÍCH CỦA SỰ CHÂN THẬT
II- LỜI NÓI CHÂN CHÁNH
A- CÓ CẦN THIẾT KHÔNG ?
B- CÓ ĐÚNG SỰ THẬT KHÔNG ?
NHỮNG TẤM MÀN CHE MẮT GIĂNG KHẮP MỌI NƠI
C- CÓ TỪ THIỆN KHÔNG ?
CHỚ NÊN HIỂU LẦM SỰ NÓI THẬT ĐÚNG
VIỆC LÀM CHÂN CHÁNH
CÁC TÔN GIÁO ĐỀU TRỌNG TÁNH CHÂN THẬT
1- ẤN GIÁO
2- BÁI HOẢ GIÁO (ZOROASTRISME) BA TƯ GIÁO
3- DO THÁI GIÁO (JUDAISME)
4- PHẬT GIÁO
5- THIÊN CHÚA GIÁO
6- HỒI GIÁO
CÂU CHUYỆN ÔNG OUDDALAKA DẠY CON HAY LÀ ĐÂU ĐÂU CŨNG CÓ ĐỨC THƯỢNG ĐẾ
3 ĐIỂM CHÁNH TRONG CON NGƯỜI VÀ CÁC LOÀI VẬT
SAO LÀ THỨC TỈNH SỰ SỐNG THIÊNG LIÊNG ?
CON NGƯỜI PHẢI TỰ BIẾT M̀NH LÀ CHƠN THẦN
1- CHƠN THẦN
2- CHƠN NHƠN
3- PHÀM NHƠN
PHÀM NHƠN RA SAO ?
SỰ LIÊN LẠC GIỮA 3 NGÔI: CHƠN THẦN, CHƠN NHƠN VÀ PHÀM NHƠN
TẠI SAO CHƠN SƯ BẢO ALCYONE PHẢI ĐI SÂU VÀO NỘI TÂM ĐỂ T̀M ĐỨC THƯỢNG ĐẾ VÀ NGHE LỜI NGÀI ?
MUỐN THỨC TỈNH NGƯỜI, M̀NH PHẢI TỰ THỨC TỈNH M̀NH TRƯỚC
PHƯƠNG PHÁP TỰ THỨC TỈNH
CÁCH THỨC TỈNH SỰ SỐNG THIÊNG LIÊNG
II - HẠNH KHÔNG HAM MUỐN
CƠI TRẦN, CƠI TIÊN
TỰ LỰC
THA LỰC
KHOA LUYỆN PHÉP TẮC
VÀI PHÉP THẦN THÔNG
CHUYỆN ĐẠO SĨ SIM BANDAI LÀM RA SẤM SÉT
LÀM MƯA
CHUYỆN MỘT NHÀ PHÙ THUỶ Ư SIGNOR B. LÀM MƯA
BÁN GIÓ
PHÉP CẦM MÁU
MÁU TUÂN THEO Ư MUỐN CỦA ÔNG
CHUYỆN NGƯỜI HOÁ SÓI
CHUYỆN THỨ NHỨT
CHUYỆN THỨ NH̀
MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ HOÁ RA CHÓ SÓI
NHỮNG CHUYỆN NGƯỜI HOÁ SÓI CÓ THẬT KHÔNG ?
CÓ PHẢI XÁC THÂN CON NGƯỜI HOÁ RA THÚ VẬT HAY KHÔNG ?
NHỮNG BẰNG CỚ KHÁC ĐỂ CHỨNG MINH CÁI VÍA BỊ BỆNH CHỖ NÀO TH̀ XÁC THỊT BỊ BỆNH Ở CHỖ ĐÓ
TRƯỜNG HỢP ĐÁNH CÁI VÍA MÀ XÁC THÂN KHÔNG BỊ BỆNH
DỤNG Ư CỦA TÔI LÀ CHO BIẾT NHỮNG TAI HẠI CỦA SỰ XUẤT VÍA
TẠI SAO CHƠN SƯ LẠI NÓI NGÀY GIỜ VÀ SỨC LỰC ĐỂ LUYỆN TẬP MẤY PHÉP ĐÓ NÊN ĐỂ GIÚP ĐỜI C̉N HAY HƠN ?
PHẬT CẤM DÙNG NHỮNG PHÉP THẦN THÔNG
1 - PHẬT CẤM DÙNG THẦN NHĂN XEM NƯỚC UỐNG
2 – CÁI BÁT BẰNG BẠCH ĐÀN
TA THẤY NHỮNG PHÉP THẦN THÔNG MỖI NGÀY TRƯỚC MẮT TA
SỰ NGUY HẠI CỦA VIỆC CÓ THẦN NHĂN
BA LỜI NGUYỆN
CHUYỆN MỘT ÔNG PHẬT GIẢ
VỀ TÁNH KIÊU CĂNG
ĐỨC KHIÊM TỐN
PHƯƠNG PHÁP TẬP LUYỆN
PHƯƠNG PHÁP KHẮC KỶ
III - HẠNH KIỂM TỐT
THỜI KỲ CHUẨN BỊ ĐỂ ĐƯỢC ĐIỂM ĐẠO LẦN THỨ NHỨT
PHƯƠNG PHÁP THỨ NHỨT
PHƯƠNG PHÁP THỨ NH̀
TRỞ NÊN NHẠY CẢM
HAI ĐIỀU TRÁI NGƯỢC NHAU
- I -
- II - NHỮNG CHUYỆN SẦU NĂO, KHÓ KHĂN, BỆNH TẬT, HAO TỐN, MẤT MÁT DO KIẾP NẦY GÂY RA
NHỮNG VIỆC ĐẢM ĐƯƠNG
CHUYỆN SOCRATE THÂU XÉNOPHON LÀM ĐỆ TỬ
NHỮNG LUẬT HẠNH KIỂM
TẠI SAO KHÔNG NÊN LĂNH NHỮNG NGHĨA VỤ MỚI
1- PHẢI NHÂN TỪ
TẠI SAO SỰ TIẾN HOÁ LẠI BẤT ĐỒNG ?
7 LOÀI TRÊN DĂY ĐỊA CẦU
SỰ THAY H̀NH ĐỔI DẠNG
THOÁT KIẾP THÚ TRƯỚC CHÚNG BẠN
KHOAN DUNG NHỮNG TÍN NGƯỠNG
GHÉT NHAU V̀ TÍN NGƯỠNG BẤT ĐỒNG
TẠI SAO PHẬT GIÁO KHÔNG TIN CÓ THƯỢNG ĐẾ ?
1- PHẬT KHÔNG CÓ DẠY VỀ THƯỢNG ĐẾ
2- KINH SÁCH PHẬT NÓI KHÔNG CÓ THƯỢNG ĐẾ
V̀ CỚ NÀO PHẬT GIÁO KHÔNG NH̀N NHẬN CÓ THƯỢNG ĐẾ ?
TÔI TIN ĐỨC PHẬT CÓ DẠY VỀ ĐỨC THƯỢNG ĐẾ
TỨ THÁNH
TẤT CẢ NHỮNG CON ĐƯỜNG ĐỀU DẮT ĐẾN THƯỢNG ĐẾ
1- CON ĐƯỜNG HÀNH ĐỘNG
ĐỨC KRISHNA NÓI VỀ SỰ HÀNH ĐỘNG
TỪ KHƯỚC KẾT QUẢ CỦA SỰ HÀNH ĐỘNG
HIẾN DÂNG
2- CON ĐƯỜNG MINH TRIẾT (Jnana Yoga)
NHỮNG ĐIỀU NGUY HIỂM PHẢI TRÁNH
SỰ VUI THÍCH CỦA HÀNH GIẢ CHÂN CHÍNH
AI THEO CON ĐƯỜNG MINH TRIẾT ?
3- CON ĐƯỜNG SÙNG TÍN (Bhakti Yoga)
HAI MẪU NGƯỜI SÙNG TÍN
1- MẪU NGƯỜI SÙNG TÍN THỤ ĐỘNG
2- MẪU NGƯỜI SÙNG TÍN HOẠT ĐỘNG
CON ĐƯỜNG SÙNG TÍN ĐI ĐẾN ĐÂU ?
MỘT CÂU CHUYỆN TIN DỊ ĐOAN
TU SĨ SANNYASI
CUỘC HÀNH LỄ CỦA NGƯỜI BÀ LA MÔN
3 GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ
7 GIAI ĐOẠN CHÁNH YẾU
SỰ HỮU ÍCH CỦA VÀI CUỘC LỄ BÁI
CÁCH CƯ XỬ VỚI TÍN ĐỒ CÁC TÔN GIÁO
L̉NG KHOAN DUNG ĐẠI ĐỘ CỦA THÁNH SAINT PAUL
MỘT CÂU CHUYỆN KHOAN DUNG RẤT LƯ THÚ
TINH THẦN AN PHẬN
SỰ AN PHẬN GIẢI NGHĨA THEO HUYỀN BÍ HỌC
PHẢI CẢI TẠO HOÀN CẢNH
TƯ TƯỞNG TẠO NÊN SẮC ĐẸP
1- TRƯỜNG HỢP CỦA CÔ RUTH J. WILD
2- TRƯỜNG HỢP CỦA CÔ VIRGINIA KNAPP
SỰ AN PHẬN CỦA CÁC SINH VIÊN HUYỀN BÍ HỌC
QUI LUẬT XII
SAO LÀ CUỘC TUẦN HOÀN ?
CÔNG VIỆC CỦA CÁC ĐẤNG CAO CẢ
CHƠN SƯ DẠY ALCYONE ĐỊNH TRÍ
MỘT PHƯƠNG PHÁP CẢM THÔNG ĐẾN CHƠN SƯ
VIỆC CHỌN LỰA VỊ CHƠN SƯ LÀM THẦY M̀NH
PHẢI TIN CẬY CHƠN SƯ
IV - HẠNH BÁC ÁI
ALCYONE CỨU ĐỨC BỒ TÁT
HAI CÁCH THOÁT KIẾP LUÂN HỒI
1- THOÁT KIẾP LUÂN HỒI TRONG MỘT THỜI GIAN: TRẠNG THÁI MOKSHA
2- THOÁT KIẾP LUÂN HỒI VĨNH VIỄN
CHƠN SƯ DẠY CHÚNG TA PHẢI CƯƠNG QUYẾT
TA HẠI TA TRƯỚC
TA THÊM SỰ KHỔ CHO ĐỜI
TA LÀM HẠI KẺ KHÁC
NHỮNG TỘI ÁC CỦA TÔN GIÁO GÂY RA
KINH THÁNH CORAN VÀ CÂY GƯƠM
THIÊN CHÚA GIÁO
NHỮNG NGƯỜI GIẢI PHẪU SINH THỂ
ĐÁNH ĐẬP HỌC TR̉
SĂN BẮN THÚ VẬT
SỰ HUNG ÁC TRONG LỜI NÓI
NHỮNG NGƯỜI THAM LAM, BỎN SẺN
ĐỪNG LÀM HƯ HOẠI THỂ XÁC CỦA KẺ KHÁC
3 TRẠNG THÁI ÂM VÀ DƯƠNG CỦA 3 NGÔI
NÊN PHÂN BIỆT HAI KALI
TRÊN THIÊN Đ̀NH KHÔNG CÓ SỰ SANH SẢN NHƯ Ở THẾ
TẠI SAO CÓ SỰ SANH ĐẺ NHƯ NGÀY NAY ?
SỰ SANH HOÁ GIỐNG DÂN THỨ NHỨT, THỨ NH̀ VÀ PHÂN NỬA ĐẦU TIÊN CỦA GIỐNG DÂN THỨ BA
GIỐNG DÂN THỨ NHỨT
GIỐNG DÂN THỨ NH̀
GIỐNG DÂN THỨ BA
GIAI ĐOẠN THỨ NHỨT NOĂN SANH
GIAI ĐOẠN THỨ NH̀
GIAI ĐOẠN THỨ BA THAI SANH
LINH HỒN QUA BẦU HÀNH TINH NÀO TH̀ THÂN H̀NH ĐƯỢC LÀM RA BẰNG CHẤT KHÍ ĐĂ CẤU TẠO HÀNH TINH ĐÓ
ĐỨC PHẬT VÀ ĐỨC SANKARACHARYA DIỆT TRỪ THÓI MÊ TÍN GIẾT THÚ VẬT ĐỂ CÚNG TẾ
ĐỨC SRI SANKARACHARYA
KHÔNG PHẢI ĂN THỊT MỚI SỐNG
THUỞ XƯA
ĐỜI NAY
NHỮNG THÚ ĂN CỎ VÀ TRÁI CÂY
OAI LỰC CỦA L̉NG TỪ BI
CHUYỆN THỨ NHỨT : VUỐT VE RẮN HỔ MANG
CHUYỆN THỨ NH̀ : MỘT CHUYỆN PHI THƯỜNG
TẤM GƯƠNG TRONG SẠCH CHUYỆN HAI VỊ TU SĨ TRẺ TUỔI Ở ALEXANDRIE
TRƯỜNG HỢP CỦA ANH THỨ NHỨT
TRƯỜNG HỢP CỦA ANH THỨ NH̀
THANH BẦN
TRINH KHIẾT
VÂNG LỜI
TRẠNG THÁI CỦA ĐỨC THƯỢNG ĐẾ THEO KINH SÁCH ẤN
HAI TRẠNG THÁI CỦA CUNG THỨ NH̀
BÀI PHỤNG SỰ THỨ NHỨT
LỜI CẦU CHÚC CỦA BÀ ANNIE BESANT
BÀI PHỤNG SỰ THỨ NH̀
TOÁT YẾU DƯỚI CHÂN THẦY
DƯỚI CHÂN THẦY DẠY ĐẠI ĐỊNH VÀ SỐNG THIỀN
TOÁT YẾU VỀ 4 ĐỨC TÁNH
4 ĐỨC TÁNH : HẠNH PHÂN BIỆN, HẠNH KHÔNG HAM MUỐN, HẠNH KIỂM TỐT VÀ HẠNH BÁC ÁI ĐỀU LIÊN QUAN MẬT THIẾT VỚI NHAU
1- VỀ HẠNH PHÂN BIỆN
2- VỀ HẠNH KHÔNG HAM MUỐN
3- VỀ HẠNH KIỂM TỐT
4- VỀ HẠNH BÁC ÁI
NÓI TÓM LẠI
NHỮNG ĐIỂM CHÁNH TRONG QUYỂN “DƯỚI CHÂN THẦY”
LỜI TỰA CỦA ĐỨC BÀ A. BESANT
KÍNH TẶNG NHỮNG AI GƠ CỬA
BA CÂU CẦU NGUYỆN
LỜI NÓI ĐẦU CỦA ALCYONE
4 ĐỨC TÁNH
1- HẠNH PHÂN BIỆN
XÁC THÂN
CÁI VÍA
CÁI TRÍ
2- HẠNH KHÔNG HAM MUỐN
3- HẠNH KIỂM TỐT
4- HẠNH BÁC ÁI
TIỆN ĐÂY TÔI CÓ VÀI LỜI NGỎ CÙNG QUÍ BẠN ĐỘC GIẢ
PHỤ TRƯƠNG
TẠI SAO TÔI VIẾT PHỤ TRƯƠNG NẦY ?
CHƯƠNG TR̀NH HỌC TẬP ĐỂ TỰ GIÁC
1- PHẦN LƯ THUYẾT
TẠI SAO PHẢI HỌC TRỜI TRƯỚC ?
2- PHẦN THỰC HÀNH
TOÁT YẾU VỀ SỰ LUYỆN TẬP 3 THỂ
1- VỀ XÁC THÂN
PHẢI HẾT SỨC SẠCH SẼ
TẬP THỂ DỤC
TẬP YOGA
PHẢI ĐỀ PH̉NG
2- VỀ CÁI VÍA
3- VỀ CÁI TRÍ
SỰ THAY ĐỔI CHẤT KHÍ TRONG HAI THỂ VÍA VÀ THỂ TRÍ
TỰ THẮNG M̀NH LÀ MỘT VIỆC CỰC KỲ KHÓ KHĂN
PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN TÁNH T̀NH THEO LỜI DẠY CỦA ĐỨC BÀ A. BESANT
HỌC GIÁN TIẾP VÀ HỌC TRỰC TIẾP
PHẦN LƯ THUYẾT
HỌC GIÁN TIẾP
PHẦN THỰC HÀNH
HỌC TRỰC TIẾP
LỜI CẦU CHÚC CỦA TÔI
CHÂN THÀNH TRI ÂN

 

Tự giác nhi giác tha

  

Lời dạy của Chơn Sư:

          “Tại sao lại có tánh ích kỷ? Nếu có những điều có thể học được, thấy được và cần ích cho tương lai của con người, tại sao không cho kẻ khác có dịp may như con?”

Chơn Sư M.

  

          Rất dễ nói: “Tôi không muốn có ḷng tham vọng, nhưng không phải dễ nói: Khi Đức Chơn Sư nh́n vô ḷng tôi, Ngài thấy nó hoàn toàn trong sạch.”

Ánh Sáng Trên Đường Đạo

 

VÀI  LỜI   NÓI  ĐẦU

 

          Hiện giờ khắp hoàn cầu có 3 quyển sách nhỏ quí báu nhất giúp chuẩn bị sinh viên bước vào Cửa Đạo một cách mau chóng.

          Ba quyển đó là:

          1- Dưới Chân Thầy.

          2- Tiếng Nói Vô Thinh, cũng gọi là: Tiếng Nói Của Tâm Hồn.

          3- Ánh Sáng Trên Đường Đạo.[1]

          Hai vị Cao Đồ của Chơn Sư là Đại Đức A. Besant và Leadbeater có giảng lư 3 quyển nầy. Nhưng phải nói trắng ra: Trước kia, hai Ngài giải cho những vị Đệ Tử và những kẻ chí nguyện nghe, sau nầy mới được phép đem ra phổ biến. V́ thế những lời giải thích cao hơn nhiều lắm sánh với tŕnh độ của những người thường. Trừ ra một số rất ít người, có lư tưởng, mới hiểu được đôi chút, bao nhiêu người c̣n lại không lănh hội trọn được ư nghĩa cao thâm của 3 quyển sách nầy.

          Không hiểu được, tự  nhiên không thực hành được những điều đă học hỏi.

          Trong 3 quyển ấy quyển “Dưới Chân Thầy” là cần thiết nhất, v́ nó nêu rơ những điều kiện Luật Trời đă qui định và bắt buộc sinh viên phải có đủ mới được bước vào Cửa Đạo, nói một cách khác, là được Điểm Đạo lần thứ nhứt. Nhưng tôi thường nói với các bạn thân: Quyển “Giảng Lư Dưới Chân Thầy” khó lắm. Cần giảng thêm quyển “Giảng Lư Dưới Chân Thầy,” may ra các bạn Đạo có thể đem áp dụng phần nào lời dạy của Chơn Sư trong đời sống hằng ngày.

          Tôi cũng thường khuyên các bạn Thông Thiên Học phải cố gắng sống đúng như những lời dạy trong quyển “Dưới Chân Thầy,” được bao nhiêu hay bấy nhiêu, bởi v́ Học Rất Dễ, mà Hành Rất Khó.

          Học Đạo chỉ để Thuyết Đạo, chớ không Hành Đạo ắt không bao giờ Đắc Đạo.

          Sanh ra ở Cơi Trần con người chỉ có một mục đích là cố gắng tiến hoá để trở nên Trọn Sáng, Trọn Lành, trở thành một Vị Siêu Phàm như Thiên Cơ đă định, khi giờ khắc điểm.

          Muốn đạt mục đích nầy sớm hơn, cần phải luyện tập theo  phương pháp Yoga. Đại Sư Patanjali định nghĩa Yoga như sau đây:

          1- Yoga là việc đ́nh chỉ sự Biến Thiên của Cái Trí.

          2- Yoga là sự kiểm soát những tư tưởng trong Trí.

          Cũng một câu chữ Phạn mà dịch hai cách, tuy khác danh từ song cũng đồng nghĩa.

          Thiết tưởng hiện nay, đứng đầu những sách giải về Yoga thực tập là quyển “Dưới Chân Thầy”, v́ nó gồm một lượt đủ 3 Pháp Môn hay là Yoga của 3 Con Đường: Minh Triết, Sùng Tín và Hành Động, một lượt.

          1- Về Con Đường Minh Triết: Con Người phải tự biết ḿnh là Chơn Thần và phải tự chủ. Ba Thể: Thân, Vía, Trí phải ở dưới quyền điều khiển của Con Người.

          2- Về Con Đường Sùng Tín: Con Người cần hợp nhất với Đức Thượng Đế và ban rải Đức Từ Bi của Ngài chan chứa ở trong ḷng ḿnh.

          3- Về Con Đường Hành Động: Lánh dữ, làm lành. Phụng sự và không bao giờ nghĩ tới tư lợi nào cả.

          Nhưng cần nhấn mạnh về Con Đường Hành Động hơn hai Con Đường kia, bởi v́ trong thời đại nầy hành động tỏ ra cần thiết và quan trọng hơn việc ngồi Thiền như thuở xưa.

          Phương pháp thực hành là: Kriya Yoga tức là Yoga của đời sống hằng ngày.

          Kriya Yoga thuộc về Qui Tắc thứ nhứt của Chương II trong quyển “Những cách ngôn về Yoga của Patanjali.”

          Kriya Yoga gồm 3 giai đoạn:

          1- Tapas: Có nhiều nghĩa như: Nhiệt lực, hăng hái, đốt cháy .  .  .  Ở đây có nghĩa là: Chuẩn bị Thể Xác.

          2- Swadhyaya: Sự học hỏi Bản Ngă, khác hơn sự học hỏi ngoại giới.

          3- Isvara Pranidhana: Tập trung tư tưởng về Đức Thượng Đế. Chiêm Ngưỡng Ngài.

          Ba giai đoạn nầy trong quyển “Dưới Chân Thầy” tóm tắt như sau đây:

          1- Tapas: Chuẩn bị Xác Thân.

          “Cách sinh hoạt của 3 Thể.

          Không có một xác thân tinh khiết và tráng kiện th́ không thế nào con thực hành được những công việc khó khăn trong lúc tập luyện để bước vào Đường Đạo, con không thể chịu đựng nổi những nỗ lực cần thiết và tái diễn măi.”

          2- Swadhyaya: Sự  học hỏi về Bản Ngă.

          “Con là Thượng Đế, con chỉ muốn điều nào Thượng Đế  muốn mà thôi. Nhưng con phải đi sâu vào nội tâm của con để t́m Đức Thượng Đế ở trong người con và nghe lời Ngài. Lời Ngài tức là lời của con vậy.

          Đức Thượng Đế vốn Minh Triết và cũng là Từ Bi. Con được Minh Triết nhiều chừng nào th́ Ngài càng dễ hiện ra nhiều chừng nấy.

          Phải tập nh́n thấy Đức Thượng Đế ẩn ḿnh bên trong các loài, các vật, dầu chúng nó thật xấu xa, hay là dường như xấu xa.

          Hăy học hỏi cách thức tỉnh Sự Sống Thiêng Liêng trong thân nó.

          Tôi là Con Người mà cũng là Thượng Đế ở trong ḿnh Con Người nữa.”

          3- Isvara Pranidhana: Tập trung tư tưởng về Đức Thượng Đế. Chiêm Ngưỡng Ngài.

          “Quyết chí hợp nhất với Đức Thượng Đế không phải để thoát khỏi sự mệt nhọc và khổ năo, nhưng để có thể hành động với Ngài và giống như Ngài vậy.

          Khát khao hợp nhất với Đức Thượng Đế chẳng phải để con được hưởng phần con, mà là để thành một vận hà đem Đức Từ Bi của Ngài ban rải cho đồng bào của con.

          Nó là ng̣i bút ở trong tay Đức Thượng Đế, nhờ vậy tư tưởng của Ngài có thể tuôn xuống Phàm Trần và nếu không có phần trung gian ấy th́ không phô diễn ra được.”

          Về 3 giai đoạn nầy, Chơn Sư chỉ nói phớt qua, v́ Alcyone c̣n nhỏ tuổi, không tiện giải thích nhiều hơn. Một lẽ khác nữa: Alcyone đương ngủ, Huynh ở trong Cái Vía, chớ không phải thức và ở trong Xác Thân như chúng ta để dễ nhớ.

          Tôi tưởng cũng nên nói đôi lời về nếp sống của vài vị Cao Đồ của Chơn Sư như: Đức Bà A. Besant.

          4 giờ sáng Đức Bà A. Besant đă thức dậy, tham thiền trong ṿng nửa giờ rồi bắt đầu viết bài và trả lời các thơ tín hay là giải quyết những công chuyện phải lo. Bà làm việc tới 11 giờ khuya mới đi ngủ.

          C̣n Đức Leadbeater thức dậy hồi 5 giờ sáng, làm việc cho tới 12 giờ khuya.

          Hai Ngài ăn rất ít và chỉ nghỉ có vài mươi phút sau khi dùng bữa.

          Các vị Cao Đồ khác như: Đại Đức Jinarajadasa, Arundale, Rukmini, Sri Ram, Hodson lần lượt đi chu du khắp hoàn cầu. Các Ngài thường đến những nước lớn bên Âu Mỹ thuyết giáo hầu ban rải ánh sáng Chân Lư cho đời.

          Nối gót các vị Tiền Bối, lúc sau nầy là Huynh John Coats,[2] Chánh Hội Trưởng Hội Thông Thiên Học Quốc Tế cũng đi thuyết Đạo nhiều nơi. Năm 1972 Huynh có qua Saigon và diễn thuyết tại Hội Quán Thông Thiên Học Việt Nam ở Phú Nhuận.

          Bà Radha Burnier đắc cử Chánh Hội Trưởng năm 1980 cũng đi diễn thuyết khắp xứ.

          Gương hy sinh cao cả của các Ngài để cho chúng ta, là những người hội viên Thông Thiên Học và đoàn hậu tấn soi chung hầu tiến lên.

          Thuở xưa, Sri Krishna là hoá thân của Đức Thượng Đế dạy Yoga cho Arjuna giữa băi chiến trường Kurukshetra, chớ không phải trong chốn rừng sâu, núi thẳm.

          Ngày nay, cơi đời không khác nào trận địa Kurukshetra, thiên hạ đau khổ rất nhiều v́ những tranh đua bất chánh. Muốn đem hạnh phúc cho nhân loại điều cần thiết và hay hơn hết là dạy con người hành động chơn chánh và lánh dữ, làm lành, chớ không c̣n th́ giờ ngồi trầm tư mặc tưởng như mấy thế kỷ trước đây. Phải tuỳ thời đại và hoàn cảnh mà dùng những phương tiện thích nghi.

          Quyển “Dưới Chân Thầy” ra đời rất đúng lúc.

          Bốn Đức Tánh: Phân Biện, Hạnh Không Ham Muốn, Hạnh Kiểm Tốt, Ḷng Từ Ái kể ra trong quyển “Dưới Chân Thầy” cần phải bàn rộng ra, mỗi độc giả cần suy nghĩ, t́m giải pháp thích nghi, tuỳ theo con đường ḿnh đă chọn lựa, hoặc Con Đường Trí Tuệ, hoặc Con Đường Sùng Tín (hay là T́nh Thương), hoặc Con Đường Hành Động.

          Tôi xin hiến quí bạn những điều tôi đă  học hỏi về 4 Đức Tánh nầy hầu giúp quí bạn thêm vài ư kiến mới.

          Nếu quyển “Giảng Lư Dưới Chân Thầy” của hai vị Đại Đức A. Besant và Leadbeater là ngọn đèn pha làm choá mắt khách lữ hành trong đêm tăm tối, tôi ước mong quyển “Tôi Học Dưới Chân Thầy” tôi soạn là một ngọn đèn dầu phộng chỉ soi sáng từng bước của những bạn đồng hành mà thôi.

          Tôi không có cái cuồng vọng mà cũng không ngu xuẩn đến nỗi cho rằng quyển sách của tôi viết có thể thay thế được quyển “Giảng Lư Dưới Chân Thầy” của hai vị Cao Đồ của Chơn Sư, mà cũng là Đại Sư Huynh của chúng tôi.

          Nó chỉ là những nấc thang bắt từ chỗ thấp để giúp quí bạn bước lần lên cao mà thôi.

          Nhưng tôi tin rằng sau khi đọc quyển nầy, quí bạn hiểu thêm được quyển “Giảng Lư Dưới Chân Thầy” đôi ba phần.

          C̣n hai điều mà tôi tưởng cũng nên nói ra:

          Một là: Trong nền Đạo Đức, từ xưa đến nay, luôn luôn có nhiều Đức Tánh cần phải lặp đi lặp lại, kẻ chí nguyện mới nhớ để thực hành. Cũng như trong quyển “Dưới Chân Thầy” Chơn Sư nhấn mạnh nhiều lần về Sự Lành, Sự Dữ cho Alcyone nghe.

          Trong quyển nầy có nhiều đoạn tôi chép lại những lời tôi đă giải ở mấy quyển sách tôi đă xuất bản trước đây, v́ chúng liên quan với những điểm mà Chơn Sư đă chỉ dạy Alcyone.

          Tôi muốn nhấn mạnh về mấy điểm sau đây:

          1- Chân Lư vẫn là một.

          2- Nhân loại là một khối duy nhất. Tư tưởng, lời nói và việc làm của một người đều có ảnh hưởng đến toàn thể.

          3- Quả thật Con Người  là Chơn Thần. Tuy nhiên kinh sách thường gọi: Con Người là Chơn Nhơn hay là Linh Hồn, cũng được vậy, bởi v́ Chơn Nhơn là một phân thân của Chơn Thần và đại diện cho Chơn Thần. Con Người sanh ra Cơi Trần để tiến hoá.

          4- Muôn vàn tội lỗi đều do tánh xấu của 3 Thể: Thân, Vía, Trí gây ra.

          5- Muốn tiến mau phải tinh thần hoá 3 Thể. Phải tự chủ, phải khắc kỷ mới mong dẹp được những chướng ngại mà hành giả sẽ gặp ở mỗi chặng đường.

          6- Nhất là phải học rành rẽ Luật Nhân Quả. Làm trái Luật Trời th́ sẽ có sự phản ứng lại, không trốn tránh đường nào cho khỏi. Người ta gọi là Nhân nào, Quả nấy.

          Phải lặp đi lặp lại những điều nầy nhiều lần, người chí nguyện mới ghi nhớ vào ḷng.

          Gặp mấy đoạn đó, xin quí bạn miễn nghị. Đây cũng là một dịp để ôn lại những điều đă học hỏi đặng thực hành khi có cơ hội đưa đến.

          Hai là: Thiên Đ́nh rất công b́nh. Bất cứ là ai, dầu cho tín đồ của Ấn Giáo, Phật Giáo, Công Giáo, Hồi Giáo, Nho Giáo, hoặc không giữ Đạo nào cả, mà lo tu đức trau ḿnh, ḷng nhân mở rộng, quên ḿnh hầu giúp đời tuỳ phương tiện, không quản nhọc nhằn, th́ khi trả xong một số lớn Quả Báo rồi, Chơn Sư sẽ thâu nhận anh làm Đệ Tử, như trường hợp người bạn của Đức Leadbeater mà tôi đă thuật trong nhiều quyển sách trước của tôi trong bài “Cách Chơn Sư chọn Đệ Tử.” Xin xem bài “Kinh nghiệm của Đức Leadbeater” trong quyển nầy.

          Quả thật Hội Thông Thiên Học do hai vị Chơn Sư lập ra và được phép đem phổ biến vài Thiên Đầu của Khoa Minh Triết Thiêng Liêng, cũng có thể gọi là Huyền Bí Học hay là Khoa Mật của các Đại Tôn Giáo, bắt đầu từ ngày 17 tháng 11 năm 1875.

          Nhưng không v́ lẽ đó mà Thiên Đ́nh chỉ thâu dụng những Hội Viên Thông Thiên Học và loại ra tín đồ của các Tôn Giáo khác. Không hề có việc đó bao giờ.

          Dầu cho là Hội Viên Thông Thiên Học trong ṿng 5, 60 năm đi nữa mà không sống đúng như những lời dạy của Tiên Thánh, không hội đủ những Đức Tánh Cần Thiết do Luật Trời qui định, sẽ vẫn khó gặp được Chơn Sư. Mà dầu có gặp Ngài đi nữa, cũng không được Ngài thâu nhận làm Đệ Tử. Gặp Chơn Sư là một việc, c̣n được vào hàng Đệ Tử Chơn Sư là một việc khác nữa. Trong Quần Tiên Hội không bao giờ có sự tư vị như ở Thế Gian.

          Các Đấng Cao Cả đưa cơ hội tốt đến cho chúng ta, nếu chúng ta không chụp lấy, để cho nó trôi qua th́ nó không trở lại lần thứ nh́ trong kiếp nầy.

          Nếu chúng ta chưa được hân hạnh đứng trước mặt Chơn Sư chúng ta hăy tự xét ḿnh c̣n thiếu sót những điều kiện nào, để lo bồi bổ chỗ khuyết điểm đó. Ngày nào chúng ta thành công, ngày đó chúng ta sẽ được toại nguyện.

          Luôn luôn Chơn Sư chờ đợi chúng ta. Ngài t́m kiếm những Đệ Tử trung kiên để chia sớt công việc nặng nhọc của Ngài ở Trần Thế, bởi v́ có hai thứ công việc:

          1- Một thứ là công việc ở Thiên Đ́nh, Chơn Sư thực hành được mà các Đệ Tử không thể làm.

          2- Một thứ nữa là công việc ở Cơi Trần, Chơn Sư phải nhờ Đệ Tử thực hành, v́ Ngài không rảnh rang và cũng không thể ở giữa Thế Tục măi như Đệ Tử. Xác Thân của Ngài tốt đẹp và mảnh mai không chịu được những sự rung động dữ dội và thô bạo của máy móc, xe cộ. Nhưng vị Đệ Tử cũng phải tỏ ra xứng đáng với nhiệm vụ của Ngài giao phó, tức là phải đủ Tài, đủ Đức, Khiêm Tốn và Phụng Sự Vô Tư Lợi.

Lành thay! Lành thay!

BẠCH  LIÊN


GỞI  BẠN

 

Làng Tiên chờ đợi bạn Tâm Giao,

Vượt bể Trần Ai, đến Động Đào.

Có thú vị, rồi thêm thú vị,

Cho thanh cao, mới được thanh cao.

Lộ vàng bước tới noi người trước,

Kiều Ngọc qua rồi dắt kẻ sau.

Hoa cỏ non Bồng xuân nhuận sắc,

Trăng soi cảnh tịnh rạng làu làu.

******************

Sẵn bạn Đào Nguyên chỉ dẫn đường,

Lo chi cuộc Thế mấy tang thương.

Mở ḷng Bác Ái yêu muôn vật,

Đem Đạo Từ Bi bủa bốn phương.

Biển khổ mênh mông c̣n có đáy,

Thuyền sen Bát Nhă vẫn không lườn.

Giúp đời chớ quản lời phi thị,

Trên có Cao Dày, Đấng Chủ Trương.

 

 

 

 

ĐỀ   THI

 

- I -

Không tham danh lợi khỏi ưu phiền,

Niệm chữ Từ Bi dứt nghiệp duyên.

Vớt kẻ trầm luân nơi khổ hải,

Noi theo Tôn Chỉ Hội Quần Tiên.

 

- II -

Phá đường mê tín vạch chông gai,

Khó nhọc dường bao dạ chẳng nài.

Đă nguyện thân phàm đem độ thế,

Bắt cầu cho kẻ đến Bồng Lai.

 

BẠCH  LIÊN

 

                       

 

           

         

         

         

CẢM   THUẬT

-         I -

Thương kẻ say Phàm trót bấy lâu,

Muốn d́u thoát tục phải lo âu.

     Rèn tâm từ ái từng lao khổ,

Đúc trí quang minh mặc dăi dầu.

Phú quí in như đèn dưới gió,

Công danh dường thể nước qua cầu.

Cơ Trời tiến hoá nên thay đổi,

Ta vẫn xem thường cuộc biển dâu.

 

-         II -

Ở giữa Trần Ai chớ nhiễm Trần,

Xem Kinh giồi Trí luyện Tâm Thần.

Ra công tu đức, trau ḿnh trước,

Đuốc huệ sau nầy rọi thế nhân.

 

VƯƠNG  CHÂU


VÀI  LỜI  VỀ  TIỂU  SỬ  KRISHNAMURTI

 

          Krishnamurti đă viết quyển “Dưới Chân Thầy”. Vậy trước khi đọc quyển nầy, thiết tưởng chúng ta nên biết chút ít về Tiểu Sử của Tác Giả.

          Krishnamurti vốn ḍng Bà La Môn, sanh ngày 11 tháng 05 năm 1895 tại Madanapalle là một làng nhỏ thuộc về tỉnh Madras, miền Nam Ấn Độ.

          Tên tộc của Ngài là Jiddu. Ngài lấy tên Thánh là Krishnamurti, bởi v́ theo phong tục miền Nam Ấn Độ, nếu đứa con thứ tám sanh ra là trai th́ phải đặt tên là Krishnamurti, đặng tỏ ḷng kính mến Đức Giáo Chủ Krishna. Ngài là con trai thứ tám.

          Murti hay (Mourti) có nghĩa là: Biểu hiện, trạng thái, dấu hiệu, mà cũng có nghĩa là: Một Mặt của Ba Mặt hay Ba Ngôi Trimourti của Thượng Đế (Shiva, Vishnou, Brahma).

          Krishnamurti có cả thảy 9 anh em. Em trai út tên là Nityananda. Krishnamurti mất mẹ hồi 5 tuổi. Cha của Krishnamurti làm việc ở Bộ Tài Chánh, tánh t́nh hung dữ, quạu quọ, mấy đứa trẻ thường bị đ̣n bọng hơn là được nuôi dưỡng tử tế.

 

ĐỜI  NIÊN  THIẾU  CỦA  KRISHNAMURTI

 

          Krishnamurti là một đứa nhỏ ốm yếu, theo tiếng Việt Nam là ốm ḷi xương sườn. C̣n Nityananda mạnh hơn Krishnamurti nhiều. Khi cha Krishnamurti mất sở, hai anh em thường bị đánh đập, quần áo rách rưới, có ngày đi lang thang đầu đường xó chợ, đói khát giống như những trẻ Phái Thủ Đà La, chớ không phải thuộc về ḍng quí phái Bà La Môn.

 

AI  GẶP  KRISHNAMURTI  TRƯỚC  HẾT ?

 

          Chính ông Ernest Wood, thư kư của Đức Leadbeater nói: “Tôi gặp Krishnamurti trước Đức Leadbeater.”

          Câu chuyện như sau đây:

          “Năm 1906-1907, thường ngày đúng 5 giờ chiều, chúng tôi ra tắm ngoài biển. Có một đám học tṛ nhỏ ra xem chúng tôi bơi lội. Một ngày kia ông Von Manen, Giám Đốc Thư Viện Adyar nói với Đức Leadbeater: “Huynh xem thử mấy đứa nhỏ đó coi có cái chi đặc biệt không?” Đức Leadbeater mở Huệ Nhăn xem sơ qua liền thấy một đứa có một tương lai rực rỡ, phi thường. Ấy là một Con Phụng đang chung lộn với một Bầy Gà. Đứa nhỏ đó là Krishnamurti. Nhưng Ngài ngưng lại, không quan sát thêm. Ngài chờ cha đứa nhỏ cho phép tiếp tục. 

 

KRISNAMURTI  BỊ  THẦY  DẠY  HỌC  ĐÁNH  ĐẬP  TÀN  NHẪN

 

          Vào trường học, Krishnamurti là một đứa tối dạ lại không chịu chăm chỉ nghe lời thầy giảng dạy. Gặp ông thầy hung dữ nên thường bị đánh đập một cách tàn nhẫn. Cha Krishnamurti bèn nói: “Nó không sống lâu đâu.” Ông liền hỏi Đức Leadbeater: “Phải làm sao bây giờ?” Đức Leadbeater nói: “Đừng cho nó học nữa, đem nó về nhà chờ tôi quyết định.”

          Lúc đó Đức Bà A. Besant ở Mỹ Châu. Đức Leadbeater gởi thư cho Bà. Bà chấp nhận làm người đỡ đầu cho hai đứa nhỏ. Bảy, tám vị dạy hai đứa trẻ mỗi ngày vài giờ để sau nầy chúng nó qua Anh tiếp tục đường học vấn. Thường ngày hai đứa nhỏ ở trong pḥng Đức Leadbeater hoặc ở một bên pḥng kế cận với Thầy chúng nó. Đức Leadbeater và Đức Jinarajadasa săn sóc hai trẻ. Chỉ một việc ở gần Đức Leadbeater cũng đủ để giúp phát triển mau lẹ. Đức Leadbeater cho chúng nó uống sữa và ăn trái cây, tuy Krishnamurti không thích ăn trái cây và uống sữa, nhưng cũng phải vâng lời. Đức Leadbeater dạy chúng bơi lội, tập thể dục và đánh Tennis mỗi buổi chiều. Chẳng bao lâu Krishnamurti trở thành một đứa trẻ rất khoẻ mạnh.

 

KRISHNAMURTI  NÓI  CHUYỆN  VỚI  HỒN  MA

 

          Ông Ernest Wood thuật lại rằng ông có chứng kiến Krishnamurti nói chuyện với hồn ma.

          Số là hai vợ chồng người kia có một đứa con mới chết. Hai ông bà tới xin Đức Leadbeater xem coi số phần đứa con trai của ḿnh ra thể nào? Đức Leadbeater t́m được đứa nhỏ, liền cho hai ông bà biết hoàn cảnh của nó. Nhưng hai ông bà muốn nói chuyện với đứa con bằng tiếng Télugu. Đức Leadbeater không biết thứ tiếng đó mà Krishnamurti lại biết. Ngài yêu cầu Krishnamurti làm thông ngôn giữa cha mẹ đứa nhỏ và nó.

          Hai ông bà ngồi trên ghế dựa gần một bên Krishnamurti. Krishnamurti cho đứa nhỏ biết ư muốn của cha mẹ nó. Nó trả lời hay nói cái chi th́ Krishnamurti thuật lại cho cha mẹ biết. Cuộc đàm thoại kéo dài trong nửa giờ và chấm dứt. Kiếp trước Krishnamurti đă khai mở được quyền năng nầy, nên kiếp nầy sử dụng nó rất dễ dàng.

 

KRISHNAMURTI  THEO  ĐỨC    A. BESANT

 

          Sau khi Đức Bà A. Besant từ giă Mỹ Quốc trở về Adyar, đi đâu Bà cũng dắt hai anh em Krishnamurti theo.

          Chính là khi ở Bénarès (Ba La Nại), Krishnamurti bắt đầu viết quyển “Dưới Chân Thầy.”

          Được 16 tuổi Krishnamurti và Nityananda sang Âu Châu, ở ngoại ô Paris rồi sang Anh Quốc.

          Năm 1922 Krishnamurti cùng Nityananda đến California với hy vọng khí hậu tốt tại đây giúp cho Nityananda mau phục hồi sức khoẻ. Nhưng chẳng may năm 1925 Nityananda từ trần. Krishnamurti buồn rầu vô hạn.

          Quí bạn muốn rơ thêm, xin đọc quyển “Krishnamurti, nhà Tâm Lư Học của Thời Đại mới” của tác giả Robert Linsson.

 

CÁCH  GIÁO  DỤC  KRISHNAMURTI

 

          Tương truyền rằng: Đức Bồ Tát bảo Đức Bà A. Besant dạy Krishnamurti học giáo lư Thông Thiên Học, nhưng Krishnamurti không chịu. Đức Bà liền để cho Krishnamurti được tự do để ông tự phát triển lấy, chớ không bắt buộc phải theo một đường lối nào.

          Năm 1933 Đức Bà A. Besant từ trần. Krishnamurti nói về Đức Bà như vầy:

          “Tiến Sĩ A. Besant là mẹ của chúng tôi. Bà chăm nom chúng tôi, lo lắng cho chúng tôi hết ḷng. Có một điều Bà không làm, là Bà không bao giờ bảo chúng tôi: “Hăy làm cái nầy. Đừng làm cái kia.” Bà để cho chúng tôi ở yên một ḿnh. Thái độ ấy khiến tôi hết ḷng kính mến Bà.”

          Thiết tưởng ta cũng nên hiểu tại sao Đức Bà A. Besant không ép buộc Krishnamurti học Thông Thiên Học, ấy v́ trong Thế Giới Huyền Bí nếu ḿnh đưa ra một đề nghị nào mà người ta không ưng thuận th́ chẳng nên ép buộc người phải tuân theo. Một việc làm v́ bị cưỡng bách th́ không có giá trị về đường Tinh Thần. Sự tự do rất hữu ích, đáng quí trọng, song nó phải có giới hạn và có một giá trị tương đối chớ không tuyệt đối.

 

KRISHNAMURTI  THUYẾT  PHÁP

 

          Từ năm 1925 Krishnamurti chu du khắp hoàn cầu để giảng Đạo. Những bài thuyết pháp của Huynh ở Château d’Erie, Camp d’Ommen, Na Uy, Adyar, Auckland (Tân Tây Lan), Madras, Bénarès, Paris, v.v… đều được in ra thành sách và dịch ra nhiều thứ tiếng.

 

CÂU  TRẢ  LỜI  CỦA  KRISHNAMURTI  KHI  NGƯỜI  TA  HỎI:  “NGÀI     PHẢI    ĐẤNG  CHRIST LÂM  PHÀM  KHÔNG ?”

 

          Một người kia đến nghe Krishnamurti nói chuyện rồi hỏi: “Thưa Ngài, Ngài có phải là Đấng Christ lâm phàm không?”

          Krishnamurti trả lời như sau đây: “Hỡi bạn! Bạn nghĩ tôi là ai? Nếu tôi nói tôi là Đấng Christ, bạn lại tạo ra một uy quyền. Nếu tôi nói tôi không phải là Đấng Christ th́ bạn tạo ra một uy quyền khác nữa. Bạn có nghĩ rằng: Chân Lư không có thay đổi ǵ khi bạn đến với tôi, khi bạn hỏi tôi là ai? Bạn không nghĩ đến Chân Lư mà bạn nghĩ đến cái b́nh chứa đựng Chân Lư. Bạn không uống nước trong b́nh mà bạn muốn t́m hiểu cái ǵ đă làm ra cái b́nh đựng nước. Hỡi bạn! Nếu tôi nói tôi là Đấng Christ, c̣n người khác nói tôi không phải là Đấng Christ th́ bạn sẽ nghĩ thế nào? Hăy để nhăn hiệu qua một bên, v́ nó không có giá trị ǵ cả. Hăy uống nước, nếu nước thật tinh khiết. Tôi nói với bạn tôi có nước tinh khiết đó. Tôi có thuốc làm cho nước trở nên tinh khiết, chữa lành bệnh rất tài t́nh. Bạn hỏi tôi là ai? Tôi là vạn vật, tôi là sự sống.” (Thông Thiên Học Hiện Đại).

 

TIỀN  KIẾP  CỦA  KRISHNAMURTI

 

     2.500  NĂM  TRƯỚC  KRISHNAMURTI    ĐỆ  TỬ  CỦA  ĐỨC  THÍCH  CA

 

          Đức Leadbeater mở Huệ Nhăn truy ra 30 kiếp của Krishnamurti. Ngài có viết thành sách. Tôi xin tóm tắt đại ư của Ngài trong kiếp thứ 29 của Krishnamurti:

          “Krishnamurti có tên là Alcyone trong một kiếp trước.

          Năm 620, trước Tây Lịch kỷ nguyên, Alcyone đầu thai tại Ấn Độ.

          Năm 588, trước Thiên Chúa Giáng Sinh, Đức Phật tới thuyết pháp tại chỗ Alcyone ở. Đức Phật giảng về Sự Khổ và Nhân Quả. Alcyone nghe qua rất xúc động, v́ nó trúng vào trường hợp của ḿnh. Lần sau Alcyone tới nghe Phật giải về những Đức Tánh Cần Thiết phải có để bước vào Đường Đạo. Trở về nhà Alcyone thực hành liền những lời của Phật dạy. Trong đời sống hằng ngày Alcyone tỏ ra có nhiều đức tánh cao thượng. Alcyone khuyên người anh em cô cậu là Mizar (Ngày nay đầu thai là Nityananda) tới nghe Phật. Bữa đó Phật thuyết pháp về “Lửa Cháy.” Ngài chỉ một đống lửa đang cháy gần đó và nói: “Ai đụng tới lửa th́ bị lửa đốt. Dục t́nh và các sự ham muốn giống như lửa đó, nó thiêu huỷ tâm can con người. Đối với chúng nó không thể dùng những biện pháp lưng chừng được. Muốn cho một tàn lửa đừng thành ra đám hoả hoạn thiêu huỷ nhà cửa làm cho cảnh vật điêu tàn th́ phải dập tắt nó ngay khi đó. Cũng thế, người ta phải diệt trừ những nết hư tật xấu ở trong ḷng ḿnh. Tới chừng đó tâm con người mới trở nên thanh tịnh và con người mới vững bước trên Đường Đạo.”

          Bài thuyết pháp nầy cảm hoá Alcyone và Mizar vô hạn. Cả hai quyết định ĺa gia đ́nh, bỏ sự nghiệp để theo Phật tu hành, tới thuật cho Phật nghe đời sống của ḿnh và xin nhập môn.

          Phật bèn hỏi: “Hai con dám chắc chắn rằng trong ḷng hai con không c̣n chứa một mảy may giận hờn và oán ghét chăng? Hai con dám chắc chắn rằng hai con rộng ḷng tha thứ cho những kẻ làm cho hai con đau khổ và hai con cũng tha thứ nữa cho kẻ giết chết đứa con yêu quí của hai con chăng? Hai con dám chắc chắn rằng trong ḷng hai con chỉ có sự xót thương tất cả các loài cho tới những kẻ đă hăm hại hai con nữa chăng?”

          Alcyone bèn thưa: “Bạch Phật ! Ḷng con như thế, vợ của anh em cô cậu của con làm hại con mà con đă tha thứ. Con cho anh con tất cả sản nghiệp của con, con không cần dùng nó nữa. Ngày nay con chỉ có một nguyện vọng, dầu cho nó đ̣i hỏi nhiều kiếp. Con qú trước mặt Phật thề rằng: “Con sẽ cố gắng thực hiện nguyện vọng đó. Con muốn theo Phật, con muốn xả thân như Phật để cứu độ nhân loại đang rên siếc, thở than. Phật đă giải thoát cho con khỏi sự đau khổ và dắt con đến cơi an tĩnh đời đời. Con muốn dắt nhân loại đến cơi đó và con xin đem hết những kiếp lai sinh của con lo lắng cho việc nầy cho tới khi nào con thành một Đấng Cứu Thế như Phật vậy.”

          Phật gật đầu tỏ ư bằng ḷng và nói rằng: “Con sẽ được toại nguyện. Ta là Phật, ta chứng minh lời nguyện nầy và từ đây không có cái chi cản trở nó được và nó sẽ thành tựu trong một kiếp tương lai.”

          Nói xong Ngài giơ tay ban ân huệ cho Alcyone, đoạn Ngài xoay lại nói với Mizar: “C̣n con, ngày sau con sẽ theo Ta. Hiện giờ con c̣n nhiều việc phải làm. Hăy lănh sản nghiệp của Alcyone, nó đă thành một vị Đệ Tử mới của Ta. Hăy nhận những cái ǵ nó đă cho con, v́ nó không cần dùng nữa. Những kẻ nào giàu có trong Luật Pháp rồi th́ không cần những của cải ở ngoài. Hăy ăn ở ngay thẳng, nhân từ và đừng quên rằng một ngày kia ngày giờ của con sẽ điểm, phần con sẽ tới.”

          Mizar trở về lo lắng công việc gia đ́nh. Anh ra công khó nhọc tập rèn tánh nết. Từ giàu có anh trở thành nghèo nàn. Anh mất của cải vật chất, nhưng thâu nhận được gia tài thiêng liêng là những đức tánh, chúng chuẩn bị cho anh để sau nầy thành người Phụng Sự nhân loại.

          C̣n Alcyone theo Phật lấy tên là Maitribaladasa nghĩa là Người Phụng Sự Đấng Từ Bi.[3]

          Đức Phật nói: “Con khéo lựa chọn. Tên nầy tốt lắm. Nó tiên tri số phần của con sau nầy.”

          Alcyone nhờ một vị Cao Đồ của Đức Phật là Uranus dạy dỗ. Đức Uranus kiếp sau là Đức Aryasanga. Tàu gọi là Vô Trước. Ngày nay Ngài là Đức Tiên Trưởng Djwal Kul.

          Alcyone từ trần 16 năm trước Đức Phật.”

 

THUYẾT  PHÁP  VỀ  LỬA  CHÁY

 

          Trong kinh sách Phật tôi thấy có ghi hai bài “Thuyết Pháp Về Lửa Cháy.”

          Bài của Đức Phật thuyết pháp cho một ngàn người Djatila, Tín Đồ Thờ Lửa, cầm đầu là Đức Maha Kacyapa (Ma Ha Ca Diếp).

          Một bài Đức Phật thuyết pháp chung cho các Đệ Tử nghe.

 

- 1 -

THUYẾT  PHÁP  VỀ  LỬA  CHÁY  TRÊN  NÚI  GAYA  CHO  MỘT  NGÀN  NGƯỜI  DJATILA  NGHE

(Đại Ư)

 

          Da Ti La các ngươi ơi! Mọi vật đều nóng như lửa. Con mắt cũng nóng như lửa, tư tưởng cũng nóng như lửa, các giác quan cũng nóng như lửa, t́nh dục cũng nóng như lửa.

          Đây là sự giận hờn, đó là sự mê muội, kia là sự ghen ghét. Ngày nào lửa c̣n gặp đồ bổi ngày đó nó c̣n cháy. Như vậy vẫn c̣n măi sự sanh, tử, già yếu, khổ năo, rên siếc, than van, đau đớn, thất vọng và buồn bực. Khi xem xét mấy điều ấy rồi người mến chân lư thấy rơ Tứ Diệu Đế và noi theo Đạo Bát Chánh mà đi. Người ấy không tin con mắt của y, không tin tư tưởng của y, mà cũng không tin cảm giác của y nữa. Y diệt hết các dục t́nh, và sẽ hưởng thảnh thơi. Y trừ được tánh ích kỷ, và đắc Đạo thành Chánh Quả lên Cơi Niết Bàn.”

-         2  -

 

          Bài dưới đây cũng gọi là “Thuyết Pháp Về Lửa Cháy,” nhưng Phật thuyết pháp chung cho các Đệ Tử nghe.

          “Chỗ nào có nóng, tức nhiên chỗ đó có mát. Chỗ nào có ba ngọn lửa dữ dội: Lửa t́nh, lửa oán, lửa mê muội[4] th́ con người phải t́m chỗ đó cách dập tắt lửa đi.

          Các con ơi! Mọi vật đều cháy và cái chi bị cháy đỏ vậy? Ấy là ngũ quan: Tai, mắt, mũi, miệng và tứ chi. Mà thứ lửa nào cháy ngũ quan đó? Ấy là lửa t́nh, lửa oán, lửa mê muội; ấy là sự sanh, sự tử, sự già yếu, bệnh hoạn, khổ năo, than van, rầu rĩ, đau đớn và thất vọng.

          Cơi Trần đang bị lửa cháy, Cơi Trần bị khói lửa bao phủ, Cơi Trần bị lửa đốt tiêu, Cơi Trần đang rung rinh.”


DƯỚI  CHÂN  THẦY

         

          Bây giờ xin bàn qua những điều tôi hiểu biết về quyển “Dưới Chân Thầy.”

LỜI   TỰA

          Với tư cách là một người lớn, tôi được vinh dự viết vài lời giới thiệu cho quyển sách nhỏ nầy, quyển sách đầu tiên của một em trai nhỏ. Kỳ thật xác phàm của em c̣n nhỏ, nhưng Linh Hồn em không nhỏ.

          Đây là một điểm quan trọng.

          Người đời chỉ biết Cơi Trần và kiếp sống nầy, cho nên luôn luôn dựa theo tuổi tác của xác thân mà xét đoán. Trái lại, trong Đạo Đức người ta quư trọng tuổi tác của Linh Hồn, bởi v́ có những Linh Hồn đi đầu thai trước chúng bạn cả trăm, cả chục triệu năm, cho nên có thể nói rằng: “Có những Linh Hồn đă trưởng thành, những Linh Hồn đă già và có những Linh Hồn c̣n trẻ trung, c̣n thơ ấu.”

          Tự nhiên những Linh Hồn đă trưởng thành phải khôn ngoan và sáng suốt hơn những Linh Hồn c̣n bé nhỏ, v́ đă giàu học hỏi và kinh nghiệm. Xin đọc quyển “Chơn Nhơn và Phàm Nhơn” của Đức Leadbeater.

          Hiện nay, ta thấy nhiều đứa trẻ tỏ ra thông minh và tánh t́nh rất tốt hơn chúng bạn nhiều. Điểm đó không có chi lạ, bởi v́ chúng do Luật Nhân Quả tạo ra, chớ không phải ư Trời muốn đứa nhỏ nầy khôn ngoan, đứa nhỏ kia khờ dại; đứa nầy đầu thai làm con nhà giàu, trướng phủ, màn che; đứa khác sanh vào nhà tranh vách lá, cơm không đủ no, áo không đủ mặc.

          Trời không tạo những chuyện bất công như thế đâu.

          Bà Annie Besant là mẹ nuôi của Alcyone, nhưng Bà chỉ gọi ḿnh là chị cả, v́ các Linh Hồn đều là con chung của Đức Thượng Đế, cả thảy đều là anh em với nhau. Những lời Thầy dạy dỗ, Alcyone đem thực hành liền, nội trong 5 tháng anh được Chơn Sư thâu nhận làm Đệ Tử Chánh Thức và chẳng bao lâu anh được Điểm Đạo lần thứ nhứt. Nếu người khác, phải mất mấy chục năm công phu luyện tập, v́ muốn giữ vẹn những giới răn cần phải sửa đổi hết tánh t́nh từ trước đến nay.

          Phải tập làm chủ ba Thể: Thân, Vía, Trí. Phải khắc kỷ từ giờ, từ phút. Đây không phải là việc dễ làm.

          Những lời giáo huấn trong quyển sách nầy vốn của Thầy em dạy cho em để chuẩn bị em được Điểm Đạo.

          Sư Phụ của Alcyone là Đức Đế Quân K.H. Chưởng Quản Cung Thứ Nh́, tức là Cung Đạo Đức và Giáo Dục.

 

ĐIỂM  ĐẠO    G̀ ?

 

          Nói cho dễ hiểu, Điểm Đạo theo nghĩa bóng là giao ch́a khoá của sự hiểu biết để mở cửa các Cơi Trời tuỳ theo cấp bậc, do Máy Huyền Vi tác động.

          Một nghĩa khác nữa, Điểm Đạo là khởi sự một đời sống mới, trong đó Phàm Nhơn là phản ảnh của Chơn Nhơn và Chơn Nhơn bắt đầu vận dụng quyền năng của Chơn Thần.

          Xin Điểm Đạo là xin dự vào một cuộc thi. Thi đậu mới được Điểm Đạo.

          Muốn vào cấp bậc nào, thí sinh phải tỏ ra ḿnh đủ đức và đủ tài do Luật Trời qui định về cấp bậc đó.

          Đức đây là những tánh tốt.

          C̣n tài là khả năng thực hành công việc của Thiên Đ́nh sẽ giao phó cho ḿnh trong tương lai thuộc về cấp bậc của ḿnh và cũng phải tỏ ra ḿnh hiểu biết rành rẽ về Cơi mà ḿnh đương hoạt động.

          Dầu tài có kém đôi chút mà đức hạnh lại khá cao vẫn được Quần Tiên Hội thâu nhận, v́ Thiên Đ́nh trọng Đức hơn Tài.

          Điểm Đạo đây là Điểm Đạo lần thứ nhứt.

          Trong chu kỳ nầy có 5 lần Điểm Đạo:

          1- Điểm Đạo lần thứ nhứt tại Cơi Trung Giới (Plan Astral), vị Đệ Tử ở trong Cái Vía.

          2- Điểm Đạo lần thứ nh́ tại Cơi Hạ Thiên (Plan Mental Inférieur), 4 Cảnh thấp của Cơi Thượng Giới hay là Cơi Trí Tuệ. Vị Đệ Tử ở trong Hạ Trí.

          3- Điểm Đạo lần thứ ba tại Cơi Thượng Thiên (Plan Mental Supérieur), 3 Cảnh cao của Cơi Thượng Giới hay là Cơi Trí Tuệ. Vị Đệ Tử ở trong Thượng Trí.

          4- Điểm Đạo lần thứ tư tại Cơi Bồ Đề (Plan Bouddhique). Vị Đệ Tử ở trong Thể Bồ Đề hay là Kim Thân.

          5- Điểm Đạo lần thứ năm tại Cơi Niết Bàn (Plan Nirvanique ou Nirvana). Vị Đệ Tử ở trong Tiên Thể hay là Thể Thiêng Liêng.

          a- Người được Điểm Đạo lần thứ nhứt Ấn Giáo gọi là Parivrajaka là Người Đi Ta Bà, có nghĩa là Chơn Sư sai đi đâu th́ đi ngay tới đó để làm việc liền. Phật Giáo gọi là Sowani hay là Sotapanna hoặc là Sohan, Tàu dịch là Tu Đà Huờn.

          Sowani có nghĩa là Người Đă Nhập Lưu (nói bóng dáng). Người Nhập Lưu vào ḍng tiến hoá của các hạng Siêu Phàm. Sang tới bờ bên kia là Đắc Đạo thành Chánh Quả, thoát đoạ Luân Hồi.

          Vị Tu Đà Huờn phải chặt đứt 3 chướng ngại sau đây để được Điểm Đạo lần thứ nh́:

          1- Sakayadithi: Phàm Nhơn là mộng ảo.

          2- Vichikichcha: Sự hoài nghi, không chắc ư, tức là không tin có Luân Hồi, Nhân Quả.

          3- Silabhataparamasa: Mê tín, tin tưởng dị đoan.

          b- Vị Đệ Tử được Điểm Đạo lần thứ nh́ Ấn Giáo gọi là Koutichaka: Người dựng được một túp lều, người đi tới chỗ yên tịnh. Phật Giáo gọi là Sakridagamin: Tư Đà Hàm hay là Nhứt Lai, danh từ nầy ám chỉ vị Tư Đà Hàm chỉ cần đầu thai một kiếp nữa là tới bậc La Hán. Vị La Hán được quyền ở lại Cơi Bồ Đề tu luyện để lên tới bậc A- Sơ- Ca (Aseka), gọi là Chơn Tiên. Vị A- Sơ- Ca thành Chánh Quả, không c̣n bị bắt buộc đi đầu thai nữa.

          Vị Tư Đà Hàm không có chướng ngại nào để chặt đứt. Nhưng  phải lo luyện tập tánh t́nh càng ngày càng thêm tốt đẹp. Thời kỳ nầy nguy hiểm hơn hết. Vị Tư Đà Hàm trí hoá mở mang mau lẹ, rộng sâu và dùng được nhiều quyền năng siêu việt. Nếu trổ tánh kiêu căng và lạm dụng những phép thần thông ắt sẽ bị trả quả nặng và đầu thai nhiều kiếp mà không tiến hoá, nghĩa là không được Điểm Đạo lần thứ ba.

         

4  GIAI  ĐOẠN  GIỮA  2  KỲ  ĐIỂM  ĐẠO

 

          Luật Trời qui định rằng: Giữa hai kỳ Điểm Đạo những kết quả của việc làm phải hiện ra rơ rệt; điều nầy chứng tỏ có sự thay đổi trong Tâm Hồn.

          Đặc tính của người được Điểm Đạo là phải Hoàn Thành Công Việc ḿnh đang thực hành, chớ không được bỏ dở nửa chừng.

          Có 4 giai đoạn giữa 2 kỳ Điểm Đạo:

          Giai đoạn thứ nhứt gọi là Maggo (Mac- Go). Trong giai đoạn nầy vị Đệ Tử cố gắng đương đầu với những thử thách đưa tới và mở mang những đức tánh cần thiết.

          Giai đoạn thứ nh́ gọi là Pha La (Phala: Fruit), nghĩa là Quả,  Trái. Ở giai đoạn nầy vị Đệ Tử thấy kết quả sự luyện tập của ḿnh hiện ra rơ ràng, đă làm việc đắc lực và đứng vững tại vị trí của ḿnh.

          Giai đoạn thứ ba là Bhavagga (Ba- Hoắc- Ga). Đến đây kết quả đă đến mức tột bực cao.

          Giai đoạn thứ tư là Gotrabhou (Gô- Tra- Bu). Tới giai đoạn chót nầy vị Đệ Tử xứng đáng được Điểm Đạo lần kế đó. Luôn luôn vị Đệ Tử phải được Chơn Sư dẫn tới tŕnh diện với Quần Tiên Hội để xin Điểm Đạo.

          Nên biết rằng Đường Đạo gay go, hiểm trở, ở mỗi chặng đều có chướng ngại dựng lên. Nếu không vượt qua khỏi th́ bị chận đứng, không tiến tới được nữa. Thế nên người Đệ Tử phải nắm nắm nớp nớp, khi đứng trước vực sâu, giá mỏng. Nếu buông lung, sẽ thất bại.

          Tôi tưởng cũng cần nói rằng: Thiên Đ́nh chấm điểm ta không do sự thành công hay thất bại của ta, mà lại xét đoán cách ta làm việc và cách ta phản ứng với sự việc đưa tới. Việc làm trọng hệ hay không trọng hệ chẳng cần thiết.

 

ĐIỂM  ĐẠO  LẦN  THỨ  BA

 

          Vị Đệ Tử được 3 lần Điểm Đạo Ấn Giáo gọi là Hamsa: Thiên Hạc. Tục truyền rằng: Con Hạc đứng trước chậu đựng sữa pha nước, nó phân biệt được cái nào sữa, cái nào nước. Nghĩa là bậc Hiền Triết đánh đúng giá trị của người và vật không sai lầm.

          Hamsa cũng được coi như một h́nh thức của chữ So Ham, nghĩa là “Tôi là Ngài” (Je suis Cela).

          Phật Giáo gọi vị được Điểm Đạo lần thứ ba là Anagamin: A-Na-Hàm hay là Bất Lai; bởi v́ nội trong kiếp nầy vị A-Na-Hàm sẽ lên tới bực La-Hán. Và như vừa nói trên đây, vị La-Hán được miễn khỏi phải đầu thai ở Cơi Trần nữa.

 

ĐIỂM  ĐẠO  LẦN  THỨ 

 

          Vị A-Na-Hàm phải trừ tuyệt 2 chướng ngại thứ tư và thứ năm:

          4- Kamaraga: Dục t́nh do giác quan sanh ra.

          5- Patigha: Giận hờn, thù oán.

          Tới bậc nầy rồi đâu c̣n say hoa đắm nguyệt hay là nổi nóng, múa tay, trợn mắt, vỗ bàn, đập ghế như kẻ thường nhân. Tuy nhiên, vật chất có quyền năng quyến rủ phi thường. Nó trổi những khúc nhạc du dương làm mê loạn tâm thần, chớ nên để lọt vào tai, gọi là ái t́nh muôn mặt. Nếu không đề pḥng th́ e hồ thu nổi sóng, con thuyền trôi giạt phương xa; phải mất th́ giờ và vất vả lắm mới ghé được vào bến cũ. Một phút yếu ḷng, ngàn năm ân hận. Những Vị đă sang tới Bờ Giác đều cảnh giác chúng ta phải cẩn thận từng li từng tí, kẻo sa vào cạm bẫy của kẻ nghịch đă dàn sẵn ở mỗi chặng đường. Có nhiều kinh nghiệm chừng nào càng sợ nhiều chừng nấy.

 

 

 

TRẠNG  THÁI  A  TỲ

 

          Ngoài ra, thí sinh phải vào một trạng thái gọi là Avitchi: A-Tỳ, nghĩa là không có sự rung động. Thí sinh cảm thấy anh bị loại ra khỏi ṿng Trời Đất, trơ trọi một ḿnh, không thầy, không bạn, không không gian, không thời gian. Ở trong trạng thái ấy một phút dài bằng một ngàn hay là một muôn năm ở ngoài Thế Gian.

          Nếu thí sinh chịu không nổi, bước ra ngoài th́ chịu rớt. Kỳ sau phải thi lại.

          Đức Leadbeater có nói: “Sự kinh nghiệm nầy ghê tởm hơn hết trong những kinh nghiệm mà con người phải trải qua. Chịu đựng được, có hai điều hay:

          Một là mở rộng ḷng từ bi, chia sớt số phần của những anh Bàng Môn Tả Đạo bị đày vào chốn nầy, v́ tội ác của mấy ảnh đă làm trong những kiếp quá khứ mà không biết ăn năn chừa cải.

          Hai là sự kinh nghiệm nầy dạy con người phải thật gan dạ, phải tự tín, phải đứng vững một ḿnh, đừng trông cậy vào sự giúp đỡ của ngoại nhân, phải chắc chắn ḿnh với Thượng Đế là Một, đâu đâu cũng có Ngài. Cảm thấy ḿnh lẻ loi là mộng ảo.

 

NHỮNG  VỊ  ĐƯỢC  ĐIỂM  ĐẠO  LẦN  THỨ 

 

          Những vị được Điểm Đạo lần thứ tư Ấn Giáo gọi là Parahamsa, nghĩa là Con Hạc Lớn: Đại Thiên Hạc.

          Phật Giáo gọi là Arhat: La-Hán.

          Arhat có nghĩa là Đại Đức, Tôn Giả. Vị La-Hán mới đi phân nửa Đường Đạo. Ngài phải phá tan 5 chướng ngại chót mới được hoàn toàn giải thoát.

          Năm chướng ngại đó là:

          6- Rouparaga: Muốn sống trong Cơi có h́nh dạng.

          7- Arouparaga: Muốn sống trong Cơi vô h́nh, không có h́nh dạng. Phật Giáo gọi Cơi nầy là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, tức là Cơi Thiên Đường.

          8- Mano: Kiêu hănh.

          9- Ouddhachcha: Cái Trí c̣n xao động, Tâm chưa yên tịnh.

          10- Avidya: Vô minh.

          Mười chướng ngại nầy Phật Giáo gọi là Samyojanas, nghĩa là xiềng xích buộc trói con người vào bánh xe Luân Hồi.

          Bốn bậc Đệ Tử được Điểm Đạo là bốn quả vị đầu tiên của Quần Tiên Hội hay là Thiên Đ́nh. Phật Giáo gọi là Tứ Thánh. Thường thường vị Tu-Đà-Huờn phải tu trong 7 kiếp mới tới bậc La-Hán. C̣n La-Hán phải tu thêm 7 kiếp nữa mới được làm một vị Chơn Tiên (Aseka). Tất cả là 14 kiếp. Tuy nhiên thời gian nầy có thể rút ngắn lại.

          Sau khi chặt đứt được chướng ngại chót là Vô Minh, vị La-Hán đă hoàn toàn sáng suốt. Ngài được 5 lần Điểm Đạo. Ấn Giáo gọi Ngài là Jivanmoukta hay là Atila, Linh Hồn đă được hoàn toàn giải thoát. Phật Giáo gọi là Aseka (A-Sơ-Ca), có nghĩa là không c̣n làm Đệ Tử, không c̣n học hỏi cái chi trong Dăy Địa Cầu nầy nữa. Đối với người đời th́ Ngài toàn năng, toàn thiện, toàn giác.

          Ngài liên lạc mật thiết với Ngôi Thứ Ba của Đức Thái Dương Thượng Đế. Nhờ vậy Ngài mới được phép thâu Đệ Tử. Ngài ghé mắt vào vấn đề nào th́ biết trọn vẹn về vấn đề đó, không sót một chi tiết nhỏ nhặt nào cả. Ngài đă đạt được mục đích đă định sẵn cho con người trong Thái Dương Hệ nầy. Ngài đă vào Hạng Siêu Phàm. Người ta gọi Ngài là Chơn Tiên.

 

AI  ĐIỂM  ĐẠO ?

 

          Tại Quả Địa Cầu nầy chỉ có một Đấng Duy Nhất Chí Tôn cầm quyền Điểm Đạo mà thôi. Ấy là Đức Ngọc Đế. Ngài là Chủ Tể của Quần Tiên Hội.

          Ngài thay mặt cho Đức Thái Dương Thượng Đế cai trị Quả Địa Cầu nầy và chăm sóc sự sanh hoá, tiến hoá các loài vật, từ ba Loài Tinh Chất cho tới Loài Kim Thạch, Thảo Mộc, Cầm Thú, Người, các Hạng Thiên Thần và các Loài mà con người không biết, mà cũng không bao giờ tiếp xúc được.

          Không có sự ưng thuận của Ngài th́ không ai được nhận vào Quần Tiên Hội.

          Trong hai kỳ Điểm Đạo đầu tiên, Lần Thứ Nhứt do Đức Bồ Tát hay Đức Đế Quân chưởng quản Cung Thứ Nhứt hay Cung Thứ Nh́ thay mặt Ngài và nhân danh Ngài để Điểm Đạo. Ở Lần Thứ Nh́ là Đức Bồ Tát. Đến Lần Thứ Ba, Thứ Tư th́ Ngài Điểm Đạo hay là Ngài nhờ một trong ba Vị Độc Giác Phật, Đệ Tử của Ngài Điểm Đạo.

 

7  ĐƯỜNG  TIẾN  HOÁ  TRƯỚC  MẶT   CÁC  VỊ  SIÊU  PHÀM

                                                               

          Đường Đạo hay là Đường Tiến Hoá có phải chấm dứt tại chỗ 5 lần Điểm Đạo nầy hay không?

          Không. Nó vốn vô tận vô biên. Trước mặt các Vị Siêu Phàm có 7 Đường Tiến Hoá khác nhau, các Ngài có quyền lựa chọn Con Đường hạp với ḿnh để đi theo.

          1- Hoặc nhập vào Niết Bàn tu hành thêm và không biết bao nhiêu tỷ năm sau sẽ thành một Vị Avatar hay là Hoá Thân của Đức Thượng Đế trong một Vũ Trụ khác. Người ta gọi là Mặc Áo Dharmakaya (Đạt-ma-cai-da), Tàu dịch là Pháp Thân.

          2- Hoặc nhập vào Cơi Niết Bàn trong một Trạng Thái Thiêng Liêng, gọi là Sambhogakaya (Sam-bô-ga-cai-da), không biết nghĩa là chi, v́ có nhiều nghĩa.

          3- Hoặc nhập vào Hạng những Vị Nirmanakaya (Niệt-ma-na-cai-da) sanh Thần Lực để cho Nhân Viên của Quần Tiên Hội dùng độ đời. Nhiều vị Đệ Tử của Đức Phật khi xưa theo con đường nầy.

          4- Hoặc theo đường tiến hoá của các vị Đại Thiên Thần.

          5- Hoặc dự vào việc tạo lập Dăy Hành Tinh Thứ Năm, sau thế cho Dăy Địa Cầu của chúng ta là Dăy Thứ Tư.

          6- Hoặc nhập vào Bộ Tham Mưu của Đức Thái Dương Thượng Đế.

          7- Hoặc giữ Xác Phàm, lănh một chức vụ trong Quần Tiên Hội để lo cho sự tiến hoá của các loài vật trên Địa Cầu.

          Em đă nhớ lại để viết ra - một cách chậm chạp và khó nhọc, v́ năm ngoái tiếng Anh của em chưa được giỏi như bây giờ.

          Phần lớn quyển sách nầy chính là lời của Thầy em, c̣n những lời nào không phải là lời của Ngài th́ cũng là ư tưởng của Ngài được gói ghém trong lời học tṛ của Ngài. Có hai câu bị bỏ sót, Ngài đă viết thêm vào. Ở hai chỗ khác, thiếu một chữ, Ngài đă điền thêm. C̣n ngoài ra th́ quyển sách nầy hoàn toàn là tác phẩm của Alcyone,[5] món quà đầu tiên của em biếu cho đời.

          Đức Bà A. Besant viết bài tựa nầy tháng chạp năm 1910, thế th́ năm ngoái tức là năm 1909.

 

ALCYONE  VIẾT  QUYỂN “DƯỚI  CHÂN  THẦY” CÁCH  NÀO ?

 

          Đức Leadbeater thuật chuyện nầy trong quyển “Chơn Sư và Thánh Đạo,” tóm tắt như sau đây:

          “Tôi được lịnh mỗi đêm đem Alcyone đến nhà Chơn Sư, mỗi lần Chơn Sư giảng dạy Alcyone lối 15 phút, xong rồi Ngài tóm tắt những điểm chánh trong một vài câu để Alcyone sáng nhớ lại, viết ra, và học thuộc ḷng. Lúc đó Alcyone chưa giỏi tiếng Anh như bây giờ.

          Khi Alcyone đi theo Đức Bà A. Besant đến Bénarès em viết thơ về Adyar cho tôi, xin tôi gởi hết những toát yếu đó cho em.

          Tôi tom góp lại và đánh máy. Khi xem lại tôi thấy một phần lớn chính là lời của Chơn Sư. Muốn chắc ư không lầm lạc trong sự chép, tôi đem bản thảo lên Đức Thầy Kuthumi và xin Ngài đọc lại. Chơn Sư xem qua, đổi một, hai chữ ở chỗ nầy, chỗ kia, thêm vài câu mà tôi nhớ có nghe Chơn Sư nói và Alcyone lại quên đi, Ngài cũng có thêm vài chữ để liên kết và giải nghĩa.

          Xong rồi Ngài nói: “Cái nầy đúng, có thể dùng được. Nhưng chúng ta cần đem tŕnh cho Đức Bồ Tát Di Lạc xem.”

          Đức Bồ Tát đọc xong, Ngài chấp thuận và nói: “Hai Vị nên làm một quyển sách nhỏ xinh đẹp để giới thiệu Alcyone cho người đời biết.”

          Thật ra Chơn Sư và tôi không có ư định giới thiệu Alcyone với Thế Tục, chúng tôi tưởng không nên để cho những luồng tư tưởng tập trung vào một đứa bé mới 13 tuổi c̣n kém giáo dục và đức dục. Nhưng trong Thế Giới Huyền Bí chúng tôi thi hành mạng lịnh của Bề Trên, v́ thế sáng ra bữa sau quyển “Dưới Chân Thầy” được giao liền cho nhà in.”

 

ĐỨC  LEADBEATER  ĐEM  BẢN  THẢO  LÊN  NHÀ  CHƠN    CÁCH  NÀO ?

 

          Đức Leadbeater và Alcyone ở tại Adyar (Madras), Vị Chơn Sư ở Tây Tạng, cách xa muôn vạn dậm. Ngài và Alcyone mỗi đêm Xuất Vía đến nhà Chơn Sư.

          Việc Ngài đem bản thảo đến Chơn Sư không biết rơ là Ngài dùng cách nào.

          Có ba phương pháp thông thường:

          1- Làm cho bản thảo mất sức nặng, rồi dùng tư tưởng đưa nó đi tới đâu cũng được.

          Phương pháp nầy 80 ngàn năm trước các vị Đạo Sư đă dùng để đem những tảng đá nặng mấy chục tấn lên cao trên trăm thước để xây Kim Tự Tháp Khéops.

          Chính là năm 1860 ông Kỹ Sư Keely người Mỹ đă chế được một cái máy gọi là máy Phân Tán (Appareil désintégrateur). Ông lấy một sợi dây quấn vào một ống sắt dài nặng mấy ngàn kư. Ông cho cái máy nầy chạy và truyền qua ống một thứ lực làm cho cái ống nầy nhẹ như cái nút ve, lấy một ngón tay đưa nó đi tới đâu cũng được. Lực nầy không biết phải đặt tên chi cho đúng, tạm gọi là Lực Dĩ Thái (Force inter éthérique).

          2- Làm một cánh tay giả bằng Chất Dĩ Thái rồi cầm quyển sách đem đi, cũng như ta thấy một cái đèn th́nh ĺnh đi dạo chung quanh pḥng rồi trở về chỗ cũ. Chính là Hồn Ma phải làm bàn tay giả bằng Chất Dĩ Thái cầm đèn đi.

          Trong khi Cầu Cơ gọi là Cầu Tiên người ta thấy cây viết tự viết ra chữ. Kỳ thật là người khuất mặt làm bàn tay giả bằng Chất Dĩ Thái cầm cây viết để viết.

          3- Đem quyển sách theo Bề đo Thứ Tư, Đệ Tứ Thứ Nguyên Không Gian (4è Dimension) tới đâu cũng được.

          Những vật ở trung tâm mặt trời theo Bề đo Thứ Tư nầy xuống ngay trung tâm Trái Đất, không xuyên qua mặt đất.

          Theo Bề đo Thứ Tư các Hành Tinh đều liên lạc mật thiết và gần nhau, chớ không phải xa nhau như mắt phàm ta thấy.

 

TẠI  SAO  ĐỨC  ĐẾ  QUÂN  K.H.  LẠI  RA  CÔNG  DẠY  ALCYONE ?

 

          Thiết tưởng nên biết rằng: Quả Địa Cầu chia ra nhiều Khu Vực, mỗi Khu Vực gồm cả chục triệu Sanh Linh, từ các Hạng Thiên Thần, Con Người, Thú Vật, Thảo Mộc, Kim Thạch cho tới các Loài mà Con Người không bao giờ thấy.

          Một Đấng Cao Cả cai quản một Khu Vực và chịu trách nhiệm sự tiến hoá của những Nhân Vật ở trong Địa Phận của ḿnh. Mỗi Vị cần làm sao trong một thời gian nào đó, các Loài Vật ở trong Địa Phận của ḿnh cai quản phải đi tới mức độ tiến hoá đă ghi sẵn trong Thiên Cơ. Các Ngài hiểu rơ phong tục tập quán và tŕnh độ hiểu biết của dân chúng ở trong Khu Vực của các Ngài. Các Ngài thấy những sự hành động của chúng ta như một cuốn sách vạch sẵn. Các Ngài làm việc không nghỉ, không ngừng, có khi phải tập trung tư tưởng cả ngày lẫn đêm vào việc đang làm. Các Ngài không rảnh rang, trừ ra vài Vị thâu nhận Đệ Tử để giáo hoá, ta gọi là Chơn Sư. Nếu các Ngài ra công dạy dỗ như trường hợp của Đức Đế Quân K.H. đối với Alcyone chẳng hạn, ấy v́ các Ngài thấy công dạy dỗ nầy không uổng công. Vị Đệ Tử giúp đời, đem ánh sáng Chơn Lư cho muôn vạn người khác và bù lại được thời gian các Ngài bỏ ra để đào tạo y. Không vậy th́ không khi nào các Ngài phí sức để huấn luyện y. Công việc của các Ngài nặng nhọc và lớn lao vô cùng. Ngoài ra các Ngài c̣n phải học hỏi và luyện ḿnh để tiến đến những cấp bậc cao siêu hơn.

          Trước đây, tôi có thuật chuyện Alcyone 2.500 năm trước đă qui y với Phật và dày công tu luyện, cho nên kiếp nầy Đức K.H. mới d́u dắt Alcyone. Tưởng cũng phải nói thêm rằng: Cả trăm ngàn năm trước, hồi c̣n ở tại Châu Atlantide, Alcyone đă được các Đấng Cao Cả chăm nom rồi, v́ những Quả Lành của Alcyone đă tạo ra lúc Alcyone c̣n ở Dăy Hành Tinh Thứ Ba là Dăy Nguyệt Cầu, kể ra đă mấy trăm triệu năm trước.

          Nhưng các Ngài chờ tới kiếp nầy Alcyone hội đủ các Đức Tánh nên mới cho bước vào Cửa Đạo.

          Đây là Luật Nhân Quả, chớ trên Thiên Đ́nh không hề có một mảy may tư vị.

          Thiết tưởng người học Đạo nên biết thêm điều nầy nữa. Thí dụ một vị Đệ Tử kia kiếp trước đă được Điểm Đạo lần thứ nhứt, kiếp nầy đầu thai lại có phải là anh được Điểm Đạo lần thứ nh́ không? Không, không  phải như thế. Kiếp nầy anh có ba Thể: Xác Thân, Vía, Trí mới. Thường thường chúng nó bị cách nuôi dưỡng của cha mẹ và hoàn cảnh biến đổi, lănh cái xấu th́ nhiều, c̣n cái tốt th́ ít. Anh phải khắc kỷ và ra công luyện tập ngày đêm. Trước hết anh phải vào Hạng Đệ Tử Nhập Môn, Đệ Tử Chánh Thức, Con Của Thầy, rồi sau mới được Điểm Đạo lần thứ nhứt trở lại. Bốn bậc Đệ Tử đều phải tuân theo luật lệ nầy, trừ ra Chơn Sư, nghĩa là mỗi kiếp vị Đệ Tử đều phải được Điểm Đạo trở lại, bởi v́ ba Thể: Xác Thân, Vía, Trí đều mới.

          Cũng như Alcyone, lúc c̣n nhỏ bị ông thầy hung dữ và người cha lỗ măng, cộc cằn thường ngày đánh đập, chưởi mắng, bỏ đói, nên ba Thể: Thân, Vía, Trí bị hư rất nhiều, v́ Alcyone là một đứa trẻ dễ xúc động.

          Nhờ căn lành nên Alcyone gặp Đức Leadbeater, Ngài đào luyện anh theo phương pháp Bí Truyền, ba Thể của anh trở lại tốt, nhưng không được hoàn toàn đẹp đẽ như ư muốn của các Đấng Cao Cả. Đây là điều vô cùng đáng tiếc.

 

  LẼ  NÀO  TIÊN  TRƯỞNG  BIẾT  ĐƯỢC  TR̀NH  ĐỘ  TIẾN  HOÁ  CỦA  CÁC  LOÀI  TRONG  ĐỊA  PHẬN  CỦA  NGÀI  CAI  QUẢN ?

 

          Điểm nầy tôi tưởng cũng cần giải nghĩa ra. Chúng ta không quan niệm được tại sao Tiên Thánh lại biết được điều lành hay điều dữ của ta đă gây ra.

          Thật sự tư tưởng, ư muốn, lời nói, việc làm của ta đều có h́nh dạng. Chẳng những chúng nó mà thân h́nh và y phục của chúng ta đều có ghi h́nh ảnh trên chất Tiên Thiên Khí Akasa (A-Ca-Sa). Những h́nh ảnh nầy, Pháp Môn gọi là Clichés Akasiques, vẫn c̣n cho tới chừng nào Thái Dương Hệ nầy tan ră chúng nó mới tiêu mất. Người có mắt Thánh nh́n vào Tiên Thiên Kư Ảnh sẽ biết được những kiếp trước của ta, những điều của ta làm, từ thiện hay độc ác.

          Hăy coi! Con nhện bủa lưới bao phủ ḿnh nó như thế nào th́ con người gây ra Nhân Quả và dính mắc với chúng nó như thế ấy.

          Những hiện tượng xảy ra từ Khai Thiên, Tịch Địa hay là lúc sanh hoá Thái Dương Hệ nầy đều được ghi trên Tiên Thiên Khí. Vị nào mở được Huệ Nhăn sẽ thấy rơ ràng.

          Các vị Thánh Hiền thuở xưa đều biết điều nầy, song v́ các Ngài không biết làm sao giải thích cho thiên hạ thời đó hiểu, nên chỉ dạy họ phải sợ Trời mà thôi.

          Trong Minh Tâm Bửu Giám có mấy câu sau đây:

          1- Tử viết: “Vi thiện giả, Thiên báo chi dĩ phước. Vi bất thiện giả, Thiên báo chi dĩ  hoạ.”

           Đức Khổng Tử dạy rằng: “Làm Lành, Trời lấy cái Phước trả lại. Làm không Lành, Trời lấy cái Hoạ trả lại.”        

          2- Từ Thần Ông: “Thiện hữu, thiện báo; ác hữu, ác báo; nhược hoài bất báo thị thần vị đáo.”

          Làm Lành th́ có Lành trả lại; làm ác th́ có ác trả lại; nếu chưa báo ứng th́ do chưa tới ngày giờ.”

          Hai câu nầy diễn tả rơ ràng về cách Luật Nhân Quả  báo ứng.

 

VỀ  THIÊN 

 

          Huyền Đế thuỳ huấn: “Nhân gian từ ngữ, Thiên văn như lôi, Ám thất khuy tâm, Thần mục như điện.”

          Lời Huyền Đế dạy răn đời: “Ở Thế Gian lời nói riêng tư, Trời nghe như sấm. Ở trong nhà tối, ḷng xấu tưởng quấy, mắt Thần thấy rơ như chớp.”

          Lời nói riêng tư rất nhỏ mà tại sao Trời lại nghe như sấm?

          Cần phải mở Huệ Nhăn và Huệ Nhĩ mới biết câu nầy đúng với sự thật.

          Thuở xưa, không ai tin lời của ông Huyền Đế đă dạy, nhưng ngày  nay có thể chứng minh được điều nầy. Ta chỉ vặn máy thu thanh đúng với làn sóng điện phát ra từ đài nào ở ngoại quốc th́ ta nghe được tin tức loan đi. Muốn nghe nhỏ cũng được, hay nghe lớn cũng được, không khó khăn chút nào. Người ta nói: “Đây là nhờ điện chuyển di lời nói,” nhưng người ta đă quên rằng: Điện Trời c̣n mạnh hơn không biết mấy trăm ngàn lần điện của con người làm ra.

          Lời nói ghi trên Tiên Thiên Khí A-Ca-Sa không khác nào tiếng ca được thâu vào dĩa hát. Dầu cho lời nói thốt ra từ đời Tối Thượng Cổ đi nữa, nếu biết phương pháp sẽ nghe lại rơ ràng. Điều nầy không thể giải thích cho người thường hiểu. Phải tu hành tới bậc Tư-Đà- Hàm sắp lên mới dùng được quyền năng nầy.

          Câu thứ nh́: Tại sao trong nhà tối, mắt Thần thấy ḷng dạ xấu của ta như điện?

          Phải hiểu như vầy: Đừng nói ở trong tối không ai thấy, không ai biết ḿnh đang tính toán việc sai quấy trong ḷng. Thần Thánh thấy rơ điều đó sáng rơ như chớp nháng.

          Đúng vậy, tư tưởng và ư muốn có h́nh dạng, và màu sắc. Người có Huệ Nhăn thấy rơ như ban ngày các điều ấy.

          Con người giấu giếm với nhau được, chớ giấu giếm Trời Đất, Quỉ Thần được sao?

          V́ lẽ nầy mà các Đạo Sư khuyên con người, nhất là những người chí nguyện phải Hết Sức Chơn Chánh, Ngay Thật. Không ai chỉ mối Đạo cho kẻ giả dối.

          Chúng ta có thể khoe ḿnh, dối người, nhưng có thể dối lương tâm ḿnh và dối Quỉ Thần được hay không? Nói chi là dối Trời Đất, Tiên Thánh. Cũng v́ lư do nầy cho nên trên ngưỡng cửa Thánh Điện Delphes có khắc câu châm ngôn: “Ngươi hăy biết ngươi rồi ngươi sẽ biết Vũ Trụ và các Vị Thượng Đế.”

          Chúng ta c̣n vô minh, nên c̣n phạm nhiều tội lỗi mà không ngờ. Hăy phục thiện, có lỗi nên lo nhận lỗi, kế đó lo sửa đổi cái dở ra cái hay, cái xấu ra cái tốt, cái dữ ra cái hiền. Như thế trong một thời gian sau, tâm trí sẽ mở mang, và ánh sáng Chân Lư sẽ lần lần hiện ra cho chúng ta thấy.

          Cầu xin quyển sách nầy giúp ích cho kẻ khác cũng như giáo lư được học trực tiếp với Thầy đă giúp ích cho Alcyone vậy; đó chính là ước vọng của em khi em cho ra quyển sách nầy. Nhưng những lời giáo huấn ấy chỉ có kết quả khi ta phải thực sự ăn ở như vậy, cũng như Alcyone vẫn hằng tuân theo từ khi Thầy bắt đầu dạy em. Nếu noi theo gương nầy cũng như noi theo lời giới răn th́ Cửa Đạo sẽ mở rộng, và độc giả, cũng như tác giả, sẽ được đặt chân trên Đường Đạo.

          Đây là lời cầu chúc của Đức Bà A. Besant, nhưng chúng ta nên để ư tới những danh từ: “Vẫn hằng tuân theo, noi theo gương nầy, noi theo lời giới răn, v.v…”

          Tại sao vậy? Bởi v́ thường Tín Đồ các Tôn Giáo chỉ giữ những giới răn cho có lệ.

          Thử hỏi: Ngũ Thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, được bao nhiêu nhà Nho tuân theo triệt để, hay là học sách Thánh Hiền chỉ để nói chuyện trong mấy đám tiệc tùng, tỏ ra ḿnh hiểu xa biết rộng. Biết là một việc, hành là một việc khác nữa.

          Ngũ Giới và Bát Chánh Đạo của Phật dạy đă 2.500 năm nay, trong 600 triệu Phật Tử hầu hết thích tụng kinh, đọc kệ, chớ không ra công luyện tập để trau giồi Tâm Tánh cho thật tốt hầu học được Chân Truyền. Chẳng riêng ǵ Nho Giáo, Phật Giáo cho đến Ấn Giáo, Bà La Môn Giáo, Công Giáo, Hồi Giáo, v.v…, cũng không tránh khỏi điều nầy được.

          Về Yoga cũng vậy. Muốn học loại Yoga nào cũng phải giữ vẹn hai điều kiện đầu tiên: Yama và Niyama là Giới Cấm và Qui Luật.

 

YAMA :  GIỚI  CẤM

 

          Yama gồm 5 Cấm:

          1- Không làm hại người và vật, không hung bạo từ trong tư tưởng, ư muốn, cho tới lời nói và việc làm.

          2- Ngay thật, không nói dối bất cứ dưới h́nh thức nào.

          3- Không trộm cắp, phải chân chánh, ngay thẳng.

          4- Tinh khiết, tuyệt dục từ trong tư tưởng.

          5- Thanh bần, không v́ tư lợi.

 

NIYAMA :  QUI  LUẬT

 

          Niyama gồm 5 điều:

          1- Trong sạch từ trong thâm tâm cho tới bên ngoài: Thân thể, y phục.

          2- An phận.

          3- Khổ hạnh.

          4- Chủ trị Bản Ngă (Có chỗ để: Kỷ luật tư tưởng, làm chủ Cái Trí).

          5- Chiêm ngưỡng Thượng Đế, Cung hiến.

          Tại sao điều kiện quá gắt gao? Bởi v́ Yoga nguy hiểm lắm. Nó có thể biến đổi Con Người thành một Vị Tiểu Thượng Đế hay là một vị Đại Quỷ Vương, tuỳ theo cách sử dụng những Định Luật siêu nhiên đă khám phá ra.

          Dầu ở Cơi Trần hay trên Thiên Đ́nh, đâu đâu cũng quí trọng Đức Hạnh hơn các phép lạ.

          Đức Hạnh là Gia Tài Thiêng Liêng của ta, nó theo ta măi, từ đời nầy qua đời kia, và sửa đổi số phần của ta ra tốt đẹp.

          Những phép thần thông chỉ dùng được trong một thời gian. Nếu sử dụng sái quấy sẽ gây ra Nghiệp Quả nặng nề hơn cả trăm cả ngàn lần Nghiệp Quả của người thường. Phép lạ là cây gươm hai lưỡi, nó chém người được nhưng cũng trở lại chém ḿnh nữa.

          Kính tặng những ai gơ cửa.

          Đấng Christ đă nói: “Hăy t́m th́ ngươi sẽ gặp. Hăy gơ cửa, người ta sẽ mở.” (Saint Matthieu VII,7)

          T́m kiếm đây là t́m kiếm Đường Đạo, c̣n gơ cửa là gơ Cửa Thánh Điện.

          Nhưng phải t́m Đường Đạo với tấm ḷng trong sạch, chớ không phải v́ ích kỷ mong thành Tiên, thành Phật hầu ngồi trên toà sen cho cả trăm, cả ngàn người qú lạy trước h́nh tượng.

          Học Đạo để sau nầy cứu vớt quần sanh ra khỏi chốn trầm luân khổ hải và phát đuốc huệ soi sáng bước đường cho những kẻ c̣n ở trong chốn tối tăm.

          Tôi xin thuật chuyện “Gơ cửa Thánh Điện” cho quí bạn nghe:

          “Một người kia tới gơ cửa Thánh Điện. Ở trong có tiếng vọng ra hỏi: “Ai đó?” Anh bèn trả lời: “Tôi.” Tức th́ anh nghe đáp lại: “Tại đây không có chỗ để cho Anh hay là Tôi đâu.” Cửa đóng vẫn chặt.
Anh tức ḿnh bèn ra sa mạc tham thiền.

          Một năm sau, anh trở lại Thánh Điện gơ cửa. Cũng câu hỏi như khi trước: “Ai đó?” Anh bèn trả lời: “Anh.” Tức th́ cửa mở, anh bước vô.”    (Ngụ ngôn Ba Tư)

          Ư nghĩa bài nầy rất sâu xa. Khi anh trả lời: “Tôi” tức là anh c̣n có ư nghĩ chia rẽ “Anh” và “Tôi.” Cửa đóng chặt. Đến khi anh trả lời: “Anh” th́ không c̣n sự khác biệt nữa, “Anh là Tôi,” “Tôi là Anh.” Người ta bèn cho anh bước vào.

          Trong Thánh Điện tất cả là một. Không có Anh mà cũng không có Tôi. Chỉ có “Chúng Ta” mà thôi. Không c̣n Bản Ngă Riêng Tư nữa, tức là Vô Ngă.

 

TẠI  SAO  CỬA  ĐẠO  LẠI  ĐÓNG  CHẶT ?

 

          Người ta thường than phiền tại sao Cửa Đạo lại đóng chặt? Ấy v́ người ta quên rằng: Một chướng ngại cản trở các Đạo Sư là: Không có học tṛ đủ khả năng để học hỏi; nếu không có học tṛ, lấy chi ông Thầy dạy. Các lớp vẫn để trống. Cửa Đạo luôn luôn sẵn sàng mở rộng cho những ai có đủ tư cách và chỉ biết Phụng Sự với tấm ḷng vị tha, không màng tư lợi, v.v… hầu xứng đáng với nhiệm vụ cao cả và khó khăn sau nầy.

 

BA  CÂU  CẦU  NGUYỆN.

          Xin dắt tôi từ cơi giả đến cơi Chân,

          Xin dắt tôi từ chỗ tối tăm đến nơi Ánh Sáng,

          Xin dắt tôi từ cơi chết đến nơi Sống Đời Đời.

 

          Ba câu nầy vốn ở trong Kinh Brihad Aranyaka Upanishad và viết bằng chữ Bắc Phạn (Sanscrit).

          1- Xin dắt tôi từ Cơi Giả đến Cơi Chân.

          Giả và Chân vẫn tương đối, chớ không phải là tuyệt đối.

          Giả đây có nghĩa: Có thật, nhưng dùng trong một thời gian ngắn ngủi, chớ không phải là không có.

          Chân là cái được lâu dài hơn.

          Như Xác Thân ta đây, đối với 3 Thể cao: Thượng Trí, Kim Thân (Thể Bồ Đề ) và Tiên Thể th́ nó là giả, v́ chỉ dùng trong một đời mà thôi. C̣n 3 Thể kia sống tới cả triệu triệu năm.

          Khi ta Xuất Vía qua Cơi Trung Giới, Cơi Trần biến mất. Ta chỉ thấy Cơi mới lạ nầy. Vậy đối với ta lúc ấy Cơi Trần là giả, Trung Giới là thật. Tới khi trở về nhập Xác ta thức dậy th́ Cơi Trần hiện ra trước mắt, chừng đó nó là thật, c̣n Cơi Trung Giới là giả.

          Nói cho đúng, tất cả những hiện tượng đều vô thường, đều là giả. Bởi v́ tới một lúc kia, khi đúng ngày giờ th́ Thái Dương Hệ nầy cũng sẽ tan ră ra Hỗn Nguơn Nhứt Khí như trước.

          Đây là nói về H́nh Thức, c̣n các Linh Hồn là Tinh Thần đều nhập vào Tâm Đức Thái Dương Thượng Đế. Đă đến thời kỳ nghỉ ngơi, tiếng Phạn gọi là Pralaya. Hết lúc nghỉ ngơi th́ sanh hoá trở lại. Nhân vật đều tiến lên một bậc cao hơn trước. Tinh Thần và Vật Chất đều nương tựa lẫn nhau.

          Cũng như đem phân tách một nguyên tử ta thấy đó là một Thái Dương Hệ nhỏ. Nó gồm 2 phần:

          1- Chính giữa là một cái Hột (Nhân: Noyau).

          2- Chung quanh Nhân là những hột Điển Âm (Électrons) xoay tṛn không khác nào những hành tinh xoay chung quanh hột nhân.

          Nhân cũng gồm hai phần:

          a- Những Trung Hoà Tử không chứa thứ điện nào cả.

          b- Và những Dương Điện Tử (Protons) chứa điện Dương.

          Mà điện là ǵ? Ấy là một thứ rung động.

          Rơ ràng khi phân tích ra là giả, c̣n khi tổng hợp lại là chân. Thật là cực kỳ khó khăn.

          Vậy bây giờ ta nên cải thiện đời sống của ta là điều hay nhất, chớ kéo dài lư luận chân và giả, không biết tới đâu mới chấm dứt, mà cũng không ích chi cho thực tế.

          2- Xin dắt tôi từ chỗ tối tăm đến nơi Ánh Sáng.

          Chỗ tối tăm đây là sự vô minh, sự dốt nát mê muội; c̣n chỗ Ánh Sáng tức là sự hiểu biết Thiên Lư.

          Nói cho đúng, nếu không biết Thiên Lư, không biết Cơ Tiến Hoá dầu cho tài cao học rộng tới đâu cũng c̣n vô minh, vẫn c̣n ở trong chốn tối tăm; bởi v́ nếu không biết Luật Trời, làm nghịch Thiên Ư sẽ gây ra nhiều đau khổ cho đời, làm mất sự quân b́nh, sẽ bị Nhân Quả trả lại. Chúng ta phải chịu những tai nạn tương xứng với những điều ác của chúng ta đă làm, chạy trốn đi đâu cũng không khỏi.

          Xin dắt tôi từ chỗ tối tăm đến nơi Ánh Sáng cũng có nghĩa là xin Chơn Sư dắt con từ Cơi Trần lên mấy Cơi cao.

          Quả thật Cơi Trần là chốn tối tăm, nếu không có Mặt Trời soi sáng chúng ta vẫn ở trong thầm tối, chớ không có ban ngày.

          Trái lại ở các Cơi trên, không có ban đêm, ban ngày như tại Thế Gian, bởi v́ Chất Khí làm các Cơi đó chói sáng rực rỡ, càng lên Cảnh cao th́ càng thêm tốt đẹp.

          Nếu đem ánh sáng của Cơi Trung Giới so sánh với ánh sáng của Cơi Thượng Giới và ánh sáng của Cơi Bồ Đề th́ ta có thể nói:

          Ánh sáng của Cơi Trung Giới là lúc rạng đông.

          Ánh sáng của Cơi Thượng Giới là lúc Mặt Trời mọc ba sào.

          C̣n ánh sáng của Cơi Bồ Đề là lúc Mặt Trời gần đúng ngọ.

          Cũng nên biết trên Cơi Bồ Đề c̣n có Cơi Niết Bàn, Đại Niết Bàn, Tối Đại Niết Bàn,[6] ngoài ra c̣n có những Cảnh Giới cao siêu của Hư Không[7] nữa. Thật là vô tận vô biên, không thể nào dùng cây viết phàm mà tả nổi, v́ không có danh từ thích nghi.

          V́ vậy mới có câu cầu nguyện: “Xin dắt tôi từ Cơi giả đến Cơi Chân, từ chỗ tối tăm đến nơi Ánh Sáng.”

          3- Xin dắt tôi từ Cơi chết đến Nơi Sống Đời Đời.

          Cơi chết là Cơi Trần đây.

          Chúng ta c̣n ở trong Cơi Trần, tránh không khỏi 4 cái ṿng lẩn quẩn: Sanh, bệnh, lăo, tử.

          Thật ra xác thân chỉ là một cái áo để cho chúng ta mặc trong một thời gian. Tới một ngày kia khi nó rách nát hay là hư mục th́ cần cởi bỏ nó để mặc áo mới khác và tiếp tục cuộc hành hương.

          Người thật biết Đạo không sợ chết, nhưng không phải v́ lẽ đó mà không nuôi dưỡng xác thân và chăm nom nó thật kỹ lưỡng. Phải giữ ǵn nó để học hỏi Đạo Lư và kinh nghiệm hầu đạt được mục đích đă định sẵn cho Con Người trong Thái Dương Hệ nầy, là trở nên Trọn Sáng, Trọn Lành, làm một vị Siêu Phàm, nhập vào Cơi Niết Bàn thoát đoạ Luân Hồi.

          Cơi Niết Bàn mới thật là Nơi Sống Đời Đời.

          Câu cầu nguyện nầy có nghĩa là: Cầu xin Chơn Sư chỉ bảo phương  pháp tu luyện để tiến mau trong 14, 15 kiếp th́ sang tới Bờ Giác, Đắc Đạo thành Chánh Quả được Trường Sanh Bất Tử. Trong truyện Phong Thần có hai câu thơ nầy (không nhớ tên tác giả):

                   Luyện đặng Trường Sanh quên Giáp Tư,

                   Chân Trời mặt nước thú vui riêng.

          Trường Sanh đây là sống lâu. Có phương  pháp giữ xác thân đến ngàn năm, nhưng chung cuộc cũng phải bỏ nó để lấy một xác mới.

          Trường Sanh chớ không phải Bất Tử. Chỉ khi làm một vị Chơn Tiên mới không c̣n bị bắt buộc trở lại Thế Gian đầu thai nữa. Đây mới thật là Trường Sanh Bất Tử.

          Trước đây tôi có nói: Trước mặt Chơn Tiên có 7 đường tiến hoá khác nhau. Chơn Tiên có quyền theo đuổi một trong 7 đường đó theo ư Ngài muốn. Chỉ có một con đường là ở lại Cơi Trần giữ Xác Phàm, lănh một Chức Vụ tại Thiên Đ́nh để giúp đỡ nhân loại. Trong các Vị đó có những Vị mà ta gọi là Chơn Sư.

 

LỜI  NÓI  ĐẦU.

          Đây không phải là lời của tôi mà là lời của Thầy dạy tôi. Nếu không có Ngài tôi đă không làm được ǵ cả; nhưng nhờ Ngài giúp tôi đă được đặt chân lên Đường Đạo.

          Alcyone cho rằng sự tiến bộ của Huynh là nhờ ảnh hưởng và sự giúp đỡ của Chơn Sư.

          Bởi v́ những lời trong quyển “Dưới Chân Thầy” vốn của Chơn Sư, vậy khi ta đọc quyển nầy tức là ta nghe được những lời của Ngài dạy, mặc dầu là một cách gián tiếp.

          Bạn cũng thế, muốn bước vào Đường Đạo th́ những lời Ngài dạy tôi cũng sẽ giúp ích cho bạn, nếu bạn tuân theo. Nói rằng những lời dạy đó chân chính và tốt đẹp th́ chưa đủ. Ai muốn thành công phải thực hành thật đúng như lời chỉ giáo. Một người đang đói nh́n vào thức ăn rồi nói ngon quá th́ chẳng có ích ǵ cho y cả; y phải tḥ tay lấy ăn. Cũng thế, chỉ nghe suông lời Thầy chưa đủ, bạn phải thực hành lời Thầy dạy, chăm chú từng chữ, bắt lấy từng ẩn ư.

          Có người  nói: Tôi sẽ làm theo những điều viết trong quyển sách nhỏ nầy. Lời hứa tốt lắm, nhưng nếu không đem ra thực hành th́ không có hiệu quả ǵ hết.

          Cái bệnh thông thường của người đời là học Đạo để Thuyết, chớ không phải để Hành. Nếu không Hành Đạo th́ không bao giờ Đắc Đạo. Có người thấy ḿnh hiểu được nghĩa vài quyển Kinh – mà chưa ắt hiểu thật trúng – tưởng ḿnh đă thành một vị Bồ Tát. Sự thật là đâu có việc dễ dàng như thế.

          Chỉ đọc hai quyển: “Trước Thềm Thánh Điện và Con Đường Của Người Đệ Tử,” ta cũng thấy những điều kiện phải hội đủ để bước vào Cửa Đạo rất khó khăn, không phải người mộ Đạo nào cũng thực hành được.

          Nhưng không phải v́ lẽ đó mà ngă ḷng. Chúng ta phải cố gắng măi, mỗi kiếp phải tiến lên, phải giữ đúng qui luật, dầu cho những việc làm bất nghĩa đem đến cho ta sự vinh hoa, phú quí cũng phải từ chối, đừng để ḷng ta bị nhơ bợn và sẽ mắc tội với Trời. Ta phải trả Quả trong một thời gian sau, và con cháu ta cũng phải chia sớt tội ác của ta đă làm nữa.

          Nếu ta bắt đầu tu kiếp nầy có lẽ 8, 9 kiếp sau ta được làm Đệ Tử Chơn Sư. Có bạn sẽ hỏi:

          Tại sao 8, 9 kiếp lâu quá vậy?

          Tôi tưởng 8, 9 kiếp là mau lắm đó.

          Các bạn nên nhớ rằng: Kiếp nầy ta khởi sự học Đạo, việc làm chủ ba Thể không phải là việc dễ dàng đầu hôm sớm mai mà thành công. Phải luyện tập từ kiếp nầy qua kiếp kia. Hơn nữa kiếp sau chưa chắc ta giữ được chủ nghĩa độc thân và vào hàng Tu Tŕ. Nếu mỗi kiếp ta gây ra oan trái, ta đều có gia đ́nh th́ e cho hết 9/10 thời giờ để lo cho sự sanh sống. Ta chỉ c̣n có 1/10 thời giờ để lo cho sự luyện tập mà thôi.

          Thí dụ: Mỗi ngày ta công phu trong một giờ, chắc chắn chỉ tồn c̣n có 10 hay 15 phút là giỏi lắm, c̣n 50 hay 45 phút kia th́ Cái Trí đă xao lảng. Nếu công phu trọn vẹn được nửa giờ, trong một năm chỉ được có 183 giờ thôi.

          10 năm không ngừng nghỉ th́ được: 183 x 10 = 1.830 giờ.

          Một đứa trẻ cặp sách vô trường học mỗi ngày bực trung b́nh 5 giờ. Mỗi năm nếu tính trung b́nh 245 ngày học, vậy một năm được: 5 x 245 = 1.225 giờ.

          Trong 2 năm được: 2.450 giờ.

          Chúng ta công phu trong 10 năm không bằng một đứa trẻ đi học trong 2 năm. Ta bắt đầu học Đạo không khác ǵ một đứa trẻ vô ngồi lớp Một, rồi qua lớp Hai. Thử hỏi một đứa trẻ mới đọc chữ vừa chạy, chưa được suôn sẻ, th́ kiến thức nó được bao nhiêu?

          C̣n chúng ta, nếu cố gắng th́ mới hiểu được chút ít Chân Lư; c̣n không biết bao nhiêu sự bí mật của Tạo Công mà người học Đạo cần phải t́m hiểu. Tu trong 10 kiếp mà được làm Đệ Tử Chơn Sư, tưởng cũng là mau lắm rồi.

          Như trường hợp của Alcyone, không nói tới hồi c̣n ở Dăy Hành Tinh thứ ba là Dăy Nguyệt Cầu (Dăy Mặt Trăng), cả trăm triệu năm trước Alcyone đă tạo dây liên lạc với các Đấng Cao Cả ngày nay là Đức Phật, Đức Bồ Tát, các Vị Đế Quân và Chơn Sư rồi. Tại Dăy Địa Cầu chúng ta, 130 kiếp trước, hồi c̣n ở Châu Atlantide, Alcyone đă được các Đấng Cao Cả chăm nom mà tới kiếp nầy Alcyone mới bước vào Cửa Đạo. Phải đọc những tiền kiếp của Alcyone mới thấy các Đấng Cao Cả săn sóc những người thành tâm mộ Đạo như thế nào.

          Tôi xin đem sự kinh nghiệm của Đức Leadbeater để chứng minh.

 

SỰ  KINH  NGHIỆM  CỦA  ĐỨC  LEADBEATER.

 

          Đức Leadbeater có thuật sự kinh nghiệm của Ngài hồi Ngài vừa được Chơn Sư thâu nhận làm Đệ Tử.

          Tôi xin tóm tắt câu chuyện đó để chứng minh rằng: Chơn Sư biết rơ chúng ta trước khi chúng ta biết Ngài.

          Đức Leadbeater nói: “Tôi nhớ lại một việc đă xảy ra 25 năm trước, khi tôi được Chơn Sư thâu nhận.

          Tôi có quen biết với một người, học lực uyên thâm, một nhà Bác Học tánh t́nh cao thượng, đời sống trong sạch và rất tin tưởng Chơn Sư.

          Mục đích của anh là chuẩn bị phụng sự các Ngài. Dường như về nhiều phương diện, anh hơn tôi rất xa. Anh rất xứng đáng được làm Đệ Tử. Tôi lấy làm lạ tại sao giá trị của anh chưa được nh́n nhận.

          V́ c̣n mới và chưa biết cách thức làm việc trong Huyền Bí Học nên khi có dịp đưa đến, tôi kính cẩn xin Chơn Sư cho phép tôi nêu tên anh và ngỏ ư rằng: Anh sẽ thành một khí cụ rất tốt.

          Chơn Sư mỉm cười vui vẻ và trả lời: “Con đừng sợ Ta quên người bạn của con. Không có ai bị  bỏ rơi. Nhưng trường hợp người bạn của con, y c̣n phải trả một thứ Quả nữa, nên Thầy không thâu nhận y bây giờ được. Chẳng bao lâu nữa y sẽ từ giă Cơi Trần và trong một thời gian sau y sẽ đầu thai lại. Tới chừng đó, nợ cũ y đă trả xong, những điều con muốn cho y sẽ được thực hiện.”

          Nói xong với ḷng từ bi luôn luôn sẵn sàng biểu lộ, Ngài cho tâm tôi nhập vô tâm Ngài một cách mật thiết hơn nữa và đem nó lên một Cơi cao hơn rất nhiều Cơi mà tôi vừa đi đến. Ở nơi đó, Ngài chỉ cho tôi biết bằng cách nào các Đấng Cao Cả quan sát Cơi Trần.

          Quả Địa Cầu hiện ra trọn vẹn dưới mắt chúng tôi với cả ngàn triệu Linh Hồn. Phần đông chưa tiến hoá nên có vẻ mờ mờ; nếu trong đám đông nầy có một Linh Hồn nào gần tới mức có thể dùng được, dầu cho việc đó c̣n xa vời đi nữa Linh Hồn ấy vẫn phân biệt với những Linh Hồn khác như ánh sáng đèn pha trong đêm tăm tối.

          Chơn Sư bèn nói: “Bây giờ con có thấy chưa? Làm sao quên được một người nào dầu c̣n lâu lắm y mới được vào hàng Đệ Tử Nhập Môn”.”

          Thế nên chúng ta chớ sợ Tiên Thánh không biết chúng ta, chỉ e cho chúng ta chưa thật ḷng chuẩn bị để xứng đáng làm Đệ Tử của các Ngài mà thôi.

          Nh́n gương Alcyone chúng ta nên phấn chí tu hành. Không tu kiếp nầy, kiếp sau hay kiếp sau nữa cũng phải tu, v́ Luật Tiến Hoá và Luật Nhân Quả thúc đẩy con người đi tới măi, không một ai đứng lại một chỗ lâu được. Chớ vi phạm Luật Trời.

          Người học Đạo khi được làm Đệ Tử Chơn Sư rồi, mỗi công việc phải lo thực hành tận tâm và chăm chỉ xem từ nét, từ dấu để hiểu biết mạng lịnh và ư muốn của Ngài.

          Nếu bỏ sót một chữ hay một ẩn ư nào, nó sẽ bị mất hẳn luôn; v́ Thầy không nói hai lần.

          Người học Đạo mới nghe qua lấy làm lạ tại sao Chơn Sư không nói hai lần?

          Bởi v́ Chơn Sư không có ngày giờ dư như chúng ta. Hơn nữa, nếu chúng ta không sẵn sàng thi hành mạng lịnh, chúng ta mất cơ hội giúp đời và một người bạn khác sẽ xuất hiện thay thế chúng ta làm công việc đó.

          Ở Cơi Trần, chúng ta phải lặp đi lặp lại măi, có khi vài chục lần, mà đâu cũng c̣n đó, hay là chỉ thấy nhúc nhích một chút mà thôi.

          Những đức tánh cần thiết phải có để bước vào Cửa Đạo, các vị Giáo Chủ đă lặp đi lặp lại cả trăm ngàn năm, nhưng có được bao nhiêu người triệt để tuân theo? Trường hợp Đạo Bát Chánh của Đức Phật chẳng hạn.

          Trong Huyền Bí Học, khác hẳn ngoài đời và xin nhớ quyển “Dưới Chân Thầy” thuộc về Huyền Bí Học, nếu một nét, một dấu bị bỏ qua không để ư th́ nó mất luôn.

          Tưởng cũng nên biết cách các Chơn Sư đào tạo các Đệ Tử. Ít khi Ngài cho những mạng lịnh trực tiếp. Đức Leadbeater thuật lại rằng: Lúc Ngài mới được vào hàng Đệ Tử Nhập Môn, Ngài có hỏi Chơn Sư:

          “Bạch Sư Phụ, con phải làm điều chi?”

          Chơn Sư trả lời:

          “Con phải tự t́m kiếm lấy. Ta biết rằng: Nếu Ta ra lịnh cho con làm cái chi đó, con sẽ thi hành liền, nhưng như vậy Quả tốt của sự vâng lời và công việc làm sẽ thuộc về phần của Thầy nhiều hơn của con. Thầy muốn con có công đức, Thầy muốn con tự làm những việc lành để con hưởng Quả tốt. Ư kiến phải do con chớ không phải do Thầy v.v….”

          Mỗi vị Chơn Sư đều có cách riêng đào tạo Đệ Tử, tuỳ theo Cung và trách nhiệm của họ sẽ lănh sau nầy. Như Đức Chơn Sư K.H. là Đức Đế Quân chưởng quản Cung thứ Nh́ là Cung Đạo Đức và Giáo Dục, Ngài ít khi rầy Đệ Tử; Đệ Tử của Ngài chỉ xem qua cách Ngài nh́n liền biết Ngài bằng ḷng hay không bằng ḷng rồi. V́ vậy Đệ Tử của Ngài luôn luôn rất cẩn thận.

          C̣n Đức Chơn Sư M. trong kiếp nầy, hồi c̣n ở ngoài đời, Ngài là Hoàng Đế xứ Radjapoutana. Ngài tu hành đắc Đạo lên tới bậc Đế Quân. Ngài chưởng quản Cung thứ Nhứt là Cung Hành Chánh, Uy Quyền; Ngài ra lịnh hẳn ḥi. Nếu Đệ Tử phạm lỗi, Ngài liền vạch ra một cách nghiêm khắc, nhưng Ngài vẫn tha thứ, v́ biết rằng thường thường Đệ Tử hăy c̣n yếu đuối và vô tâm. Ngài muốn Đệ Tử biết chỗ quấy của ḿnh để đừng tái phạm.

          Xin nhắc lại: Chơn Sư không hề bắt buộc Đệ Tử phải thành công trong mọi việc. Thành công hay thất bại, điều đó không quan trọng. Điều cần thiết là cách làm việc và sự tận tâm, mà thôi.

 

          Có bốn Hạnh dành cho con đường chật hẹp nầy:

          - Hạnh Phân Biện.

          - Hạnh Không Ham Muốn.

          - Hạnh Kiểm Tốt.

          - Hạnh Bác Ái.     

          Tôi sẽ cố gắng nói cho bạn nghe những ǵ Thầy đă dạy tôi về mỗi một trong những Hạnh trên. 

 

          Những đức tánh mà người chí nguyện phải có đủ để bước vào Đường Đạo, các Tôn Giáo lớn đều có chỉ dạy, tuy với những tên khác nhau, nhưng vẫn một ư nghĩa.

          Trong quyển “Dưới Chân Thầy” có ghi:

          1- Hạnh Phân Biện.

          2- Hạnh Không Ham Muốn.

          3- Hạnh Kiểm Tốt.

          4- Hạnh Bác Ái.

          Về Đức tánh thứ ba: Hạnh Kiểm Tốt gồm:

          1- Tự Kiểm Soát Thể Trí.

          2- Tự Kiểm Soát trong Hành Động.

          3- Đức Khoan Dung.

          4- Hạnh Vui Vẻ.

          5- Hạnh Quyết Chí.

          6- Ḷng Tin Cậy.

          Về Ấn Giáo và Phật Giáo xin xem Thiên Thứ Ba: Hạnh Kiểm Tốt.

          Bây giờ xin nói vài lời tại sao bên Chánh Đạo luôn luôn chú trọng về Hạnh Kiểm và cho là: Nền tảng của Đạo là Đức Hạnh.

          Trước nhất, bởi v́ sau một thời gian luyện tập, sinh viên Huyền Bí Học sẽ có một vài quyền năng, người đời gọi là siêu việt và điều quan trọng hơn hết là việc sử dụng chúng vào việc cứu người hay là hại người.

          Một lẽ khác nữa, dầu ở ngoài đường đời hay ở trong Cửa Đạo, đều có những sự thử thách đưa tới cho những người tu hành, như: Danh vọng, tiền tài, sắc đẹp, uy quyền cám dỗ. Nếu không rơ mặt thiệt của chúng, không có gan vàng dạ sắt, không có một ư chí cương quyết, cứng cỏi như thép đă trui để đương đầu với những chướng ngại vật dựng lên cản trở bước đường, người sinh viên sẽ vấp ngă. Kết quả: Hoặc đứng lại một chỗ, không đi tới được, hoặc bước sang rất dễ dàng con đường Bàng Môn Tả Đạo. Nhiều gương đáng tiếc đă xảy ra.

          Lấy việc trước mắt mà nói: Một toà lầu đài làm bằng bê tông cốt sắt sẽ chịu đựng nổi những trận băo bùng, c̣n những nhà tre vách lá chắc chắn phải sụp đổ tan tành.

          Có thể nói toà lầu đài bằng bê tông cốt sắt tượng trưng những đức tánh cao thượng của con người, c̣n những nhà tre vách lá là tâm địa của người tầm thường.

          Những trận dông tố là những dục vọng sôi nổi trong ḷng con người. Phải sợ những trận Băo Ḷng. Chúng nó c̣n ghê gớm và dữ tợn hơn cả muôn, cả triệu lần những trận cuồng phong ngoài đời, bởi v́ hậu quả của chúng nó c̣n kéo dài trong nhiều kiếp sau nữa, chớ không phải chỉ nội trong kiếp nầy mà thôi.

          Nguồn cội của chúng nó là Những Sự Ham Muốn Không Được Toại Nguyện. Mà Những Sự Ham Muốn vốn do Cái Vía cấu kết với Cái Trí sinh ra.

          V́ thế Những Sự Sa Ngă từ xưa đến nay đều do Cái Vía và Cái Trí không tinh khiết, nên chưa thanh lọc được Những Tư Tưởng và Ư Muốn Thấp Hèn, Ô Trược.

          Thấu rơ những lẽ nầy, các vị Đạo Sư đều dạy sinh viên phải Tự Chủ, phải Khắc Kỷ, phải Chế Ngự 3 Thể: Thân, Vía, Trí. Cần Bắt Buộc chúng nó tuân theo mạng lịnh của con người sai khiến và hướng dẫn chúng nó vào con đường Sáng Suốt, Chân Chánh, Thánh Thiện.

          Làm chủ được 3 Thể, tức là san bằng phân nửa những sự khó khăn sẽ gặp trên Đường Đạo.

          Tới đây chắc chắn quí bạn đă thấy Đức Tánh Tốt cần thiết là dường nào cho sự thành công trên đường đời cũng như trong Đường Đạo, tức là Sự Tiến Hoá Thật Sự của Con Người.

          Tôi không phủ nhận sự mở mang Trí Tuệ, tôi biết điều nầy cũng cần thiết, và cũng có sự hữu ích riêng của nó. Nhưng muốn thành một người hoàn toàn th́ Tài và Đức phải đi đôi với nhau. Nếu có Tài mà không có Đức th́ không khác nào đứng trên mé vực sâu, hố thẳm. Không đề pḥng sẽ té xuống đó không biết giờ phút nào.

          Quí bạn hăy xem xét lại cuộc đời rồi suy nghĩ sâu xa để coi những điều nói trên đây có đúng với sự thật không?

          Nên Ôn Cố Tri Tân.

 

BỐN  CON  ĐƯỜNG  DỰ  BỊ.

 

          Kinh sách Đông Phương dạy rằng: Có bốn Con Đường Dự Bị dắt con người vào hàng Đệ Tử Nhập Môn.

          1- Con Đường Thứ Nhứt: Việc lân la hay là giao thiệp với những người đă được Điểm Đạo, nhất là Đệ Tử Chơn Sư. Lẽ tự nhiên: Nhờ sự giải thích những đức tánh cần thiết cho kẻ chí nguyện mà người học Đạo, nếu cố gắng trau giồi tâm tánh và noi gương của Người Đệ Tử, th́ kiếp nầy hay kiếp sau sẽ được Chơn Sư thâu nhận.

          2- Con Đường Thứ Nh́: Đọc những sách nói về Con Đường Đạo. Dầu ở Tây Phương hay ở Đông Phương, nhất là ở Trung Hoa, Ấn Độ đều có những Kinh Sách nói bóng dáng về Quần Tiên Hội và cách những Vị Mộ Đạo đi t́m Chơn Sư. Chúng ta từng đọc những Tiểu Thuyết Tàu như Tây Du, Phong Thần, Phong Kiếm Xuân Thu, Đông Du Bát Tiên, v.v… Chúng ta rất thích những phép tắc cao cường của Đức Phật, của Thái Thượng Lăo Quân, Nguyên Thỉ Thiên Tôn, Thông Thiên Giáo Chủ, Hải Triều, Nam Cực, Tôn Tẩn, hầu hết các độc giả đều muốn có quyền năng như thế, nhưng quên rằng: Phải dứt ḷng Trần Tục, ra công tu tâm dưỡng tánh từ kiếp nầy qua kiếp kia.

          Hiện nay, chỉ có những sách Thông Thiên Học mô tả rành rẽ 4 bậc được Điểm Đạo gọi là Tứ Thánh và con đường dắt đến Cơi Trường Sanh Bất Tử, như những quyển: “Dưới Chân Thầy, Tiếng Nói Vô Thinh, Ánh Sáng Trên Đường Đạo, Trước Thềm Thánh Điện, Con Đường Của Người Đệ Tử, Chơn Sư và Thánh Đạo v.v…”

          3- Con Đường Thứ Ba: Mở Trí. Người trí độ thông minh th́ tin rằng: Phải có những bậc tiến hoá cao mới xây dựng được những nền tảng Văn Minh tốt đẹp của Cổ Ai Cập, Cổ Ấn Độ, Cổ Trung Hoa, Cổ Hi Lạp, Cổ Ba Tư và nhất là Đại Kim Tự Tháp. Nhờ vậy mới ra công t́m hiểu v́ lư do nào nền Văn Minh đó hiện đến, rồi v́ duyên cớ nào lại bị sụp đổ tan tành.Nhờ sự t́m kiếm nầy mà con người sẽ gặp những Kinh Sách nói về Cách Tu Luyện Bản Thân để trở nên sáng suốt và học được chân truyền.

          Tuy nhiên con đường nầy rất nguy hiểm, v́ càng mở Trí mà không biết kềm chế nó th́ nó giục con người trở nên kiêu căng tự phụ, gây ra nhiều tội lỗi hơn là lo việc tu hành. Từ xưa đến nay ít ai dùng phương pháp nầy.

          4- Con Đường Thứ Tư: Ăn ở nhân từ đức hạnh trong nhiều kiếp. Tâm trí càng ngày càng trở nên sáng suốt ắt sẽ có người tới chỉ dẫn cách t́m Cửa Đạo. Người có đức hạnh đáng quí trọng, nhưng chỉ có bao nhiêu đó chưa đủ, v́ phải lo tiến hoá luyện tập trí óc để trở nên một dụng cụ tốt lành trong tay của những Đấng Cứu Thế hầu phụng sự nhân loại và Thiên Cơ một cách đắc lực.

 

SỰ  ÍCH  LỢI  KHI    GẦN  VỊ  ĐẠO 

 

          Ở Ấn Độ có nhiều Vị Đạo Sư gọi là Gu-ru (Gourou). Có Vị ở một chỗ trong rừng núi, các vị Đệ Tử cất lều ở chung quanh. Có Vị thường đi ta bà, đi tới đâu th́ Học Tṛ theo tới đó.

          Học Tṛ được ở gần Thầy th́ mau phát triển về đường Tinh Thần v́ lư do sau đây:

          Ta ở một ḿnh th́ phải ra sức luyện tập để mở mang vài tánh tốt và diệt trừ vài tật xấu. Công việc nầy rất khó khăn và cực nhọc. Phải bền chí và cố gắng ngày nầy qua ngày kia, tuy nhiên chưa ắt có hiệu quả được như ư muốn. Nhưng khi được ở gần Vị Đạo Sư đă rửa sạch Phàm Tâm th́ trong lúc ngủ cũng như trong lúc thức, các vị Đệ Tử ở trong ṿng hào quang của Ngài. Những sự rung động cao siêu do Hào Quang của Ngài bắt buộc mấy Thể của Đệ Tử lần lần rung động đồng nhịp với chúng nó. Nhờ vậy các Đệ Tử trừ được các tật xấu và mở mang những tánh tốt một cách dễ dàng, mau lẹ. Trong Vật Lư Học ta thấy rơ hiện tượng nầy: Khi hai cái đồng hồ treo gần nhau, mà sự chuyển động của hai quả lắc không đồng đều, th́ quả lắc nào mạnh bắt buộc quả lắc yếu hơn phải lần lần hoà nhịp với nó, bằng không th́ phải đứng lại.

          Hiểu mấy lẽ trên đây, sẽ thấy một khi ta được Chơn Sư thâu nhận làm Đệ Tử Chánh Thức th́ hào quang của Ngài bao bọc ta ngày đêm không ngớt. Ta sẽ thay đổi về tâm tánh và mở mang trí hoá một cách mau chóng, bất ngờ. Tục gọi rằng: “Nhờ Đức của Thầy ḿnh.”


I -  HẠNH  PHÂN  BIỆN

(Discrimination)


 

          Đức tánh đầu tiên trong bốn đức tánh là Phân Biện; thường th́ người ta hiểu đức tánh này như là sự phân biện giữa cái chân và cái giả và nó đưa con người vào Đường Đạo. Hiểu như thế th́ đúng, nhưng  phải hiểu hơn thế nữa. Hạnh  Phân Biện phải được thực hành, không phải chỉ lúc mới bước vào Đường Đạo mà thôi, mà ở mỗi bước đi trên đó, mỗi ngày cho đến hết con Đường Đạo.

          Đức Phật để Chánh Kiến đứng đầu Bát Chánh Đạo. Chánh Kiến đây tức là Tánh Phân Biện lẽ tà chánh.

          Nhưng không phải dễ Phân Biện đâu. Phải mở trí khôn, phải nhiều kinh nghiệm mới có thể nói rằng: Biết Phân Biện được. Tuy vậy, có nhiều điều xảy đến mà ta phân vân, cũng như đứng trước ngả ba đường cái, không biết phải theo lối nào cho đúng, bởi v́ ta chưa thông thạo về những điều đó.

          Duy có một điều không thể sai lầm là khi đă mở Trực Giác. Nói cho đúng Trực Giác vốn thuộc về Kim Thân hay là Thể Bồ Đề, nhưng Trực Giác cũng có thể từ Thượng Trí hiện xuống, nếu ta sống một đời trong sạch và chân thật.

          Ở đây, Chơn Sư dạy Alcyone phải phân biện thế nào là Chân và thế nào là Giả. Biết được rồi mới theo cái Chân để bước vào Cửa Đạo. Mà vào Đường Đạo rồi cũng phải phân biện mỗi ngày, mỗi bước cho tới khi đi dứt Đường Đạo, tức là Đắc Đạo thành Chánh Quả làm một Vị Siêu Phàm.

          Tại sao phải luôn luôn giữ ḿnh và đề pḥng? Ấy v́ kẻ nghịch là mấy anh trong bóng tối, gọi là Bàng Môn Tả Đạo, chực hờ xô ngă chúng ta. Chúng dựng lên nhiều cạm bẫy, nếu thờ ơ sẽ mắc vào đó và sẽ đau khổ suốt đời. Chúng rất khôn quỉ, thấy ta, biết ta mà ta không thấy, không biết chúng. Cái nguy cơ ở nơi đó. Những sự cám dỗ, những sự quyến rủ thật là tế nhị, nên thấy được ta sẽ hoàn toàn hạnh phúc. Nhưng than ôi! Chúng nó là nhng cục than đỏ, đụng tới  th́ cháy tay, buông ra không kịp. Những sự thử thách không phải chỉ có một loại hay là một thứ đâu. Chúng nó có muôn mặt khác nhau, chúng hiện ra bất ngờ; nhưng cái nào tới cho ta mà ta biết đó là một thử thách sẽ không c̣n là sự thử thách đối với ta nữa.

          Nhưng, ta phải coi những thử thách là điều cần thiết rất hữu ích, v́ nhờ chúng nó mà ta biết được những nhược điểm của ta ở chỗ nào để bồi bổ. Không vậy, không biết chừng nào ta mới trở nên khôn ngoan, sáng suốt. Có lửa đỏ mới biết tuổi vàng.

          Vậy chớ nên cười những người vấp ngă, hăy thương họ. Hăy nhớ rằng: Cười người tháng trước, tháng sau người cười. Chạy đi đâu cho khỏi Luật Nhân Quả báo ứng.

          Những người ngày nay vững bước là nhờ trước kia, không biết bao nhiêu kiếp rồi, đă có nhiều kinh nghiệm đau khổ, cho nên học được những bài học hay, thấy lửa liền tránh xa, không như anh Tất Đạt trong quyển “Câu Chuyện Của Ḍng Sông” biết lửa đốt cháy mà vẫn thử lửa coi nó có thật nóng hay không?[8]

          Người Hành Đạo không dám chê ai cả, v́ quá khứ của ḿnh không tốt đẹp hơn ai.

          Điều hay hơn hết là lo nâng đỡ, khuyến khích, d́u dắt.

          Nên nhớ rằng: Dầu tới bậc La Hán cũng c̣n có thể bị lầm lạc, nói chi chúng ta đây là những kẻ chưa được sáng mắt, làm sao tránh khỏi việc té lên, té xuống cả trăm lần. Nhưng tránh đừng ngă ḷng, cứ đi tới, ta sẽ thành công.

          Trong quyển “Dưới Chân Thầy” câu “…Bước vào Đường Đạo”  là vào hàng Tu Đà Huờn, vừa được Điểm Đạo Lần Thứ Nhứt. Vị Tu Đà Huờn phải Phân Biện mỗi việc từng li, từng tí, phải suy nghĩ chín chắn, phải cẩn thận, kỹ lưỡng từ chút; bởi v́ trước khi làm một Vị Siêu Phàm được 5 lần Điểm Đạo th́ sự vấp ngă có thể xảy ra bất cứ lúc nào, mà đáng sợ nhất là sau 2 lần Điểm Đạo, có phép tắc cao cường.

          Con bước vào Đường Đạo v́ con được biết rằng chỉ có trên đó con mới t́m được những điều đáng thâu thập. Người không hiểu biết th́ làm lụng để được giàu sang và quyền thế, nhưng những sự giàu sang và quyền thế nầy chỉ kéo dài lâu lắm là một đời mà thôi, bởi thế chúng không thật. Có nhiều sự việc lớn lao hơn những sự giàu sang và quyền thế nầy, những sự việc đó có thật và lâu bền; một khi con đă thấy những sự việc này, con sẽ không c̣n ham muốn những cái kia nữa.

          Tại sao chỉ trong Đường Đạo mới t́m được những điều đáng thâu thập mà thôi?

          Bởi v́ trong Đường Đạo mới dạy đúng sự thật, cách sinh hoá Thái Dương Hệ nầy và lư do sinh sản các loài vật và con người.

          Có Học Đạo con người mới biết được Bản Tánh Thiêng Liêng của ḿnh, những Luật Luân Hồi, Nhân Quả và Phương Pháp Luyện Tập trong một thời gian ngắn ngủi để trở nên hoàn toàn sáng suốt, thay v́ phải trải qua mấy muôn kiếp Luân Hồi mà chưa chắc thoát khỏi Ṿng Sanh Tử dưới Phàm Gian.

          Có bạn sẽ hỏi: Làm sao con người biết được sự sinh hoá một Thái Dương Hệ? Giải ra th́ dài lắm, tôi xin tóm tắt lại vài đoạn thôi. Xin nói rằng: Đây là tôi tŕnh bày theo Huyền Bí Học, khác hẳn với Khoa Thiên Văn Học hiện đại, xin quí bạn miễn nghị.

 

 

NHỮNG  THÁI  DƯƠNG  HỆ  TRÊN  KHÔNG  GIAN

 

          Thái Dương Hệ gồm có một Ngôi Mặt Trời ở chính giữa và những Hành Tinh xoay chung quanh.

          Mỗi Thái Dương Hệ đều do một Đấng Chí Tôn tạo ra, xin gọi là Đức Thái Dương Thượng Đế (Logos d’un Système Solaire).

          Không biết có bao nhiêu Thái Dương Hệ trên Không Gian, tuy nhiên, người Học Đạo nên biết rằng: Tất cả những Thái Dương Hệ đều sắp theo Hệ Thống Cung và Chi. Có 7 Cung. Mỗi Cung chia ra 7 Chi. V́ vậy có thể nói rằng: Sự tiến hoá của các Thái Dương Hệ đều không giống nhau.

          Mỗi Cung và mỗi Chi gồm không biết bao nhiêu Thái Dương Hệ, lớn và nhỏ.

          Những Thái Dương Hệ lớn lại điều khiển những Thái Dương Hệ nhỏ đồng chung một Cung, một Chi.

 

NHỮNG  THÁI  DƯƠNG  HỆ  LỚN  HƠN  THÁI  DƯƠNG  HỆ  CỦA  CHÚNG  TA

                          

          Ngày nay người ta biết rằng: Có những Ngôi Mặt Trời lớn hơn Ngôi Mặt Trời của chúng ta từ 400, 500 lần cho tới cả triệu lần như Canopus chẳng hạn.

 

ĐỨC  THÁI  DƯƠNG  THƯỢNG  ĐẾ  CỦA  CHÚNG  TA.

 

          Ngài vốn từ một Thái Dương Hệ khác đến. Thái Dương Hệ đó ra sao? Chúng ta không biết. Nhưng có một điều chắc chắn là nó lớn hơn và sanh trước Thái Dương Hệ của chúng ta lối 50, 60 tỷ năm.

          Trước khi sanh hoá, Đức Thái Dương Thượng Đế của chúng ta chọn một chỗ trên Không Gian làm vị trí Tiểu Vũ Trụ của Ngài. Hào quang của Ngài dứt chiếu tới đâu th́ chỗ đó là giới hạn giang sơn của Ngài.

          Ngài có nhiều Vị Phụ Tá, như: Các Vị Hành Tinh Thượng Đế (Logos Planétaire), các Vị Bàn Cổ Mầm Giống (Manou Semence), các Vị Bàn Cổ Cội Rễ (Manou Racine), những Vị Ngọc Đế, những Vị Phật, những Vị Đại Thánh, những Vị Đế Quân, những Vị Tiên Thánh, những Vị Đại Thiên Thần, những Vị Thiên Thần, v.v…

          Các Đấng Cao Cả nầy lập ra Thiên Đ́nh hay là Quần Tiên Hội trên mỗi Bầu Hành Tinh để coi sóc sự sanh hoá và sự tiến hoá của các Loài Vật tại đây.

          Các Ngài đào tạo những Đệ Tử về sau Đắc Đạo thành Tiên, thành Phật, mỗi Vị lănh một nhiệm vụ trên Thiên Đ́nh. Mối Đạo cứ tiếp tục truyền bá như thế từ thế kỷ nầy qua thế kỷ kia, cho tới ngày nay và mai sau nữa, không bao giờ dứt.

          Hiện nay, tại Quả Địa Cầu chúng ta, Cung Thứ Nh́ là Cung Đạo Đức và Giáo Dục do một Đấng Chí Tôn gọi là Đức Bồ Tát (Bodhisatva) đại diện cho Đức Phật chưởng quản.

          Thuở xưa, Ấn Giáo, Ai Cập Giáo, Ba Tư Giáo hay Hoả Bái Giáo, Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, Lăo Giáo, v.v… đều có hai Khoa Giáo Dục: Một Khoa gọi là Công Truyền hay là Hiển và một Khoa gọi là Bí Truyền hay là Mật để đào tạo các tín đồ.

 

KHOA  CÔNG  TRUYỀN  HAY    HIỂN

 

          Khoa Công Truyền dạy quần chúng biết bổn phận làm người. Nó nhấn mạnh về Khoa Luân Lư, tức là cách xử thế; nó chỉ bảo sự thờ phượng và cúng tế Thần Linh, cách cầu nguyện, dâng hương, tụng kinh, đọc kệ, niệm Phật, lần chuỗi, nhưng cần thật hiểu cho đúng ư nghĩa của những việc làm nầy mới khỏi mắc hoạ mê tín và tin dị đoan.

          Quả thật mỗi việc trên đây đều có sự hữu ích riêng của nó, nhưng đừng quá chú trọng về những phụ thuộc là h́nh thức bên ngoài mà bỏ phần chánh cực kỳ quan trọng ở bên trong là Phần Hồn, Phần Tinh Thần. V́ vậy, Chơn Sư bảo: “Chúng nó giống như những hàng đôi giúp con thuở nhỏ viết cho đều đặn và ngay thẳng cho tới chừng nào con viết tốt và đều đặn rồi, con không c̣n nhờ chúng nó giúp nữa.”

          Khoa Công Truyền giải một cách sơ lược sự hành động của Luật Luân Hồi, Nhân Quả, tức là có ư dạy con người phải tu đức trau ḿnh. Tất cả những Kinh Sách của tín đồ các Tôn Giáo đang dùng hiện nay đều thuộc về Khoa Công Truyền.

          Những bí mật của Tạo Công đều được nói một cách bóng dáng hay tượng trưng, không có giải đáp hoặc không có người chỉ bảo th́ chẳng bao giờ hiểu nổi.

 

 

 

KHOA    TRUYỀN  HAY    MẬT [9]

 

          Giáo lư Thông Thiên Học giúp ta giải nghĩa tất cả những lời dạy của các Tôn Giáo và các Thánh Kinh.

          Quả thật, Sách Thông Thiên Học dạy nhiều điều khác hẳn Kinh Sách của các Tôn Giáo khiến cho nhiều bạn quen với Khoa Công Truyền bỡ ngỡ, ngạc nhiên.

          Nhưng xin quí bạn hăy kinh nghiệm một ít lâu rồi sẽ biết đâu là Chân Lư.

          Khoa Bí Truyền, cũng gọi là Mật, dạy sự Sanh Hoá Một Thái Dương Hệ. Nó giúp đào tạo những Vị Tiên Thánh, và biến đổi con người thành một Vị Siêu Phàm. Phương Pháp của các Đấng Cao Cả dùng không hề tiết lộ ra.

          Người ta chỉ biết Khoa Mật vốn Khẩu Khẩu Tương Truyền và Không Bao Giờ Viết Ra Thành Sách.

          Muốn Học Khoa nầy, kẻ chí nguyện phải quyết tâm và bền chí, chịu muôn vàn khổ hạnh và thử thách, tŕ trai, giữ giới, tự tỉnh, khắc kỷ, tức là lo Lập Hạnh. Ngày nào anh hội đủ Những Điều Kiện do Luật Trời Qui Định, anh được phép bước vào Cửa Đạo, v́ anh xứng đáng thọ lănh Chân Truyền.

          Thiết tưởng cũng nên biết: Tại sao Tiên Thánh rất nghiêm khắc trong sự chọn lựa và thâu nhận Đệ Tử? Ấy v́ các Ngài biết rằng: Nếu Kẻ Chí Nguyện chưa rửa sạch Phàm Tâm thế nào cũng dùng những Phép Thần Thông để thoả thích những sự ham muốn nhỏ nhen, đê tiện của y. Y sẽ hại đời rất nhiều, mà y cũng tự hại y nữa, v́ Luật Báo Ứng  Tuần Hoàn sẽ trả lại cho y những ǵ y đă làm cho kẻ khác.

          Tiên Thánh là những Vị Phụ Tá Thiên Cơ, cho nên biết rơ những việc quá khứ, vị lai và trường sanh bất tử.

          Những điều các Ngài chỉ dạy không bao giờ sai. Chúng ta c̣n mắc trong ṿng Luân Hồi, Nghiệp Chướng, cứ đầu thai đi đầu thai lại để học cho thật kỹ những bài mà chúng ta chưa thuộc làu, hoặc v́ bê trễ, hoặc v́ tối dạ nên không hiểu.

          Hơn nữa, con người chưa mở trọn vẹn Hạ Trí, cho nên từ thế hệ nầy qua thế hệ kia cứ đưa ra những Giả Thuyết mới thay thế những Giả Thuyết cũ. Như vậy, không biết mấy muôn hay mấy triệu năm nữa ta mới nghe được Tiếng Chót của Khoa Học.[10]

          Hiểu được sự thật, ta mới thấy lời của Chơn Sư nói: “Chỉ trong Cửa Đạo mới có những điều đáng thâu lănh mà thôi.” Thật là hết sức đúng.

VỀ  SỰ  GIÀU  SANG    DANH  VỌNG

 

          Về phương diện giàu sang và danh vọng: Các điều ấy không sai quấy. Chơn Sư đă nói: “Chúng nó dùng được lâu lắm là một đời mà thôi.” Thật vậy, có khi con người chưa từ trần, gia tài, sản nghiệp, chức tước, quyền thế đă về tay người khác, v́ Luật Nhân Quả. Đạo Đức gọi chúng là mộng ảo. Chúng có thật, nhưng không vĩnh viễn, trường tồn.

          Một lẽ khác nữa: Uy quyền, thế lực, giàu sang là những quyền năng rộng lớn và mạnh mẽ. Nắm chúng nó trong tay có thể làm mưa, làm gió, thế nào cũng được. Làm lợi rất dễ dàng, mà làm hại cũng không khó.

          Vậy hăy dùng uy quyền để làm những việc ích nước, lợi dân, tạo hạnh phúc cho quần chúng. Luôn luôn phải nhớ rằng: Luật Nhân Quả không dung tha những ai làm nghịch với Thiên Ư. Hễ gieo Nhân th́ gặt Quả. V́ vậy, giúp đỡ người, cứu độ người, tức là tự ḿnh giúp đỡ ḿnh, tự ḿnh cứu độ ḿnh. Trái lại, hăm hại người, hà hiếp người, tức là tự ḿnh hăm hại ḿnh, tự ḿnh hà hiếp ḿnh.

          V́ vậy lời xưa đă dạy:

          “Hữu thế bất khả ỷ tận.

          Hữu phước bất khả hưởng tận.”

          Ỷ tận và hưởng tận th́ tai hoạ sẽ đến cho ḿnh chẳng sai. Ta đă thấy nhiều gương trước mắt.

          Đừng quên rằng: Lạm dụng uy quyền và sự giàu sang làm những chuyện bất nhân, thất đức, tạo ra những khổ năo cho đời sẽ sanh ra những xáo trộn, những hỗn loạn chẳng nhỏ, e phải mất mấy chục năm sửa đổi mới mong tạo lập lại được quân b́nh. Cũng nên hiểu câu: “Làm việc để trở nên giàu sang và có quyền thế.”

          Ở Thế Gian cái nghèo là một tai hại lớn lao. Nếu chúng ta không làm lụng để có tiền nuôi ḿnh và gia quyến cùng là gây dựng tương lai cho con cái th́ sẽ bị đói khó, chẳng khác nào hai tay ta bị trói buộc không làm ǵ được cả.

          Nhưng thường thường v́ người ta thấy giàu sang và quyền thế đem lại nhiều sự lợi ích, cho nên con người đi quá mức trung b́nh v́ ḷng tham vọng. Chỉ t́m đủ cách làm ra cho nhiều tiền đặng tiêu pha và sung sướng tấm thân, chớ không c̣n biết nhân, nghĩa, bà con, họ hàng, bất chấp Luân Lư Cang Thường; chỉ biết có ḿnh mà không biết có người, ai chết, ai đói, ai rách, ai khổ, mặc ai; quên rằng: Tới một ngày kia, ai ai cũng phải nắm hai tay trắng mà xuống mồ.

          Các Vị Thánh Nhân, Hiền Triết đă có nhiều kinh nghiệm mới khuyên chúng ta giữ mực trung b́nh và t́m cái chi được vĩnh viễn, chẳng bị thời gian tàn phá. Cái đó là Bản Tánh Thiêng Liêng của Con Người. Sự hiểu biết Luật Luân Hồi, Nhân Quả, Luật Hy Sinh, Luật Tiến Hoá và phương pháp phát triển Tâm Thức để làm một Vị Siêu Phàm.

          Thật vậy, khi người ta biết được sự mầu nhiệm của Đạo rồi th́ không c̣n muốn cái chi khác nữa.

          Trên Thế Gian nầy chỉ có hai hạng người: Hạng hiểu biết và hạng không hiểu biết; và chính sự hiểu biết nầy mới là điều đáng kể.

          Chơn Sư phân biệt rơ rệt hai hạng người: Hạng hiểu biết và hạng không hiểu biết.

          Hiểu biết đây là hiểu biết Luật Trời.

          C̣n giỏi về các Khoa, các Môn tức là rành nghề, là sự thông minh của  Cái Trí, khác với sự hiểu biết Chân Lư, sự hiểu biết của Tâm Hồn.

          Sự hiểu biết của Thế Tục là sự hiểu biết của trí óc, nó rất hữu ích. Ngày nay nhờ trí hoá mở mang, con người sáng chế ra những phương thuốc hay chữa lành nhiều chứng bệnh mà xưa kia gọi là nan y; phát minh được nhiều máy móc tân kỳ, làm việc mau lẹ gấp trăm, ngàn nhân công, đỡ bớt sự mệt nhọc của Thể Xác và sản xuất những ǵ cần thiết cho đời sống hằng ngày. Những Phi Thuyền tung mây lướt gió, liên lạc năm Châu bốn Bể trong ṿng một, vài ngày, những tin tức loan đi trong một giờ khắp cả hoàn cầu đều nhận được, v.v… Hay biết bao! Lạ biết bao! Thật là khác hơn thuở xưa một Trời, một Vực.

          Nhưng nếu điều tiện lợi rất nhiều th́ điểm nguy hại cũng chẳng ít. Những khí giới tối tân, những bom nguyên tử, khinh khí, tia sáng tử thần có thể sát hại muôn vàn sanh linh trong nháy mắt.

          Đó là Tánh Ích Kỷ đáng sợ của Hạ Trí xúi biểu con người làm nhiều tội ác ghê gớm, nếu không được Tâm Từ Thiện kềm chế, và điều khiển nó.

          Trái lại, sự hiểu biết Chân Lư, tức là sự hiểu biết Cơ Tiến Hoá, sự hiểu biết Tinh Thần chẳng những đem t́nh thương, hạnh phúc và hoà b́nh cho Nhân Loại, và d́u dắt Con Người mau đến mức độ Siêu Phàm.

          V́ vậy, Chơn Sư bảo sự Hiểu Biết là quan trọng.

          Tôn Giáo và chủng tộc của một người không phải là điều quan trọng.

 

VỀ  SẮC  DA    TÍN  NGƯỠNG 

 

          Quả Địa Cầu có 7 Giống Dân Chánh (Race Mère).

          Mỗi Giống Dân Chánh chia ra 7 Giống Dân Phụ (Sous Race).

          Mỗi Giống Dân Phụ lại gồm 7 Nhánh (Branche de Sous Race).

          Mỗi Giống Dân đều có những bài học riêng biệt cho Linh Hồn. Mỗi Linh Hồn phải đầu thai từ 2 lần cho tới 3, 4 lần vào mỗi Giống Dân để học hỏi kinh nghiệm. Hết ở Giống Dân thứ nhứt, sang Giống Dân thứ nh́, thứ ba, thứ tư, tiếp tục cho tới Giống Dân thứ bảy.

          Hiện giờ:

           Giống Da Đen là cháu chắt của Giống Dân thứ ba là Giống Lemurien.

          Giống Da Vàng, Da Đỏ là cháu chắt của Giống Dân thứ tư là Giống Ắt Lăn (Atlantes).

          Giống Da Trắng bây giờ là con cháu của Giống Dân Phụ thứ tư và thứ năm của Giống Dân thứ năm là Giống Aryen.

          Hai Giống Dân thứ sáu và thứ bảy chưa sanh ra.

          Nói cho đúng, các Linh Hồn đều là Con của Đức Thượng Đế, vốn là anh em với nhau, và không có Giống Đực và Giống Cái. Chỉ ở Cơi Trần mới có Xác Thân Nam hay Nữ để sanh hoá mà thôi, nhưng người ta thường kiêu hănh về Sắc Da và Ṇi Giống của ḿnh.

          40 năm về trước, Người Da Trắng miệt thị Người Da Vàng và Người Da Đen, v́ coi hai Giống Dân nầy kém văn minh hơn họ. Trận Đại Thế Chiến thứ hai đă dạy cho họ một bài học chua cay. Ngày nay họ mới bỏ thói Kỳ Thị Chủng Tộc, bắt tay với Người Da Đen và ngồi chung một Bàn Hội Nghị.

          Biết rơ Luật Trời, cho nên trong Đạo Đức không cho Sắc Da, Ṇi Giống là việc quan trọng.

          Trong bức thư của Đức Văn Minh Đại Đế năm 1881 trang 4 có câu nầy:

          “Người Da Trắng phải khởi sự trước, đưa bàn tay thân mật cho những Dân Tộc Hắc Chủng và gọi Người “Da Đen” thường bị khinh miệt là “anh em.” Viễn cảnh nầy có thể không làm cho tất cả mọi người vui ḷng mỉm cười, nhưng không thể nào tự xưng là Nhà Thông Thiên Học mà không nh́n nhận nguyên tắc nầy.”

          93 năm sau, năm 1974, lời nói nầy đă thành sự thật. Đây là Cơ Tiến Hoá đă thúc đẩy con người, không ai cưỡng lại được.

 

VỀ  NHỮNG  TÔN  GIÁO

 

          Về những Tôn Giáo, các Nhà Đạo Học uyên thâm đều biết: Các Tôn Giáo vốn do một Gốc mà ra, Gốc đó là Thiên Đ́nh hay là Quần Tiên Hội.

          Khi một Giống Dân được sanh ra, Đức Bồ Tát là Đức Chưởng Giáo, Chủ Tể các Thần Tiên, lâm Phàm và lập một Tôn Giáo phù hạp với tánh t́nh, phong tục, tập quán và tŕnh độ tiến hoá của Giống Dân mới đó về phương diện Tinh Thần cũng như về phương diện Trí Thức.

          Khi Phong Hoá suy đồi, Cang Thường đảo ngược th́ Ngài sai một Vị Chơn Sư hay một Vị La Hán ra đời sửa sang giềng mối lại, hay là lập một Tôn Giáo mới, nếu việc đó tỏ ra cần thiết. Có khi Ngài cũng Giáng Trần.

          Lấy bề ngoài mà xét đoán quả thật Đạo nầy khác với Đạo kia, do những sự thờ phượng, lễ bái, những tín ngưỡng bất đồng. Nhưng so sánh những Giới Cấm, những Qui Luật sẽ thấy cả thảy đều giống nhau. Các Tôn Giáo đều dạy tín đồ phải tŕ trai, giữ giới, lánh dữ, làm lành.

          Xưa  nay Chân Lư vẫn là một.       

          Tôi xin đưa ra thí dụ như sau đây:

          Một cái lồng đèn có 4 mặt kiến: Xanh, đỏ, tím, vàng. Những người thấy tấm kiến xanh th́ cho ngọn đèn là xanh; những người thấy tấm kiến vàng th́ cho ngọn đèn là vàng; những người thấy tấm kiến đỏ, những người thấy tấm kiến tím th́ cho ngọn đèn là đỏ, là tím. Nếu những người nầy gặp nhau, hỏi ư kiến về ngọn đèn th́ cả thảy đều nói khác nhau và tin rằng: Chỗ thấy của ḿnh không lầm. Thật vậy, các người ấy nói rất đúng, v́ chỉ thấy bên ngoài. Khi mở cửa lồng đèn th́ chỉ thấy một ngọn đèn màu trắng mà thôi. Ánh sáng trắng rọi qua tấm kiến màu xanh thành màu xanh, rọi qua tấm kiến màu đỏ thành màu đỏ, rọi qua tấm kiến màu vàng thành màu vàng, rọi qua tấm kiến màu tím thành màu tím.

          Chân Lư là Ngọn Đèn, và những tấm kiến màu là Cái Trí của con người.

          Tất cả những Tôn Giáo đều là những Con Đường dắt đến Đức Thượng Đế. Ai đi theo Con Đường nào ḿnh thích cũng tới mục đích, chỉ có khác một điều là mau hay chậm, tuỳ theo khả năng của ḿnh. Thế nên Đạo của con người giữ không có chi là quan hệ. Không có Đạo nào cao hay Đạo nào thấp, mà chỉ có tŕnh độ hiểu biết hay không hiểu biết, thành tâm hay không thành tâm, khoan dung hay không khoan dung, điều nầy mới thật là đáng kể mà thôi.

          Điều thật quan trọng chính là sự hiểu biết nầy, sự hiểu biết về Cơ Trời đối với con người. V́ Thượng Đế có một Thiên Cơ, và Thiên Cơ đó là Sự Tiến Hoá. Khi người nào đă trông thấy Thiên Cơ và thật sự hiểu Nó, y không thể không làm việc cho Nó, hoà ḿnh làm một với Nó, v́ Nó vinh quang và đẹp đẽ vô cùng.

          Câu: “Thượng Đế có một Thiên Cơ, và Thiên Cơ đó là Sự Tiến Hoá.” Xin nhắc lại rằng: Tại Dăy Địa Cầu chúng ta, Linh Hồn phải đầu thai:

          a- Trước nhất vào 3 Loài Tinh Chất (Essence Elementale).

          b- Kế đó là: Qua Loài Kim Thạch, Thảo Mộc, Thú Vật.

          c- Rồi tới Con Người.

          d- Con Người sẽ vào Hàng Tiên Thánh.

          Đó là Cơ Tiến Hoá. Mục đích đă định sẵn cho Nhân Loại trong Thái Dương Hệ nầy là Con Người sẽ thành những Vị Siêu Phàm khi thời giờ điểm.

 

 

SỰ  TIẾN  HOÁ    TRƯỚC  MẶT  TA

 

          Có bạn sẽ hỏi: Làm sao chứng minh Sự Tiến Hoá cho người ta biết?

          Thật sự, Sự Tiến Hoá ở trước mặt ta, ta thấy nó mỗi ngày, nhưng tại ta không để ư tới.

 

BA  SỰ  TIẾN  HOÁ

 

          Có 3 Sự Tiến Hoá:

          1- Tiến Hoá về Vật Chất và H́nh Dạng.

          2- Tiến Hoá về Trí Thức.

          3- Tiến Hoá về Tinh Thần hay là Tâm Thức.

 

1- TIẾN  HOÁ  VỀ  VẬT  CHẤT    H̀NH  DẠNG

 

          Ta hăy xem một đứa trẻ, con trong nhà hay cháu từ 1 tới 21 tuổi.

          Trong thời gian nầy:

          Về phương diện H́nh Hài: Đứa trẻ ban đầu nhỏ, sau lớn, tác càng ngày càng cao, da thịt biến đổi mỗi năm. Lúc trọng tuổi rồi th́ tóc bạc, da mồi.

          Đây là Sự Tiến Hoá về Vật Chất.

 

2- TIẾN  HOÁ  VỀ  TRÍ  THỨC       

 

          Đứa nhỏ cặp sách đến Trường học, từ bậc Sơ Đẳng đến Trung Đẳng, tức là bậc Tú Tài, rồi tiến lên Cao Đẳng lấy cấp bằng Cử Nhân, Tiến Sĩ.

          Đây là Sự Tiến Hoá về phương diện Trí Thức.

 

3- TIẾN  HOÁ  VỀ  TINH  THẦN HAY    TÂM  THỨC

 

          Đứa nhỏ trau giồi Tánh Nết ngay thẳng, hiền hậu, vui vẻ, ôn hoà, nhân từ, sẵn sàng giúp đỡ, biết thương người nghèo khổ, cô thế, già cả, tật nguyền, kính Trời, thờ Phật, tŕ trai, giữ giới.

          Đây là Sự Tiến Hoá về phương diện Tinh Thần.

          Xin nhớ rằng: Sự Tiến Hoá của một đứa trẻ là h́nh ảnh nhỏ bé của một Giống Dân. Cả hai đều theo một Luật chung là Sự Thay H́nh Đổi Dạng và Sự Phát Triển Tâm Thức càng ngày càng gia tăng.

          Nếu cứ theo Thiên Nhiên th́ Sự Tiến Hoá rất chậm, phải mất vài trăm triệu năm mới đi tới mục đích đă định sẵn.

          Có một phương pháp thúc giục Sự Tiến Hoá nầy là làm cho sự phát triển Tâm Thức mau lẹ trong một thời gian ngắn. Phương pháp đó gọi là Yoga.

          Nhưng tôi xin nhắc lại một lần nữa là: Coi theo Sách, hay là học với ông Thầy Phàm th́ rất nguy hiểm. Làm sái cách th́ điên khùng, hoặc bỏ mạng. Tôi đă biết nhiều trường hợp rồi.

 

     CÁC  TÔN  GIÁO  ĐỀU    DẠY    TIẾN  HOÁ

 

          Các Tôn Giáo lớn như: Ấn Giáo, Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo đều có dạy về Sự Tiến Hoá; nhưng một cách bóng dáng, tượng trưng. Tôi xin trích mấy đoạn đó ra cho quí bạn xem.

 

ẤN  GIÁO

9  HOÁ  THÂN  CỦA  THƯỢNG  ĐẾ  VISHNOU

 

          Theo Kinh Sách Ấn Giáo th́ Thượng Đế Vishnou có 9 Hoá Thân:

          1- Hoá Thân thứ nhứt là Con Cá.

          2- Hoá Thân thứ nh́ là Con Rùa.

          3- Hoá Thân thứ ba là Con Heo Rừng.

          4- Hoá Thân thứ tư là Người Sư Tử.

          5- Hoá Thân thứ năm là Người Lùn.

          6- Hoá Thân thứ sáu là Người Khổng Lồ phá hoại.

          7- Hoá Thân thứ bảy là Rama.

          8- Hoá Thân thứ tám là Krishna.

          9- Hoá Thân thứ chín là Kalki.

          Đức Thượng Đế Vishnou đi đầu thai làm con cá ư?

          Không phải. Nên biết nhiệm vụ của 3 Ngôi:

          Ngôi Thứ Ba, Phạn Vương, Brahma biến đổi Hỗn Nguơn Nhứt Khí (Mulaprakriti) ra những Nguyên Tử, rồi phối hợp những Nguyên Tử nầy lại để lập 7 Cơi Trời.

          Ngôi Thứ Nh́, Vishnou sanh ra các Loài Vật và cho chúng nó Sự Sống.

          Ngôi Thứ Nhứt, Shiva cho Chơn Thần nhập thế. Chơn Thần biến đổi Hồn Thú ra Thượng Trí và sanh ra Chơn Nhơn.

          Trong bài nầy, Vishnou là Sự Sống hay là Chơn Thần; Đức Thượng Đế, trước th́ đầu thai làm các Loài Vật, sau mới lấy h́nh Con Người.

          9 kiếp nầy chia ra làm 3 giai đoạn:

 

GIAI  ĐOẠN  THỨ  NHỨT

 

          Làm Thú ở dưới nước như Cá.

          Kế đó làm Thú có lưỡng tánh, ở dưới nước được, ở trên bờ được là con Rùa.

          Cuối cùng làm Thú ở trên bờ là Heo rừng.

 

GIAI  ĐOẠN  THỨ  NH̀

 

          Hết kiếp Thú, đầu thai làm Người.

          Đầu tiên là Người Sư Tử, tức là làm Người nhưng c̣n giữ thú tánh rất hung hăng.

          Kế đó là Người Lùn, Người Lùn không phải là Người có tác thấp, mà là Người chưa đủ trí khôn, như đứa con nít.

          Người Khổng Lồ là Người dùng sức mạnh khuấy rối kẻ khác.

          Rama là Người Lư Tưởng. Ấy là một vị Vua Ấn Độ lập ra Ḍng Nhật Hoàng (Dynastie Solaire).

 

GIAI  ĐOẠN  THỨ  BA

NHỮNG  VỊ  SIÊU  PHÀM

 

          Krishna là Hoá Thân của Thượng Đế Vishnou, Sư Phụ của Arjuna 5.000 năm trước.

          Kalki[11] là Đấng Cứu Thế. Ngài sẽ cỡi Con Ngựa Trắng mà đến. Ngài đem hạnh phúc khi hết Đời Mạt Kiếp.

 

ĐỜI  MẠT  KIẾP    G̀ ?

 

          Theo Lịch Ấn, cũng gọi là Thời Gian Biểu hay là Niên Biểu, con người phải trải qua 4 Thời Đại: 4 Duga (4 Yougas).

          1- Krita Youga, cũng gọi là Satya Youga: Thời Đại Hoàng Kim được 1.728.000 năm.

          2- Treta Youga: Thời Đại Bạch Ngân được 1.296.000 năm.

          3- Dvapara Youga: Thời Đại Hoàng Đông được 864.000 năm.

          4- Kalki Youga: Thời Đại Sắt Thép. Ấy là Thời Đại Hắc Ám, Đen Tối, cũng gọi là Đời Mạt Kiếp, được 432.000 năm.

 

ĐỜI  MẠT  KIẾP

 

          Theo Thánh Kinh Ấn th́ hiện giờ Nhân Loại đang ở vào Thời Đại Mạt Kiếp.

          Chốn chốn sanh linh đồ thán, loạn ly, giặc giă, chiến tranh nổi lên khắp nơi, hạn hán, đói rét, cang thường đảo ngược, đạo đức suy đồi.

 

THỜI  ĐẠI  MẠT  KIẾP  KHỞI  SỰ  HỒI  NÀO ?

 

          Kinh Thánh nói rằng: 5.000 năm đầu của Thời Đại Mạt Kiếp chấm dứt năm 1897, cách đây 77 năm (1974). Thế th́ Đời Mạt Kiếp khởi sự năm 3.103 trước Tây Lịch Kỷ Nguyên, tới nay, 1974, đă được 5.077 năm rồi.

 

 

MỘT  ĐẠI  KIẾP

 

          Một Thời Đại (Youga) là một Tiểu Kiếp.

          Bốn Thời Đại (Yougas) nhập lại làm một Đại Kiếp (Maha Youga) được 4.320.000 năm.

 

NHIỀU  CHU  KỲ  NHỎ  CỦA  ĐỜI  MẠT  KIẾP

 

          Không phải trọn Thời Đại Mạt Kiếp đều xấu xa, đen tối. Nó chia ra nhiều Chu Kỳ nhỏ, cũng có cái tốt đẹp vậy. Tỷ như trong ṿng 6, 700 năm nữa Giống Dân Thứ Sáu sẽ ra đời. Giống Dân nầy mở Bồ Đề Tâm và tiến rất cao, hướng về Đường Tinh Thần, mặc dầu ở vào Đời Mạt Kiếp.

 

 

4  THỜI  ĐẠI  GIỐNG  NHƯ  4  MÙA

 

          Ta có thể so sánh 4 Thời Đại với 4 Mùa.

          Thời Đại Hoàng Kim giống như Mùa Xuân.

          Thời Đại Bạch Ngân giống như Mùa Hạ.

          Thời Đại Hoàng Đông giống như Mùa Thu.

          Thời Đại Sắt Thép, Hắc Ám giống như Mùa Đông lạnh lẽo.

          Tuy rét mướt, nhưng chúng ta phải mặc đồ ấm đi làm lụng, chớ không phải là tối ngày trùm mền măi. Như vậy ta sẽ chết đói.

          Bây giờ hăy thử nghĩ điều nầy:

          Ta đi trên chiếc ghe mà gặp gió ngược, nước ngược th́ phải chèo chóng mỏi mệt.

          Ví như ta đi trên chiếc tàu, hay là phi cơ th́ gió ngược, nước ngược không thành vấn đề.

          Cũng như trời tối, không lẽ ta ở thầm trong nhà.Ta phải đốt đèn.

          Thuở xưa dùng dầu cá, dầu phộng; bây giờ có đèn dầu lửa, đèn măng-sông (manchon), đèn điện. Biết đâu rồi đây ta sẽ dùng được một thứ ánh sáng êm dịu hơn đèn điện mà lại không nóng. Sự tiến hoá không biết đâu là bờ bến. Nó không có giới hạn.

          Nói cho đúng, mọi việc đều do tự nơi ta, đừng đổ thừa cho cái chi cả. Chúng ta là Chơn Thần, nếu chúng ta muốn th́ ở vào Thời Đại nào ta cũng tiến được. Nếu chờ tới Thời Đại Hoàng Kim mới Tu th́ chắc là cho tới ngày nay không có ai thành Chánh Quả. Không có Đức Phật Thích Ca, không có Đức Bồ Tát Di Lạc, không có các Đấng Đế Quân, các Vị Chơn Sư và các Đệ Tử.

 

TẠI  SAO  CHƠN  THẦN  PHẢI  ĐẦU  THAI  LÀM  THÚ  VẬT  TRƯỚC  KHI  LÀM  NGƯỜI ?

 

          Điều nầy không có chi lạ. Tới một ngày kia Chơn Thần sẽ thành một Vị Thượng Đế và sẽ sanh hoá một Thái Dương Hệ giống như Vũ Trụ nầy.

          V́ thế Chơn Thần phải đầu thai từ Loài nầy qua Loài kia và đi từ Bầu Hành Tinh nầy qua Bầu Hành Tinh khác để học hỏi và kinh nghiệm. Rồi tiến lên măi cho đến khi trọn sáng, trọn lành và khai mở toàn vẹn những quyền năng tiềm tàng trong ḿnh như Đức Thượng Đế. Tới chừng đó mới sanh hoá một Thái Dương Hệ.

          Thời gian nầy kéo dài có lẽ cả chục tỷ năm, chớ không phải nội trong vài chục kiếp mà Pháp Lực vô biên.

          Bây giờ xin nói qua Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo.

 

PHẬT  GIÁO

 

          Phật đă bảo: “Chúng sanh đều có Phật Tánh. Ta đă thành Phật, c̣n các ngươi sẽ thành Phật.”

          Ư Ngài muốn nói: “Các ngươi sẽ tiến hoá và sẽ thành Phật như ta vậy,” nhưng Ngài không nói trắng ra.

          Quyển Túc Sanh Truyện (Lalite Vistara hoặc Jataka Mala) có thuật 550 kiếp của Đức Thích Ca chia ra làm 3 giai đoạn:

          Giai đoạn thứ nhứt: Làm Thú Vật: Thú ở dưới nước như: Vua Cá, rồi Thú ở trên bờ như: Gà Trống, Chim Gơ Kiến, Ḅ U, Nai, Voi.

          Giai đoạn thứ nh́: Làm Người. Thoát kiếp Thú, đầu thai làm Người. Cũng phạm tội như chúng ta bây giờ, vẫn c̣n bị Thất T́nh Lục Dục sai khiến.

          Giai đoạn thứ ba: Vào hạng Siêu Phàm. Tu hành thành Chánh Quả, vào hạng Siêu Phàm. Từ Chơn Sư lên Đế Quân, Bồ Tát, đến thành Phật.

 

KINH  PHẬT  DẠY  LINH  HỒN  ĐI  ĐẦU  THAI  TỪ  LOÀI  NẦY  QUA  LOÀI  KIA

 

          Trong quyển Phạm Vơng Kinh (Mahavagga VI-29) có đoạn nầy:

          Linh Hồn đi đầu thai từ Loài nầy qua Loài kia, xuyên qua tất cả những h́nh dáng như: Đá Cát, Cây Cỏ, Cầm Thú và những Người tánh t́nh riêng biệt, cho tới khi lên đến Bậc Toàn Giác là Phật.

          (Phúc Âm của Đức Phật) (Évangile du Bouddha par Carus page 127).

 

THIÊN  CHÚA  GIÁO

 

          Thuở xưa, Đấng Christ và các Đệ Tử có dạy về Huyền Bí Học, nhưng đời sau người ta loại ra ngoài những Giáo Lư Cao Siêu mà họ không hiểu được.

          Ngày nay, trong quyển “Tân Ước” Công Truyền c̣n vài chỗ để chứng minh rằng: Con Người là Thượng Đế. Thí dụ như mấy câu sau đây:

          (Jesus đáp lại với họ rằng: “Trong Luật của các Ngươi lại đă chẳng viết như thế nầy sao?

          Ta bảo: Các Ngươi là những Tiểu Thượng Đế.”)

          (Jesus leur répondit: “N’est-il pas écrit dans votre loi?

          J’ai dit: Vous êtes des Dieux”)  Jean 10-34.

          Chữ Dieux nầy dịch là Thần, không đúng, phải dịch là Tiểu Thượng Đế mới đúng.

          Xin xem những câu sau nầy:

          1- “Các Anh không biết các Anh là Đền Thờ của Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh ở trong ḿnh các Anh sao?” (I- Cô-ranh-tô III-16) (I- Corinthiens III-16).

          2- “Chúng ta là Ḍng Giống của Đức Chúa Trời.” (Công Vụ các Sứ Đồ XVII-28) (Actes XVII-28).

          Con Đức Chúa Trời không phải là Tiểu Thượng Đế hay sao?

          Hơn nữa trong “Sáng Thế Kư” có câu nầy:

          “Chúng ta hăy làm Con Người giống H́nh Chúng Ta và in hệt Chúng Ta.” (Sáng Thế Kư I-26).

          (Puis Dieu dit: Faisons l’homme à notre image selon notre ressemblance.)  (Genèse I-26).  (La Sainte Bible A. Crampon).

          Nếu nói Con Người giống H́nh Đức Chúa Trời và in hệt Ngài, tức là Con Người là Tiểu Thượng Đế.

 

 

HỒI  GIÁO

 

          Trong quyển Mesnavi, Kinh Thánh của Hồi Giáo có hai đoạn nầy:

- I -

          Linh Hồn, trước nhất nhập Loài Kim Thạch, rồi sang Loài Thảo Mộc. Nó trải qua không biết bao nhiêu Thế Kỷ trong Loài Thảo Mộc, quên hẳn những sự chiến đấu của Nó trong Loài Kim Thạch.

          Khi Nó đầu thai làm Thú Vật, Nó không c̣n nhớ lúc Nó ở trong Loài Thảo Mộc.

          Đức Thượng Đế mà các anh đă biết, Ngài đem nó ra khỏi Loài Thú Vật, rồi cho nó đầu thai vào Loài Người cho đến khi Nó thành một Sinh Vật khôn ngoan. (Le Mesnavi – IV Jalal du Diu Roumi)

- II -

          Tôi ở trong Kim Thạch, thác rồi thành một cái Cây.

          Tôi ở trong cái Cây, thác rồi thành một con Thú.

          Tôi ở trong một con Thú, thác rồi thành một Người.

          Tại sao Tôi lại sợ? Sự chết có làm cho Tôi giảm sút chi đâu?

          Lần sau Tôi bỏ kiếp Người đặng mọc cánh như Thiên Thần.

          Và Tôi cũng t́m cách thoát ra khỏi Hạng Thiên Thần, bởi v́ cả thảy đều sẽ bị tiêu diệt, trừ ra Ngài.

          Tôi cũng sẽ bay đi cao hơn các vị Thiên Thần nữa. Tôi sẽ thành ra cái ǵ không thể tưởng tượng được.

          Tôi thành ra Hư Không và khúc nhạc trổi lên: “Thật sự, Chúng Ta sẽ trở về với Ngài.” (Le Mesnavi).

          Chắc chắn Tác Giả quyển “Mesnavi” có học Khoa Bí Truyền, song không tiết lộ ra.

          Đáng lẽ là dùng danh từ “Con Người” để chỉ nói “Tôi” để ít ai để ư tới, v́ đây là ư kiến riêng của Tác Giả.

          Hiểu được Cơ Tiến Hoá, Con Người mau hợp tác với Thiên Cơ[12] tức là học hỏi Luật Trời, rồi nương theo đó để tiến mau. Như thế, Con Người giúp cho Thiên Cơ được mau thực hiện.

          V́ vậy, hợp tác với Thiên Cơ và giúp cho Nó mau thực hiện là biến đổi Cơi Trần bé nhỏ ra Cảnh Thiên Đường Cực Lạc. Thiết tưởng ai ai lại không muốn điều đó và trên đời c̣n có cái chi tốt đẹp, vinh diệu hơn việc nầy chăng?

          Thế cho nên, v́ y đă hiểu, y sẽ thuận theo lẽ Trời, quyết tâm làm lành, lánh dữ, phục vụ cho sự tiến hoá, chớ không phải v́ ích kỷ.

          Chơn Sư lặp đi lặp lại cho Alcyone biết rằng: Sự Hiểu Biết và Sự Không Hiểu Biết rất quan trọng đối với đời sống của Con Người, bởi v́ lúc đó Alcyone c̣n nhỏ, chưa đủ trí khôn, chưa kinh nghiệm.

          Xin nhắc lại: Sự Hiểu Biết đây là Sự Hiểu Biết Cơ Trời, Hiểu Biết thật sự Con Người là ai? Có Bổn Phận nào cần phải thực hành tại Thế Gian và Tại Sao vậy?

          Không Hiểu Biết lẽ nầy, Đạo Đức gọi là c̣n Vô Minh.

          Người chí nguyện làm Đệ Tử phải lo Tự Biết Ḿnh trước, rồi luôn luôn phải triệt để làm những điều thiện, những điều đem hạnh phúc lại cho kẻ khác, tuỳ duyên, tuỳ phận, tuỳ trường hợp. Chẳng những anh không làm việc quấy, mà anh cần phản đối việc ác. Và trước nhất, anh phải diệt cái mầm của sự ác ở trong ḷng anh, tức là anh phải tự trị, tự điều khiển 3 Thể: Thân, Vía, Trí của anh, v́ chúng nó là nguồn cội của Tam Độc: Tham, Sân, Si gây ra muôn vàn tội lỗi và buộc trói Con Người vào bánh xe Luân Hồi từ kiếp nầy sang kiếp kia.

          Anh cũng phải khuyên kẻ khác tránh những việc ác và làm những điều thiện, đừng bao giờ làm cho kẻ khác đau khổ trong Thể Xác hay trong Tâm Hồn.

          Người chí nguyện phải “Vị Tha,” không được “Hết sức Ích Kỷ,” chỉ biết có những quyền lợi riêng tư của ḿnh mà thôi, chớ không lưu tâm tới sự đau buồn và những nhu cầu của kẻ khác.

          Trong câu nầy có hai chữ nổi bật lên mà độc giả phải chú ư, ấy là hai chữ “Quyết Tâm,” bởi v́ Vật Chất có quyền năng quyến rủ phi thường, nó đưa ra những lư lẽ mà người chưa kinh nghiệm phải chấp thuận và cho “Thật là đúng.” Nhưng chừng thực hành mới thấy ḿnh đă sa ngă và đă mắc vào cạm bẫy.

          V́ thế, muốn làm lành, ư chí phải cứng cỏi như sắt đá và lấy cái “Vĩnh viễn, trường tồn làm tiêu chuẩn,” chớ đừng dùng cái “Tạm thời,” dầu cho sự hành động đem lại cho chúng ta những quyền lợi to tát chăng nữa.

          Nói tóm lại, người Hiểu Biết Cơ Trời phải nắm nắm nớp nớp sợ từ Tư Tưởng, không dám buông lung như người thường, tha hồ muốn tưởng chi th́ tưởng, muốn nói chi th́ nói, muốn làm chi th́ làm. Trước mặt và trong ḷng, người chí nguyện chỉ thấy Sự Tiến Hoá của muôn loài vạn vật, mong mỏi cho ai nấy đều cải dữ, về lành để mau thành Đài Giác.

          Nếu giúp ích được về phương diện nào th́ thực hành ngay khi đó liền, chớ không chờ đợi sự cầu khẩn của kẻ khác. Dẹp Bản Ngă qua một bên; không mưu cầu hạnh phúc riêng tư cho ḿnh, trong khi cả muôn, cả triệu người khác c̣n vô minh, nên ch́m đắm nơi Bến Mê, Sông Khổ, đó là Bổn Phận của Người Chí Nguyện.

          Xin nhắc lại quí bạn rằng: Tất cả đều do theo Thói Quen. Hăy tập cho có thói quen tốt, như: Có thiện cảm, thương người, cứu giúp người tuỳ theo khả năng của ḿnh. Lần lần thói quen biến thành Tánh T́nh của ḿnh, sau đó ḿnh hành động dễ dàng. Trái lại, nếu nuôi dưỡng các tánh xấu th́ không thể tưởng tới điều tốt được. Mà dầu có nghĩ đến việc lành cũng không thể thực  hành, v́ ta bị thói quen xấu xa đè bẹp từ lâu. Hăy đề pḥng và cẩn thận từ chút, nếu không muốn hối hận về sau. Thật vậy, ra sức trừ khử thói hư tật xấu khó hơn gấp muôn lần việc một ḿnh xông ra nơi trận địa chiến đấu với quân địch.

          Nếu y thuận theo lẽ Trời là y hợp nhất với chúng ta, dù y tự cho y là người Ấn Giáo hay Phật Giáo, người Thiên Chúa Giáo hay Hồi Giáo, dù y là người Ấn Độ hay người Anh, người Trung Hoa hay người Nga cũng không mảy may quan hệ.

          Đây là một tư tưởng mà thí sinh trên Đường Đạo phải ghi nhớ vào ḷng, không thực hành, chứng tỏ ḿnh c̣n rất xa Cửa Đạo.

          Tại ngưỡng Cửa Đạo, người ta không hỏi quí bạn giữ Đạo nào? Thờ phượng ai? Hay là người nước nào? Mà chỉ hỏi quí bạn có hội đủ những điều kiện do Luật Trời qui định không? Chỉ cần những Đức Tánh và những Cố Gắng mà thôi.

          Xin nhắc lại: Tên các Tôn Giáo là nhăn hiệu bề ngoài, những tín ngưỡng, những lễ bái, những sự thờ phượng không có chi là quan trọng. Chỉ có sự Hành Đạo mới đáng quí , v́ nó dắt con người tới Cửa Đạo.   

 

BA  PHÁP  MÔN

 

          Có 3 Pháp Môn cũng gọi là 3 Con Đường:

-         Con Đường Sùng Tín.

-         Con Đường Trí Tuệ.

-         Con Đường Hành Động.  

          Có người thích sùng bái, có người thích học hỏi, có người thích hành động, tuỳ theo căn cơ của mỗi người. Miễn thực hành đúng phép sẽ thành công.

          Giữ Đạo Phật hay giữ Đạo Thiên Chúa, đầu thai làm người da vàng hay là người da trắng không khác nào mang lớp áo màu sắc khác nhau; những người mặc áo là Linh Hồn, chỉ khác nhau sự tiến hoá cao hay thấp, chớ Bản Tánh Thiêng Liêng vẫn in nhau.

          V́ vậy, người thuận theo lẽ Trời là một phía với Tiên Thánh, v́ thế cần chi cái nhăn hiệu Tôn Giáo hay là sắc da.

          Những người nào thuận theo lẽ Trời biết tại sao ḿnh thuận theo như vậy và ḿnh phải làm ǵ, và họ sẽ cố gắng thi hành nó. C̣n những người khác không biết họ phải làm ǵ, và v́ thế họ thường hành động rồ dại.

          Thuận theo Luật Trời tức là Hành Đạo.[13] Một khi hiểu được Cơ Trời th́ biết bổn phận ḿnh phải làm điều chi và cố gắng thực hiện. Tôi xin nhấn mạnh về hai chữ cố gắng, bởi v́ biết bổn phận là một việc, c̣n thực hành bổn phận là một việc khác nữa.

          Chơn Nhơn muốn cho Phàm Nhơn thuận theo lẽ Trời, c̣n Phàm Nhơn lại thường nghe theo 3 Thể: Thân, Vía, Trí nên ương ngạnh, thường thường không tuân theo mạng lịnh của Chơn Nhơn ban ra.

          V́ vậy mới có những trường hợp gọi là bị Lương Tâm cắn rứt.

          Ông Thánh Phao Lồ (Saint Paul) có nói: “Tôi không làm những điều phải mà tôi muốn, tôi lại làm những điều quấy mà tôi không muốn.”

          Chúng ta hăy tự tỉnh, sẽ thấy những lời các vị Đạo Sư nói rất đúng. Phải rán sức, miễn là đừng nửa chừng bỏ cuộc th́ cuối cùng sẽ thành công.

          C̣n những người không biết Cơ Trời làm theo ư họ muốn. Có thể nói 99 % những việc làm của họ đều đượm màu ích kỷ.

          Thế nào là những chuyện làm ngông cuồng?  

          Những chuyện làm ngông cuồng là những chuyện làm trái với Luân Lư Đạo Đức.

          Từ trong gia đ́nh tới ngoài xă hội có không biết bao nhiêu những chuyện làm ngông cuồng: Lớn có, nhỏ có.

          Xin kể sơ lược vài thứ:

          Không có tiết độ là làm chuyện ngông cuồng; cờ bạc, rượu chè, đàng điếm, hút sách là những chuyện ngông cuồng; nóng nảy, giận hờn, đánh đập, chửi mắng, nguyền rủa là những chuyện ngông cuồng; bày mưu sâu, kế độc hăm hại người, hiếp đáp người, chiếm đoạt của thiên hạ, làm những chuyện kết bè với kẻ xấu, ác nghiệp, bất nhân thất đức là làm những chuyện ngông cuồng, v.v...; bởi v́ Nhân nào Quả nấy, gieo Nhân th́ gặt Quả.

          Mấy việc nầy, có thứ làm hao ṃn thân xác, gây ra bệnh hoạn, làm hại ṇi giống, hậu quả truyền tới mấy đời con cháu, thu hút tai hoạ tới cho ḿnh, không kiếp nầy th́ cũng kiếp sau, không phương nào tránh khỏi được.

          Những chuyện ngông cuồng lớn lao, hết sức khủng khiếp là những Chiến Tranh Chủ Nghĩa, những Chiến Tranh Tôn Giáo.

          Hai trận Thế Giới Đại Chiến: 1914 và 1939 khiến cho thây nằm chật đất, máu chảy thành sông, nhưng kết cuộc đem lại cái chi?

          Toàn là những sự đau khổ triền miên cho nhân loại, măi cho tới ngày nay, mấy chục năm trôi qua, vẫn chưa dứt.

          Ấy là một bài học đau thương cho những kẻ tham tàn nuôi ảo mộng tóm thâu thiên hạ.

          Ngày nay, người ta đă thấy sự tàn phá của Nguyên Tử Lực, mà vẫn nuôi cuồng vọng dùng bạo lực để chinh phục thế giới, chà đạp dân chúng dưới gót giày xâm lăng của bọn quân phiệt. Họ dựa vào sức mạnh của cơ khí, không biết rằng: Chỉ có Trời mới thật là mạnh, chỉ có Trời mới định đoạt được số phần của thiên hạ, chớ họ không có quyền năng sửa đổi được Cơ Tạo Hoá.

          Phái Duy Vật không tin có Trời, Phật, Thánh, Thần th́ đâu có sợ Luật Luân Hồi, Nhân Quả. Họ làm những chuyện Bội Thiên, Nghịch Địa. Quả thật, họ có thể thành công, họ có thể thắng trong một thời gian, tức là lúc ban đầu, nhưng chung cuộc cũng phải bó tay trước Định Luật. Họ sẽ bỏ mạng.

          Những kẻ háo hư danh, đầy tham vọng từ xưa đến nay như: Attila, Tần Thuỷ Hoàng, Napoléon, Hitler, v.v…, chọc Trời khuấy nước, khiến cho thiên hạ lầm than, cơ cực, bị muôn đời nguyền rủa, chớ không có ai thán phục và thờ phượng như các vị Giáo Chủ, những Đấng Cứu Thế.

          Tiếc thay! Những gương kim cổ ngông cuồng đó chưa đủ để thức tỉnh những người đang sống trong thế kỷ 20 nầy, gọi là Đời Văn Minh, nên họ c̣n toan gây hấn thống trị hoàn cầu.

          Những điều của họ toan tính có phải là những chuyện ngông cuồng không?

          Họ cố t́m những đường lối nào mà họ nghĩ rằng sẽ đem hạnh phúc cho chính họ chớ không biết rằng “Vạn vật đồng nhất thể,” và do đó chỉ có điều Trời muốn mới có thể thật sự đem lại hạnh phúc cho mọi người.

          Nói cho đúng lư, chúng ta đương lần ṃ trong đêm tăm tối. Khi thấy một tia sáng rọi vào th́ mừng rỡ chạy ra ngoài, nên chúng ta bị chạm bàn ghế, đụng vách phên, té lên, té xuống.

          Tia sáng, ấy là bóng hạnh phúc. Tất cả chúng ta đều t́m bóng hạnh phúc như thế đó.

          Con người t́m kiếm những con đường mà họ tưởng là êm đềm, bằng phẳng, vui vẻ, nhưng không ngờ những đường của họ chọn lựa thường là những đường đầy dẫy chông gai, hầm hố, không khéo bước sẽ sụp té. Những sự hành động của con người thường trái ngược với Đạo Lư, v́ ít khi chịu suy nghĩ sâu xa.

          Ít ai biết rằng: Nhân loại là một khối duy nhất, những việc làm của một người có ảnh hưởng đến toàn thể. Phải là Bậc Siêu Phàm lên tới Cơi Niết Bàn mới thấy rơ Vạn Vật Nhất Thể.

          Ở Cơi Trần có được bao nhiêu người tin điều nầy là có thật. Nhưng lấy việc Trần mà nói: Ngay trước mắt chúng ta, đồng Quan Pháp, đồng Anh Kim hay đồng Mỹ Kim bị phá giá th́ làm xáo trộn nền kinh tế của tất cả các nước trên Hoàn Cầu, chớ không riêng ǵ ở Pháp, Anh hay Mỹ.

          Mới đây, sự thiếu hụt dầu hoả làm tê liệt kỹ nghệ của Thế Giới, nhiều cường quốc bị tổn thất nặng nề. Cả ngàn triệu người lâm vào cảnh khốn khổ: Lớp bị thất nghiệp, lớp bị thiếu hụt, lớp bị đói rét, v́ giá sinh hoạt tăng lên vùn vụt. Thiên hạ đều rên siếc thở than, chớ không phải chỉ có Do Thái chịu thiệt hại thôi.

          Bao nhiêu đây cũng đủ chứng minh sự sống của các Giống Dân đều liên kết mật thiết với nhau về sự suy sụp, cũng như về sự thịnh vượng chung.

 

VẠN  VẬT  NHẤT  THỂ

 

          Chúng ta chưa lên được Cơi Bồ Đề hay Cơi Niết Bàn th́ hăy tưởng tượng như vầy:

          Nhân loại không khác nào thân ḿnh con người. Mỗi người có nhiều tế bào trong thân ḿnh nhờ máu là sự sống nuôi dưỡng. Nếu lấy kim chích đầu ngón tay th́ khắp cả châu thân đều đau, chớ không phải riêng ǵ chỗ bị chích. Đây có nghĩa là: Tất cả Nhân Loại chỉ là Một Người.

          Trong quyển “Ánh Sáng Trên Đường Đạo” có câu nói về Vạn Vật Nhất Thể nơi qui tắc 5:

          “Hăy diệt mọi ư niệm chia rẽ.

          Đừng tưởng rằng con có thể sống riêng biệt với kẻ hung ác hay người điên khùng. Họ chính là con, mặc dù ở vào một tŕnh độ thấp kém hơn người bạn thân của con hay Sư Phụ con. Nhưng nếu con để trong tâm nảy nở ư nghĩ rằng con không liên đới với một vật nào hay một người nào, th́ do đó con sẽ tạo một Nghiệp Quả, nó trói buộc con vào vật đó hay người đó cho đến ngày nào Linh Hồn con nh́n nhận rằng nó không thể sống riêng biệt được nữa.

          Con hăy nhớ rằng: Tội lỗi và sự nhục nhă của nhân loại là tội lỗi và sự nhục nhă của con, bởi v́ con là một phần tử của nhân loại và Nghiệp Quả của con dệt chung với Đại Nghiệp Quả của nhân loại, không thể nào gỡ ra được.”

          Người học Đạo khá cao mới hiểu được ư nghĩa của câu nầy.

          Chơn Sư là những bậc Siêu Phàm, dùng được những quan năng mà người thường chưa biết. Các Ngài đă thấy nên nói một cách tuyệt đối, c̣n chúng ta ở trong ṿng Trần Tục mắt chưa mở sáng nên thường không tin và cũng không chấp nhận.

          Hăy xem 3 người kia:

          Một người đứng dưới đất nh́n ra đồng bằng.

          Một người nữa ở giữa triền núi ngó mông.

          Một người khác đứng trên chót núi quan sát cảnh vật.

          Lẽ tự nhiên là người ở trên chót núi thấy xa hơn người ở giữa triền, c̣n người ở giữa triền th́ thấy xa hơn người ở dưới đất.

          Vậy chỗ thấy của người nào cũng đúng cả, đúng theo vị trí của ḿnh. Những điều họ nói đều hữu lư, nhưng với lư cao, hoặc lư thấp, chớ không phải hoàn toàn vô lư. Vậy, căi cọ với nhau rất vô ích, vừa mất niềm hoà khí mà c̣n gây ra ác cảm. Muốn xét đoán, phải biết trường hợp của mỗi người và tŕnh độ hiểu biết của họ. Hăy kinh nghiệm đi rồi mới thấy lời Tiên Thánh sâu xa và hết sức đúng.

 

MUÔN  VẬT  MỘT  THỂ

 

          Nhân đọc quyển Hạ “Cổ Học Tinh Hoa” thấy bài thứ 124 “Muôn Vật Một Thể” của Trương Hoành Cừ tức là Trương Tải Tiên Sinh, một nhà Văn Sĩ trứ danh Đời Tống có những lời dạy đúng với chân lư. Vậy xin chép hai đoạn chót ra đây cho quí bạn xem.

          “Người ta với muôn vật cùng sinh ra ở trong Trời Đất, thế th́ cái ǵ có H́nh đều là Khí của Trời Đất, cái ǵ có Tính đều là Lư của Trời Đất. Vậy người với người là đồng loại, thời ta coi nhau như anh em ruột cả. Trong Vạn Vật, giống hữu tri, giống vô tri so với người tuy khác, song cũng tự Trời Đất sinh ra, th́ ta cũng coi như một bọn với ta cả.

          Phàm người trong Trời Đất đă là con Trời Đất hết, th́ vua, ta coi như người anh cả; đại thần, ta coi như người giúp anh cả; cụ già ta kính, là cốt quí bậc tôn trưởng ta; trẻ bé ta thương, là cốt yêu đàn con trẻ ta; bậc Thánh là anh em ta mà giống cha mẹ ta, bậc Hiền là anh em ta mà giỏi hơn ta; c̣n những người ốm đau, tàn tật, cô độc, goá bụa đều là anh em ta mà vất vả khổ sở, không biết nương tựa vào đâu vậy.”

(Trương Hoành Cừ)

          Tôi tin rằng: Nếu ai thực hành đúng như lời khuyên trên đây sẽ tiến mau và bước lần tới Cửa Đạo.

          Thiết tưởng cái chi Trời muốn th́ cái đó làm cho mỗi người đều được đẹp ḷng. Trời muốn cái chi?

          Trời muốn cho con người biết Bản Tánh Thiêng Liêng của ḿnh, thông hiểu Cơ Tiến Hoá, rèn luyện Tâm Tánh để mau trở nên trọn sáng, trọn lành. Trời muốn con người hưởng hoàn toàn hạnh phúc, nhưng v́ con người không tuân theo những lời dạy dỗ của các Vị Thánh Nhân, Hiền Triết, cho nên mới chuốc lấy những sự đau khổ vào ḿnh, v́ đă làm trái nghịch với Đạo Đức.

          Họ theo đuổi cái giả thay v́ cái thật. Ngày nào mà họ chưa biết phân biện hai điều trên th́ ngày đó họ chưa thuận theo lẽ Trời. Cho nên Hạnh Phân Biện là bước đầu tiên.

          Tuy nhiên, dù khi đă chọn lựa đi nữa, con vẫn phải nhớ rằng: Điều thật và điều giả có muôn h́nh vạn trạng, con vẫn phải chọn lựa giữa điều phải với điều quấy, điều quan trọng với điều không quan trọng, cái hữu ích với cái vô ích, điều chân thật với điều giả dối, điều ích kỷ với điều vô tư lợi.

          Chơn Sư nhấn mạnh về sự phân biện sự chân và sự giả.

          Xin nhắc lại: Cái mộng ảo đây là cái có thật, nhưng có cái tan đi trong chớp mắt, có cái c̣n thấy trong vài giờ, vài tháng, vài năm, chớ không phải là hoàn toàn không có.

          Trong câu nầy Chơn Sư nhắc lại mỗi bước, mỗi ngày, trong mọi việc phải phân biện luôn luôn. Thật ra ít có người suy nghĩ chín chắn. C̣n biết bao nhiêu điều ta chưa học hỏi, chưa kinh nghiệm, nếu ta hiu hiu tự đắc, tưởng ḿnh không lầm lạc, tới khi đụng đầu vào vách mới bật ngửa ra và thấy ḿnh c̣n khờ dại.

          Chúng ta hăy Tự Tỉnh, Tự Biết Ḿnh, Tự Khắc Kỷ th́ sẽ tiến mau. Chúng ta c̣n ở trong ṿng Trời Đất, bị Luật Luân Hồi , Nhân Quả chi phối vậy tại sao không lo học rành rẽ những Luật đó, và nương theo Chúng Nó để tiến tới mà lại hành động theo ư muốn sái quấy của ḿnh, bất chấp Luật Pháp và những sự đau khổ của kẻ khác. Như vậy sẽ lănh Quả ác. Nếu chưa thấy Quả tới liền nên hiểu: Có thứ Quả đến mau, có thứ Quả đến chậm, tuỳ theo bản tánh của sự hành động, nhưng sớm muộn ǵ nó cũng phải tới.

          Không phải dễ biết liền cái nào hữu ích nhiều, cái nào hữu ích ít, cái nào ích kỷ, cái nào vô tư lợi, bởi v́ mấy điều đó có nhiều mặt khác nhau và Cái Trí của chúng ta thật ra cũng chưa được sáng suốt lắm. Phải học hỏi cho rộng sâu, phải có nhiều kinh nghiệm, phải giữ chừng luôn luôn, phải cố gắng, phải cẩn thận từ trong tư tưởng, từ trong ư muốn, từ trong lời nói, từ trong việc làm để biết được bản tánh của chúng nó lành hay dữ, hầu tránh cái quấy. Được như vậy mới có thể ít lỗi lầm hơn trước.

          Quả thật trước khi làm việc chi đều phải suy nghĩ, kết quả sẽ rất mệt mỏi, khó nhọc và chậm chạp trong sự thực hành. Nhưng nên biết: Khi có thói quen th́ dễ phân biện mau lẹ. Chỉ cần ra công tập luyện lúc đầu thôi. Ta cứ lo mở ḷng Từ Bi, Bác Ái th́ ánh sáng của Trực Giác sẽ d́u dắt ta lần lần.

          Phải biết cách đổi tánh ích kỷ ra tánh vị tha.

          Thí dụ, trong sự ăn uống hằng ngày, ta hăy tự nói như vầy: “Cầu xin những thức ăn vô thân tôi và biến đổi ra khí lực để tôi dùng phụng sự nhân loại, làm những việc ích lợi cho kẻ khác, chớ không phải tôi mong mỏi được khoẻ mạnh để thoả thích những sự ham muốn ích kỷ và làm khổ cho đời.”

          Như vậy, ta diệt được sự ham muốn ích kỷ trong việc ăn uống. C̣n mấy việc khác cũng nên dùng phương pháp ấy. Ta chỉ sửa đổi mục đích của sự hành động cái dữ sẽ hoá ra cái hiền, cái xấu sẽ hoá ra cái tốt, thói ích kỷ sẽ biến thành tánh vị tha, ḷng Từ Bi, Bác Ái của ta sẽ mở rộng lần lần.

          Không khó khăn chi trong việc chọn lựa giữa điều phải và điều quấy, v́ những ai muốn theo Thầy đă nhất quyết làm lành với mọi giá.

          Người nào quyết theo Chơn Sư th́ nhất định làm lành, không khi nào làm ác, dầu cho việc đó đem lại cho ḿnh tiền muôn bạc vạn và quyền thế cao sang.

          Trong trường hợp nào cũng phải trung thành với lư tưởng cao siêu, không khi nào làm giảm giá trị của sự Thành Thật. Nếu không chân thật th́ rất c̣n xa Cửa Đạo và không hề gặp được Chơn Sư.

          Nhưng câu nầy không phải nói về Hạnh Kiểm mà thôi, nó cũng áp dụng vào việc thực hành nữa.

          Có người hỏi Đức Leadbeater: “Tôi muốn có Thần Nhăn, Thần Nhĩ, vậy tôi phải làm sao?” Luôn luôn Ngài trả lời: “Bước đầu tiên là phải làm cho thân thể nhẹ nhàng, phải chọn lựa những món ăn tinh khiết hạp với thể xác, tức là trường trai, kế đó là trau giồi Tâm Tánh cho thật tốt.

          Phải khắc kỷ từ trong tư tưởng, ư muốn cho tới lời nói và việc làm.

          Nói tóm lại là phải Thanh Khiết từ trong Tâm Hồn cho tới ngoài Thể Xác.”

          Hăy xem máy thu thanh: Cái máy tốt chừng nào th́ những bộ phận của nó càng mảnh mai chừng nấy.

          Nhưng con người luôn luôn muốn Bắt Cá Hai Tay: Vinh hoa,  phú quí cũng muốn; Thần Thông rộng lớn, phép tắc cao cường cũng muốn. Rơ ràng là túi tham không đáy.

          Lánh dữ cũng c̣n một nghĩa khác nữa là: Không nên chọn nghề nào phải sát hại thú vật và làm hại kẻ khác, như: Nghề hàng heo, nghề giết thú vật lấy da, lấy lông, nhất là lông chim con đặng làm những áo, những khăn choàng, hoặc buôn bán khí giới và buôn bán ma tuư.

          Những người nào c̣n ch́u theo sở thích của ḿnh là muốn theo Thế Tục “đúng mốt thời trang,” chớ không phải muốn theo Chơn Sư.

          Nhưng Con Người và Xác Phàm là hai cái khác nhau, và ư chí của Con Người không phải lúc nào cũng là ư muốn của Xác Thân. Khi Xác Thân của Con muốn điều chi, Con hăy ngừng lại và suy nghĩ xem có phải thật là Con muốn cái đó chăng?

          Chơn Sư dạy Alcyone phải phân biện Xác Thân và Con Người.

          Quả thật Con Người vốn là Linh Hồn ở trong Xác Thân. Xác Thân chỉ là một khí cụ để cho Con Người dùng tại Cơi Trần trong một thời gian sẽ phải bỏ nó. Đừng nói: “Con Người có Linh Hồn” mà phải nói: “Linh Hồn là Con Người” mới đúng sự thật.

          Nhưng luôn luôn Con Người cứ đinh ninh rằng: Xác Thân nầy là ḿnh, tất cả những tội lỗi đều do sự hiểu lầm nầy gây ra.

          Nếu mỗi người đều biết Xác Thân không khác nào một lớp áo của Con Người mặc để hoạt động, th́ chắc chắn Cơi Trần không có hỗn loạn như ngày nay, non nước đă thanh b́nh và dân chúng đều an cư lạc nghiệp.

          Cũng ít người biết Xác Thân có những sự ham muốn riêng tư trái nghịch với lẽ phải, nên Chơn Sư căn dặn Alcyone phải suy nghĩ kỹ lưỡng coi có phải thật là Alcyone muốn hay không hầu tránh những tai hại có thể xảy ra.

          Bởi v́ Con là Thượng Đế, và Con chỉ muốn điều nào Thượng Đế muốn mà thôi, nhưng Con phải đào sâu vào nội tâm để t́m ra Thượng Đế ở trong Con và lắng nghe lời Ngài nói, đó là lời nói của Con.

         

ĐI  SÂU  VÀO  NỘI  TÂM    NGHĨA  G̀ ?

 

          Đi sâu vào nội tâm tức là đi từ ngoài vô trong ḷng cho thật sâu. Nói một cách khác là Tham Thiền về Chơn Thần.

          Trong lúc Tham Thiền phải xem xét lần lượt 3 Thể: Thân, Vía, Trí rồi loại ra ngoài từ Thể nầy tới Thể kia.

          Trước nhất suy nghĩ về Xác Thân, xong rồi th́ nói: “Xác Thân không phải là Tôi.”

          Kế đó t́m hiểu Cái Vía. “Cái Vía cũng không phải là Tôi.”

          Rồi tới Cái Trí. “Cái Trí cũng không phải là Tôi.”

          “Tôi là Chơn Thần trường sanh bất tử. Tôi là chủ chúng nó. Chúng  nó là những khí cụ để cho tôi dùng trong một thời gian tại Cơi Trần mà thôi. Đúng ngày giờ th́ chúng nó sẽ tan ră. Chúng nó phải tuân theo mạng lịnh của tôi sai khiến.”

          Phải tham thiền như vậy nhiều năm mới mong nghe được “Tiếng Nói Vô Thinh,” tức là Tiếng Nói của Chơn Nhơn, đại diện cho Chơn Thần.

          Chơn Sư bảo Alcyone đi sâu vào nội tâm đặng t́m Đức Thượng Đế và nghe lời Ngài.

          Đức Thượng Đế đây là Chơn Thần, bởi v́ ngày sau Chơn Thần sẽ thành một Vị Thượng Đế.

 

CHƠN  THẦN    TRONG  M̀NH  TA

 

          Thật vậy, Chơn Thần ở trong ḿnh ta đúng như lời của ông Uddhalaka đă  nói khi ông dạy cho con biết rằng: Đâu đâu cũng có Tinh Thần của Thượng Đế.[14]

          Có bạn sẽ hỏi: Chơn Thần ở tại Cơi Đại Niết Bàn, làm sao ở trong ḿnh ta được?

          Đúng vậy, nhưng xin đừng quên 7 Cơi Trời ở trước mặt ta và trong ḿnh ta, bởi v́ các chất khí đều thâm nhập lẫn nhau,[15]  các Cơi đều xỏ rế với nhau. Thế nên trong ḿnh ta vẫn có đủ 7 Cơi Trời: Cơi Phàm Trần, Cơi Trung Giới, Cơi Thượng Giới, Cơi Bồ Đề, Cơi Niết Bàn, Cơi Đại Niết Bàn và Cơi Tối Đại Niết Bàn.

          Trái tim là khí cụ của sự sống trong con người, cho nên nó vẫn liên lạc với Phàm Nhơn, Chơn Nhơn và Chơn Thần nữa.

 

SỰ  CẤU  TẠO  7  THỂ  CỦA  CON  NGƯỜI  

         

          Nên biết rằng: Chẳng những 7 Cơi Trời ở trong ḿnh ta, mà 7 Thể của ta cũng cấu tạo bằng 5 chất khí làm ra 5 Cơi: Từ Cơi Niết Bàn cho tới Cơi Trần.

          Kể từ dưới lên như sau:

          1- Xác Thân (Corp Physique) cấu tạo bằng 3 chất khí thấp làm ra Cơi Trần gọi là chất đặc, chất lỏng và chất hơi.

          2- Cái Phách (Double ou Corp Éthérique) cấu tạo bằng 4 chất khí cao làm ra Cơi Trần gọi là 4 chất Dĩ Thái Hồng Trần (Ether Physique).

          3- Cái Vía hay là Tinh Quang Thể cấu tạo bằng 7 chất Thanh Khí làm ra Cơi Trung Giới hay là Cơi Tinh Quang (Plan Astral).

          4- Hạ Trí (Corp Mental Inférieur) cấu tạo bằng 4 chất Thượng Thanh Khí thấp cũng gọi là chất Trí Tuệ (Matière Mentale) làm ra Cơi Thượng Giới hay là Cơi Trí Tuệ (Plan Mental). Ấy là chất thứ tư, chất thứ năm, chất thứ sáu và chất thứ bảy.

          5- Thượng Trí (Corp Mental Supérieur) hay là Nhân Thể (Corp Causal)[16] cấu tạo bằng 3 chất Trí Tuệ cao làm ra Cơi Trí Tuệ hay là Cơi Thượng Giới. Ấy là chất thứ nhất, thứ nh́ và thứ ba.

          6- Kim Thân hay là Thể Bồ Đề (Corp Bouddhique) cấu tạo bằng 7 chất Thái Thanh Khí hay là chất Bồ Đề làm ra Cơi Bồ Đề cũng gọi là Cơi Trực Giác (Plan Bouddhique).

          7- Tiên Thể hay là Thể của Atma (Corp Atmique) cấu tạo bằng 7 chất Âm Dương Khí (Matière Atmique) làm ra Cơi Niết Bàn (Plan Atmique ou Nirvana).

          Con Người cũng có 3 Ngôi như Thượng Đế, cho nên kinh sách Đạo Đức mới gọi Con Người là Tiểu Thiên Địa.

          Học rành rẽ 7 Thể và điều khiển chúng nó được th́ Con Người thành một Vị Siêu Phàm, là một với Thượng Đế.

          V́ vậy mới có câu nầy khắc trên ngưỡng cửa của Thánh Điện Delphes: “Ngươi hăy biết Ngươi rồi Ngươi sẽ biết Vũ Trụ và các Vị Thượng Đế.”

          Nhưng muốn thấy rơ và hiểu rơ điều nầy cần phải mở Huệ Nhăn, v́ mắt phàm chỉ để xem những vật ở Cơi Trần mà thôi, và xin nhớ: Cơi nào, Thể nấy. Vấn đề rất khó, không thể giải làm sao cho người chưa biết Đạo hiểu được rành rẽ, v́ không thể quan niệm với trí óc cạn hẹp của chúng ta.

          Đừng lầm lộn các Thể của Con là chính Con, Thể Xác cũng như Thể Vía và Thể Trí của Con không phải là chính Con đâu. Trong ba Thể nầy, cái nào cũng tự xưng là Con để mong đạt được điều nó muốn. Nhưng Con phải biết rơ chúng nó và biết rằng: Con là chủ của chúng.

          Chơn Sư nhấn mạnh điều nầy để Alcyone nhớ.

          Ngài nói: Mỗi Thể như là một người riêng biệt, bởi v́ mỗi Thể đều có ư muốn riêng và hành động riêng, nó cũng có tánh nết, tốt, xấu, chẳng khác Con Người.

          Cho tới ngày nay và chắc chắn tới mai sau nữa, nếu Con Người không học Đạo th́ Con Người vẫn c̣n lầm lộn và chưa phân biện được cái nào thật là ư muốn của ḿnh, cái nào là ư muốn của Cái Vía hay Cái Trí.

          Chơn Sư dạy Alcyone biết tánh nết của 3 Thể để dùng phương pháp chữa trị, làm chủ chúng nó, và trở lại sai khiến lại chúng nó.

          Khi có việc phải làm th́ Thể Xác muốn nghỉ ngơi, muốn đi dạo chơi, muốn ăn uống; và người không sáng suốt sẽ tự bảo ḿnh: “Tôi muốn làm mấy việc nầy và tôi phải làm chúng.” Nhưng người hiểu biết sẽ bảo: “Điều này Thể Xác Tôi muốn chớ không phải là Tôi muốn, nó phải chờ.” Thường thường khi có dịp phải giúp đỡ ai th́ Thể Xác nghĩ rằng: “Việc đó làm cho tôi bực ḿnh quá; thôi, để người khác làm.” Nhưng Con Người sẽ trả lời với Thể Xác rằng: “Ngươi không được cản Ta làm việc phải.”

          Đoạn nầy tả tánh nết của Xác Thân. Trước nhất là tánh biếng nhác, không chịu làm bổn phận. Nó muốn tự do, thong thả, không bị câu thúc, ràng buộc. Nó muốn cái ǵ đẹp mắt, cái ǵ vui tai, cái ǵ ngon miệng, v.v… Quí bạn suy nghĩ sẽ biết, không lẽ nói trắng ra, đừng gọi là nhu cầu của xác thịt mà ch́u theo nó.

          Phải tập nó có tánh siêng năng hầu giúp đỡ kẻ khác và không bê trễ trong những công việc hằng ngày.

          Phải bắt buộc nó tuân theo mạng lịnh của ḿnh, phải làm những điều ḿnh muốn và hạp  với chánh lư.

          Phải bảo nó làm cái nầy, cái kia tập có thói quen làm những điều lành, điều phải. Nó có thói quen tốt, sau nầy mới điều khiển nó dễ dàng, thí dụ như việc công phu mỗi ngày, như: Tụng kinh, gơ mơ, đánh chuông, thắp nhang đúng giờ khắc, v.v…

          Chúng ta đừng quên điều nầy: Nếu chúng ta không giúp ai th́ chắc chắn không ai giúp chúng ta. Ấy là Luật Nhân Quả. Phải t́m dịp giúp người, chẳng những t́m dịp mà phải tạo ra cơ hội nữa. Phải có sáng kiến làm những việc phước thiện.

          Thí dụ: Có một ḍng nước nhỏ ngăn cách hai con đường. Hành khách muốn sang bờ bên kia phải dùng xuồng. Vậy ta hăy kêu gọi những Nhà Hảo Tâm chung đậu một số tiền làm một cái cầu bắt ngang qua ḍng nước. Nhờ vậy xe cộ và người bộ hành qua lại rất tiện lợi.

          Một xóm kia, dân chúng đông đúc nhưng trẻ con không có Trường Học, ta hăy xin Chính Quyền mở những lớp dạy chúng nó.

          C̣n thiếu chi việc khác, nhất là ở các Công Sở, mỗi ngày đều có nhiều dịp giúp người.

          Nếu ta gặp một người đui mù cầm gậy ḍ đường th́ chớ ngần ngại dắt y tránh những cây cối và xe cộ. Hăy t́m mua thuốc men cho người cô đơn đang đau, hăy an ủi người buồn rầu, nếu ta làm được việc đó.

          Nếu có đủ phương tiện mà không thực hành những điều nhỏ mọn như thế th́ ta chưa làm chủ được xác thân và tánh t́nh ta; nếu như vậy câu chuyện xả thân độ đời rất c̣n xa xôi đối với ta.

          Chơn Sư có nói với một vị Đệ Tử của Ngài như vầy: “Giờ phút nào mà con không lo giúp đời giờ phút đó đối với Ta đă mất rồi.”

          Thể Xác là con thú của con, là con ngựa để con cỡi. Vậy con phải đối đăi với nó tử tế và săn sóc nó cho kỹ; đừng bắt nó làm việc quá sức, phải nuôi nó đàng hoàng bằng thức ăn và thức uống tinh khiết mà thôi, và luôn luôn giữ nó thật sạch sẽ, không một mảy may dơ bẩn. V́ nếu không có một thể xác hoàn toàn tinh khiết và mạnh khoẻ, con sẽ không kham nổi công việc tập luyện khó nhọc, không thể chịu đựng được sự cố gắng không ngừng. Nhưng luôn luôn con phải kiểm soát xác thân của con, chớ không phải nó sai khiến con.

          Ta có một con ngựa, muốn cỡi nó đi xa ta phải nuôi dưỡng nó tử tế. Mỗi ngày cho nó ăn uống no đủ và săn sóc nó kỹ lưỡng. Như thế, nó mới có sức mạnh để cho ta đi ngoài trăm dặm trên con đường hành hương dài thăm thẳm.

          Xác thân ta đâu khác con ngựa ta cỡi, ta phải nuôi nó cho đúng phép vệ sinh và cho nó dùng những đồ ăn tinh khiết.

 

NHỮNG  THỰC  PHẨM  TINH  KHIẾT

 

          Ở đây Chơn Sư dùng hai chữ “Tinh Khiết,” chớ không nói là “Bổ Dưỡng.”

          Thịt cá bổ dưỡng, song người học Đạo không nên dùng, bởi v́ nó chứa những chất độc gọi là Purines, nó c̣n dẫn đường cho nhiều chứng bệnh hiểm nghèo như: Ung thư, đau ruột, kiết lỵ, dịch tả. Một lẽ khác là máu huyết, xương thịt thú vật đều chứa đựng từ điển và tánh nết của nó. Vô thân chúng ta máu huyết, xương thịt và từ điển thú vật biến thành máu huyết, xương thịt và từ điển của chúng ta.[17] Tánh nết chúng nó sẽ nhiễm tánh nết chúng ta. V́ thế, thân thể chúng ta không được tinh khiết, mặc dầu thịt là món ăn bổ dưỡng thật.

 

THỰC  PHẨM   NÀO  TINH  KHIẾT ?

 

          Chỉ có các thứ trái cây, sữa thảo mộc[18] và các thứ rau thường dùng thuộc về loại thực phẩm tinh khiết. Tuy nhiên, nên biết rau trái cũng như các thứ thuốc, có người hạp với thứ nầy, có người hạp với thứ kia.

          Phải ra công học hỏi xác thân, coi món nào hạp với nó và loại ra những món nó không ưa thích.

          Điều hay hơn hết là phải ăn gạo lứt và muối đen[19] mới đúng phép. Đừng ăn thường gạo trắng quá, mất hết cám là chất bổ dưỡng nhất mà có ngày phải mang bệnh Thũng.

 

MỘT  CÁCH  NẤU  GẠO  LỨT  RẤT  DỄ

 

          Nấu như thường, nhưng khi cơm sôi lấy đũa bếp quậy cho đều. Phải chịu khó quậy nhiều lần. Chừng cơm chín, hột gạo thật mềm, ăn rất ngon. [20]

 

PHẢI  ĂN  CHAY

 

          Xét về bộ tiêu hoá, nhất là hàm răng và ruột th́ con người thuộc về loài thú ăn cỏ như trâu ḅ, chớ không phải thú ăn thịt như: Cọp, beo, chồn, sói.

          Muốn giữ đúng Phép Vệ Sinh phải Ăn Chay. Nhưng có một điều nên tránh là:

          Người ăn mặn chớ nên nhạo báng người ăn chay là khờ dại.

          Và người ăn chay cũng đừng tưởng rằng ḿnh tinh khiết và cao hơn người ăn mặn.

          Ai ăn được cái chi th́ cứ ăn, miễn lo trau giồi Tâm Tánh cho thật tốt là điều hay hơn hết. Ngày sau sẽ chọn lựa được thực phẩm thích nghi.

 

CHAY  L̉NG    CHAY  MIỆNG

 

          Có người bảo: Chay ḷng hơn chay miệng. Lời nầy rất đúng, bởi v́ có người chay ḷng mà không chay miệng, có người chay miệng mà không chay ḷng. Nếu chay miệng mà tánh t́nh c̣n xấu xa, hung bạo, ích kỷ,[21] tật đố, không biết thương xót người nghèo khó, bệnh tật th́ c̣n thua xa những người ăn mặn mà ḷng dạ rất nhân từ, chân chánh, thành thật. Luôn luôn chay miệng và chay ḷng phải đi đôi với nhau, hiệu quả mới hoàn toàn tốt đẹp.

          Quả thật ăn chay[22] rất khó và phải biết cách ăn. Khó là tại cả ngàn đời Tổ Tiên ta dùng thịt cá, khi sanh ta ra nuôi ta với thịt cá, cho nên trong ḿnh ta máu huyết đă nhiễm mùi thịt cá. Hơn nữa, trừ ra vài trường hợp đặc biệt tất cả nhân loại đều dùng thịt cá. Thế nên không phải dễ đang ăn mặn mà bỏ đi, ăn chay liền, trừ ra những người có sẵn căn lành nhiều kiếp trước.

          Không biết cách ăn có thể sẽ yếu đuối, phát đau rồi thôi chay, ăn mặn lại như trước.

          Ư chí phải cứng cỏi, phải cương quyết trường chay và tập lần lần như:

          Một năm đầu: Sớm mai mặn, chiều chay.

          Năm sau: 6 tháng đầu: 15 ngày chay, nửa ngày mặn.

                             6 tháng sau: 2 tháng chay, nửa ngày mặn.

          Qua năm thứ ba: Trường chay được.

          C̣n vài cách khác nữa. Tuỳ tiện.

 

SỰ  ÍCH  LỢI  CỦA  THỰC  PHẨM  TINH  KHIẾT

         

          Ta nên biết: Trong Trời Đất vật nào cũng rung động và do sự rung động mà thành h́nh. Hai thứ rung động đồng một bậc với nhau th́ thu hút nhau.

          Thân thể dùng thịt cá có một cách rung động chậm chạp và thu hút những Thần Lực thấp thỏi hạp với nó.

          Người trường chay máu huyết trong sạch, cho nên có một cách rung động mau lẹ, thu hút được những Thần Lực thanh cao, đồng bản tánh với nó. Thân thể lần lần trở nên nhẹ nhàng.

          Đây là nói về phương diện Huyền Bí, nhưng cũng nên biết phải trường chay từ 21 năm sắp lên mới thấy hiệu quả tốt. Tại sao thế ?

          Bởi v́ mỗi kỳ 7 năm, da thịt và xương cốt ta thay đổi trọn vẹn một lần. Phải 14 năm trường chay tế bào mới bắt đầu đổi ra hoàn toàn mới.

 

PHẢI    TIẾT  ĐỘ

 

          Phải có điều độ trong việc ăn uống. Không nên ép xác, không nên ăn ít quá mà cũng không nên ăn quá sức chịu đựng của dạ dày.

          Bất cứ việc nào cũng vậy, đi quá mức trung b́nh sẽ có hại. Theo đúng nguyên tắc: Đói mới ăn, khát mới uống. Không đói đừng ăn, không khát đừng uống.

 

KHÔNG  NÊN  HÚT  THUỐC    UỐNG  RƯỢU

 

          Đừng Hút Thuốc và phải tránh xa các thứ Ma Tuư, chúng làm hại Xác Thân, Cái Phách và Cái Vía.

          Rượu, dưới h́nh thức nào cũng đừng uống. Nó làm hại các tế bào trong óc, các dây thần kinh, dạ dày, gan ruột, phổi. Đáng sợ hơn hết là rượu làm hại hai Cục Hạch quí nhất ở trong óc. Ấy là Hạch Mũi (Glande Pituitaire) và Hạch Óc (Glande Pinéale).

          Khi sưng Hạch Mũi, con người mắt mở trao tráo mà không thấy đường.

          Hư Hạch Óc th́ không chuyển di tư tưởng được.

          Phải biết mới sợ và nhất là phải Tiết Dục, sự giao hợp vô độ hại xác thân thác sớm và bạc nhược.

         

XÁC  THÂN    THỂ  RẤT  KHÓ  ĐIỀU  KHIỂN

 

          Trong 7 Thể của con người Xác Thân là Thể được cấu tạo hoàn toàn nhất.

          Nhưng các Nhà Huyền Bí Học đều nói rằng: Nó rất khó điều khiển, v́ một mặt phải làm cho nó nhạy cảm, một mặt nó phải lănh đạm với những điều thấp hèn. Hai việc nầy dường như trái ngược nhau. Phải bền chí và cố gắng mới thành công.

          Thể Vía[23] có sự ham muốn riêng của nó, cả hàng chục thứ, nó muốn con giận hờn, muốn con nói những tiếng nặng nề, muốn con ganh tị, tham lam tiền bạc, mong đoạt của thiên hạ, làm con thối chí ngă ḷng. Nó muốn tất cả những điều đó, và c̣n nhiều điều khác nữa, không phải v́ nó muốn hại con, mà v́ nó thích những rung động mạnh bạo và thay đổi chúng luôn luôn. Nhưng trong mấy điều trên con không thích điều nào cả, và v́ vậy con phải phân biệt giữa ư muốn của con với ư muốn của Thể Vía con.

          Đoạn nầy kể ra tánh nết không được tốt của Cái Vía.

          Thiết tưởng chúng ta nên t́m hiểu tại sao Cái Vía có mấy tánh đó.

          Có thể nói rằng: Cái Vía không có ư hại Con Người, nó không biết Con Người là ai.

          Cái Vía hay là Tinh Quang Thể làm bằng Chất Thanh Khí pha trộn với Tinh Chất Thứ Ba (3è Essence Élémentale) là Tinh Chất Dục Vọng (Élémental du Désir). Tinh Chất nầy ưa những sự rung động dữ dội là v́ ngày sau nó đầu thai vào Hàng Kim Thạch, thân ḿnh cứng rắn. V́ vậy nó ưa thích những sự rung động thô bạo.

 

TIẾNG  NÓI  CỦA  CÁI  VÍA    CÁI  TRÍ

         

          Cái Vía có tiếng nói ư ? Vừa nghe qua thật là kỳ dị, nhưng quí bạn hăy thí nghiệm điều nầy:

          Quí bạn hăy ngồi yên, đừng suy nghĩ hay tưởng nhớ ǵ cả trong hai phút thôi. Thời gian nầy chưa trôi qua quí bạn đă nghe trong ḷng có tiếng nhắc nhở quí bạn muốn cái nầy, cái kia, nhớ những chuyện qua rồi hay lo những việc sẽ tới.

          Tiếng nói đó không phải là tiếng nói của quí bạn, bởi v́ quí bạn không tưởng nghĩ cái chi cả. Tiếng nói đó cũng không phải là tiếng nói của Lương Tâm, bởi v́ quí bạn có làm cái chi sái quấy để bị Lương Tâm quở trách.

          Tiếng nói đó là tiếng nói của Cái Vía hay là của Cái Trí, tuỳ theo trường hợp.

          Có kinh nghiệm như vậy mới thấy mấy Thể khác với Con Người.

 

TẠI  SAO  CON  NGƯỜI  ĐỒNG  HOÁ  VỚI  CÁI  VÍA ?

 

          Cái Vía là một Thể, nó có sự ham muốn của nó. Nó cũng quỉ quyệt. Đứng riêng rẽ một ḿnh, nó không làm ǵ được. Nó không đáng sợ. Nhưng nó biết rằng: Nếu cấu kết được với Cái Trí th́ sự ham muốn của nó sẽ được thoả thích và tăng cường thêm.

          V́ vậy, nó thuyết phục Cái Trí, cả hai Thể nầy xúi giục Con Người thực hành những điều chúng nó muốn.

          Nếu Con Người chưa phân biện được điều nào thật là ư muốn của ḿnh, điều nào là ư muốn của Cái Vía hay là của Cái Trí th́ sẽ làm theo lời chúng nó xúi biểu. Con Người tưởng rằng điều đó do ḿnh muốn nên liền thực hành.

          V́ vậy nên có chuyện bị Lương Tâm[24] quở trách và có sự ăn năn, hối hận.

          Xin hiểu ở đây Con Người là Phàm Nhơn, chớ chưa phải là Chơn Nhơn hay là Linh Hồn, nhưng cần dùng danh từ Con Người để dễ hiểu.

 

TÁNH  CON  NGƯỜI

 

          Tánh Con Người là ǵ?

          Ấy là thói quen rung động hay là tánh nết của 3 Thể: Thân, Vía, Trí chớ không có chi lạ.

          Người nầy nói: Tánh tôi hay nóng.

          Người kia lại bảo: Tánh tôi hay buồn.

          Nói như thế các bạn đó đồng hoá ḿnh với cái tánh của ḿnh.

          Nóng nảy, giận hờn, buồn bực là những cách rung động khác nhau của Cái Vía. Mấy tánh không tốt đó làm hại cơ thể Con Người rất nhiều như: Tim, phổi, gan, thận, nhưng ít ai ngờ điều đó.

          Hăy nh́n người nóng giận có khi đỏ mặt, có khi xanh mặt, tuỳ theo hạng người. Sự hổ thẹn hay sợ sệt cũng vậy, làm cho trái tim hồi hộp. Sợ quá trái tim ngừng đập th́ chết liền, nhưng mừng quá cũng phương hại như vậy.

 

CÁCH  TINH  LUYỆN  CÁI  VÍA

 

          Muốn tinh luyện Cái Vía phải tập luyện những tánh tốt, nhưng nên nhớ: Phải bền chí và biết phương pháp.

          Nếu không thành tâm th́ đến trọn đời cũng không tập được một tánh tốt và diệt trừ được một tật xấu. Thật đúng là:

Giang sơn dễ đổi.

  Tánh nết khó thay.

          Xin nhắc lại: Nền tảng của Đạo là Đức. Không có Đức không học được Chánh Đạo. Chơn Sư chỉ thâu nhận làm Đệ Tử những sinh viên hạnh kiểm tốt và lo mưu cầu hạnh phúc cho quần sanh. Dầu cho có tài kêu mưa hú gió, chỉ đá hoá vàng mà không hội đủ những điều kiện do Luật Trời qui định th́ không thể nào bước vào Cửa Đạo được.

          Tôi xin đưa ra 12 đức tánh sau đây[25] làm kiểu mẫu. Quí bạn có thể sửa đổi tuỳ theo sở thích của quí bạn, nhưng đức tánh đầu tiên Từ Bi Bác Ái phải tập trước nhất. Bởi v́ không có ḷng Từ Bi Bác Ái th́ mấy tánh kia dù có đi nữa, chúng cũng giống như nước đổ trên cát bị rút đi mất hết.

          12 đức tánh đó là:

          1- Từ Bi Bác Ái. 2- Bố Thí. 3- Chân Thật. 4- Kiên Nhẫn. 5- Khoan Dung. 6- Khôn Khéo. 7- Thăng Bằng. 8- Thanh Khiết. 9- Tự Tín. 10- Can Đảm. 11- Hy Sinh. 12- Phụng Sự.

          Mỗi tháng tập một đức tánh, trọn năm được 12 đức tánh. Qua năm sau tập lại như năm trước. Khởi sự tháng nào cũng được, không cần đợi tới Tháng Giêng mới tập đức tánh thứ nhất.

          Tập được từ 12 năm trở lên mà không gián đoạn sẽ hoàn toàn đổi mới và trở thành một vị Thiện Nhân. Tâm Trí càng ngày càng thêm sáng suốt và mở rộng hơn trước. Từ đó trọn đời, mỗi ngày cứ tưởng đến đức tánh phải tập.

          12 đức tánh nầy biến thành những tánh t́nh của ta. Kiếp sau, khi tái sanh, ta có sẵn những mầm của 12 đức tánh trong ḷng, người ta gọi là Thiên Phú.

          Thiên Phú không phải là Trời cho như nhiều người lầm tưởng, nhưng chúng nó do sự luyện tập của Con Người từ kiếp trước.

          V́ thế cho nên ta thấy tánh nết của đứa trẻ nầy khác hơn tánh nết của đứa trẻ kia, nhưng nói một cách tổng quát: Tánh tốt th́ ít mà tánh xấu lại nhiều.

 

PHƯƠNG  PHÁP  LUYỆN  TẬP

 

          Mỗi sớm mai khi thức dậy, rửa mặt mày xong xuôi th́ ngồi lại trên ghế hay trên ván cũng được, và suy nghĩ như vầy:

          Thí dụ: Sao là Từ Bi Bác Ái?

          Tại sao phải có ḷng Từ Bi Bác Ái?

          Tôi phải làm cách nào để giúp đỡ những người đau ốm, bệnh hoạn, tật nguyền, đói rét, cô đơn, già yếu, những người thất nghiệp, dốt nát, khờ dại, những trẻ côi cút không ai đoái hoài, v.v…

          Rồi tự ḿnh t́m giải đáp mấy câu hỏi nầy.

          Mấy tánh kia cũng tập như vậy.

 

THỰC  HÀNH

 

          Suy nghĩ đến tánh tốt chưa đủ, phải đem nó ra thực hành khi có cơ hội đưa đến.

          Mỗi ngày, thiết tưởng không thiếu chi cơ hội mở rộng ḷng nhân, chẳng hạn trong lúc ta làm việc tại Công Sở, Tư Sở hoặc là khi đi đường.

          Càng có kinh nghiệm th́ càng giúp ích được nhiều và càng trở nên khôn khéo hơn trước. Như trước đây tôi đă nói: Chỉ có thói quen. Phải tập cho có thói quen làm những việc cao quí, tốt đẹp, ngày sau sẽ hành động dễ dàng, và không ngần ngại.

 

SỰ  CẢM  XÚC    TRONG  CÁI  VÍA  CHỚ  KHÔNG  PHẢI    TRONG  XÁC  THÂN

 

          Mấy lời nầy làm ngạc nhiên những bạn chưa học Đạo, vậy tôi xin đem những thí nghiệm của ông Hector Durville để chứng minh.

 

NHỮNG  THÍ  NGHIỆM  CỦA  ÔNG  HECTOR  DURVILLE  VỀ  NGŨ  QUAN

 

          Trong quyển “Cái Vía” và quyển “Đạo Lư Thực Hành” tôi có thuật những thí nghiệm của ông Hector Durville về ngũ quan. Ở đây tôi xin tóm tắt câu chuyện.

 

1- VỀ  XÚC  GIÁC  (SỰ  ĐỘNG  DẠNG)

 

          Ông Hector Durville thâu thần Đồng Tử rồi cho Cái Vía của y xuất ra khỏi Xác và ngồi trên cái ghế cách xa đó từ 1 tới 3 thước.

          Ông làm một cái H́nh Nhân bằng sáp để trong Cái Vía. Chất Thanh Khí làm thành Cái Vía dính vào châu thân H́nh Nhân một ít.

          Đoạn ông dùng kim châm Đồng Tử, người Đồng Tử không nghe đau. Trái lại, chích H́nh Nhân chỗ nào th́ trong ḿnh Đồng Tử đau chỗ đó.

          Có một lần, Viên Thư Kư của ông Hector Durville bỏ H́nh Nhân vô túi định đem về nhà để học. Anh nầy để H́nh Nhân ở ngoài cửa sổ và quên đi. Lúc đó, nhằm tiết Trời Đông lạnh lẽo vô cùng. Đồng Tử đang ở trong nhà bỗng phát lạnh run, cứ đắp mền và uống rượu mạnh cũng không ấm. Trọn 5 ngày Đồng Tử nằm liệt trên giường. Qua ngày thứ 6 anh bớt lạnh bèn lại hỏi ông Hector Durville. Viên Thư Kư sực nhớ anh bỏ quên H́nh Nhân ở ngoài cửa sổ. Ông Hector Durville hối anh chạy về nhà lấy. Khi anh đem H́nh Nhân lại, Đồng Tử để H́nh Nhân trên ngực trong 10 phút, thân ḿnh anh ấm áp lại như cũ, v́ Cái Vía của anh rút hết chất Thanh Khí đă dính trong H́nh Nhân.

 

2- THỊ  GIÁC  (SỰ  THẤY)

 

          Thí nghiệm cuối tháng 10/1907 từ 5 giờ tới 6 giờ trong tối.

          Cô Đồng Edmee xuất Vía ngồi trên ghế cách cái Xác lối 3 thước.

          Lần thứ nhất ông Gaston Durville đưa sau ót Cái Vía của Cô Đồng một cái đồng hồ.

          Cô Đồng nói: “Tôi thấy một vật trắng và tṛn, nó chạy như một cái máy, nó làm ra tiếng. Ấy là tiếng tíc tắc của một cái đồng hồ lớn.”

          Lần thứ nh́ ông đưa sau ót Cái Vía Cô Đồng một cái bao thơ dán kín.

          Cô Đồng nói: “Tôi thấy hai vật tṛn như đồng xu.”

          Hỏi: Có phải là tiền không?

          Đáp: Phải.

          Hỏi: Màu ǵ?

          Đáp: Màu vàng, nhưng không phải, ấy là màu vàng đỏ.

          Hỏi: Có phải là đồng xu không?

          Đáp: Không, ấy là vàng.

          Hỏi: C̣n ǵ nữa?

          Đáp: C̣n bạc, ấy là những giấy bạc.

          Măn cuộc, người ta mở bao thơ ra trước mặt những người chứng. Người ta thấy hai tấm giấy bạc và hai đồng 20 quan bằng vàng.

 

3- THÍNH  GIÁC  (SỰ  NGHE)

 

          Cô Đồng Marthe xuất Vía ra ngồi trên ghế dựa cách cái Xác lối một thước.

          Người ta để cái đồng hồ phía lỗ tai trái, rồi phía trên bụng, và dưới chân Cái Vía Cô Đồng. Cô Đồng nghe rơ tiếng tíc tắc của đồng hồ chạy.

          Đem đồng hồ kê vào lỗ tai phía sau ót, phía trên bụng và dưới chân của cái Xác th́ Cô Đồng không nghe ǵ hết.

 

4- KHỨU  GIÁC  (SỰ  NGỬI)

 

          Cô Đồng Edmée xuất Vía.

          Bác Sĩ Pau de Saint Martin kê vào lỗ mũi của Xác Cô Đồng ve Nước Đái Quỉ (Ammoniaque) gần một phút đồng hồ mà Cô Đồng không có cảm giác chi cả. Bác Sĩ liền kê ve Nước Đái Quỉ vào lỗ mũi Cái Vía th́ Cô Đồng lấy tay bịt mũi và nói: “Nó hôi quá!”

          Bác Sĩ bèn cho Cái Vía Cô Đồng ngửi Dầu Chanh (Bergamote), Cô Đồng nói: “Mùi nầy thơm.”

          Ông bèn kê ve Dầu Chanh vô lỗ mũi cái Xác Cô Đồng không biết  mùi ǵ cả. Bác Sĩ nói: “Tôi cho Cô ngửi Dầu Thơm,” nhưng Cô Đồng trả lời: “Tôi không ngửi mùi ǵ cả.”

          Lần thứ nh́ thí nghiệm với Cái Vía của Cô Léontine.

          Lần thứ ba thí nghiệm với Bà Vix.

          Trong hai lần nầy, cũng là Cái Vía biết mùi, c̣n Cái Xác không biết mùi ǵ hết.

 

5- VỊ  GIÁC  (SỰ  NẾM)

 

          Ngày thí nghiệm: 12 December 1907.

          Đồng Tử xuất Vía là Cô Leontine.

          Ông Hector Durville để trong tay Cái Xác Cô Đồng một miếng Lư Hội (Aloès) bảo Cô đút vô miệng nhai rồi cho ông biết nó ngon không? Cô Đồng Leontine nhai rồi nói: “Không có mùi vị chi hết.”

          Ông bèn lấy một vị thuốc đắng tên Quassia. Ông bảo Cái Vía Cô Đồng hả miệng ra, ông đút thuốc đó vô miệng rồi dặn Cô ngậm miệng lại. Ông hỏi: “Vị Cô ngậm ra sao?” Cô trả lời: “Nó không ngon, đắng quá!”

          Ông để vô miệng Cái Vía miếng Lư Hội. Cô Đồng nói: “Nó không ngon, nó đắng lắm!”  Ông lấy miếng Lư Hội ra, ông cho Cái Xác Cô Đồng ngậm th́ Cô Đồng nói: “Không có mùi vị chi cả.”[26]

 

TẠI  SAO  NGÀY  NAY  KHÔNG  AI  LẶP  LẠI  NHỮNG  THÍ  NGHIỆM  NẦY ?

 

          Đọc đoạn nầy chắc chắn có bạn thắc mắc tại sao ngày nay không có ai lặp lại được những thí nghiệm của ông Hector Durville? V́ lư do nào các Nhà Khoa Học giữ thái độ im lặng về vấn đề đó?

          Tôi xin trả lời liền: Phải là Nhà Huyền Bí Học lăo luyện về Phép Thâu Thần mới làm cho Cái Vía xuất ra khỏi Xác và hiện h́nh được. Trong lúc ấy phải dùng bùa phép bảo vệ Cái Vía và Xác Thân Đồng Tử, bởi v́ khi Cái Vía hiện ra, nó bị bệnh chỗ nào th́ Xác Thân bị bệnh chỗ đó. Nếu Sợi Từ Khí vô h́nh màu trắng bạc cột dính Cái Vía với Xác Thịt đứt ngang th́ con người chết ngay, không phương cứu chữa.

          Những bọn quỉ quái ở Trung Giới không thích bên Chánh Đạo, họ chực sẵn để hăm hại, v́ vậy phải đề pḥng từ chút. Hiện giờ ở ngoài đời, khắp hoàn cầu chưa có một ai tài giỏi như ông Hector Durville. Không ai dám mạo hiểm làm những điều quá sức tưởng tượng để rước lấy những thất bại và mang tai hoạ vào thân, nếu Đồng Tử chết ngay trong lúc thí nghiệm.

          Một lẽ khác nữa các Nhà Bác Học măi t́m kiếm trong ṿng Vật Chất, không tin có Linh Hồn là phần Tinh Thần, là Sự Sống, cứ tin rằng Xác Thân là Con Người, thác rồi tan ra tro bụi, có chi gọi là Luân Hồi và Nhân Quả. Thuyết Vô Thần là nguyên nhân của những sự hỗn loạn và những sự đau khổ ở Cơi Trần hiện giờ.

          Ngày nay, khắp Hoàn Cầu có nhiều Nhà Bác Học khảo cứu Khoa Pháp Môn Huyền Bí. Các Ngài thâu thập được nhiều kết quả tốt đẹp, nhưng giữ thái độ im lặng, v́ không thể nào trưng ra những bằng chứng cụ thể như những thí nghiệm trong Pḥng Hoá Học.

          Những Luật chi phối các Cơi trên khác hẳn những Luật Vật Lư Hồng Trần. Không thể cân lường hay đo được; quan sát với con mắt thường sẽ lầm ngay, mặc dầu dùng những Kiến Hiển Vi phóng đại tới cả triệu lần cũng không thấy được những Nguyên Nhân của những sự vật hiện hữu đó, chúng nó vốn ở những Cơi Vô H́nh. Phải dùng Mắt Thánh của mấy Thể cao siêu hơn Xác Phàm mới thấy rơ.

          Dầu sao, các Nhà Đạo Đức rất cám ơn ông Hector Durville, v́ những thí nghiệm của ông chứng chắc những cảm giác, những ham muốn, những đắm mê, những dục t́nh vốn ở trong Cái Vía, chớ không phải ở trong Xác Thân như bấy lâu nay người ta lầm tưởng.

          Những sự rung động ở ngoại giới theo ngũ quan nhập vào Cái Phách, kế sang Cái Vía. Cái Vía bèn biến đổi chúng ra cảm giác và truyền qua Cái Trí. Cái Trí phân tách, chọn lọc, và tạo ra một khái niệm.

          Mới nghe qua tưởng là lâu lắm, nhưng 3 Thể: Thân, Vía, Trí chằng chịt với nhau và liên lạc rất mật thiết. Những rung động từ Thể nầy truyền qua Thể kia mau như chớp nhoáng, có thể nói hơn tốc độ của ánh sáng, tức là hơn 300.000 cây số trong một giây đồng hồ.

          Ai có kinh nghiệm th́ biết: “Thật Ta là Con Người,” Ta khác với những Thể của Ta dùng và nên cố gắng khắc phục chúng nó.

          Thể Trí của con ưa thói kiêu căng, chia rẽ, ưa vị kỷ chớ không vị tha. Dù khi con đă xoay Thể Trí con ra khỏi sự vật Trần Gian, nó vẫn cố giữ tính ích kỷ, làm sao cho con nghĩ đến sự tiến hoá riêng của con thay v́ nghĩ đến công việc của Thầy và giúp đỡ kẻ khác. Khi con thiền định, nó sẽ cố làm sao cho con nghĩ đến nhiều việc khác mà nó thích thay v́ một vấn đề duy nhất mà con đang muốn suy tư. Con không phải là Thể Trí nầy đâu, nhưng nó là của con để con dùng, thế nên Hạnh Phân Biện lại là điều cần thiết thêm ở đây. Con phải luôn luôn cảnh giác, nếu không con sẽ thất bại.

          Chúng ta thường nói: Tôi tưởng cái nầy, tôi tưởng cái kia. Thật ra trong 10 lần, hết 9 lần Cái Trí tưởng, chớ không phải là ta tưởng. Ta tưởng có 1 lần thôi.

          Phải tập cho được việc kiểm soát tư tưởng mới biết điều vừa nói trên đây là đúng. Ngày nào ta chưa làm chủ được Cái Trí, ngày đó tư tưởng ở ngoài nhập vào Trí ta hồi nào ta không hay; nó ở bao lâu rồi ra đi, ta cũng không biết.

          Cái Trí lanh lẹ lắm. Nó giống như con bướm, vừa đáp xuống bông nầy kế bay qua bông kia liền. Nó đâu có khác đứa con nít nhỏ, không ngồi yên một chỗ được lâu. Cần chạy đầu nầy, đầu kia, múa tay, múa chân.

          Tại sao vậy? Ấy v́ Chất Khí làm ra Cái Trí gọi là Chất Thượng Thanh Khí hay là Chất Trí Tuệ rung động mau lẹ vô cùng. Bởi thế Cái Trí rất lau chau.

          Trên Đường Đời hay trong Cửa Đạo, bắt buộc được Cái Trí và Cái Vía vâng theo mạng lịnh sai khiến của ḿnh sẽ học hỏi mau thông, kiến thức mở mang sâu rộng và tâm tánh mau trở nên tốt đẹp.

          Muốn làm chủ Cái Trí, công việc đầu tiên là phải Tập Định Trí. Phải tập trung tư tưởng vào công việc đang lo, dầu cho Cái Trí xúi giục ta nhớ tới cái nầy, cái kia cũng đừng nghe theo nó, đừng làm theo lời gọi của nó.

 

MỘT  CÁCH  ĐỊNH  TRÍ  DỄ  DÀNG

 

          Có nhiều cách Định Trí, nhưng cách dễ hơn hết do Trời phú cho ta là: Lo lắng công việc hằng ngày. Đừng cho Cái Trí xao lảng.

          Nếu ngồi viết th́ cứ lo viết, quét nhà cứ lo quét nhà, rửa chén cứ lo rửa chén, giặt đồ cứ lo giặt đồ, v.v… Phải chú ư vào công việc ḿnh đang làm và làm một việc thôi. Xong việc nầy rồi mới bắt qua việc khác. Trong lúc làm việc đừng nói chuyện tầm phào, đừng để Cái Trí vẩn vơ.

          Đừng cho việc làm nào đó thấp kém không xứng đáng cho ḿnh làm. Công việc nào cũng thiêng liêng cả. Quả thật tại Cơi Trần nầy có việc lớn, có việc nhỏ, tuy nhiên Cách Làm Việc mới là quan trọng, v́ nó làm tăng hay là giảm giá trị con người.

 

 

NÊN  BIẾT  NHỮNG  PHẢN  ỨNG  CỦA  CÁI  TRÍ

 

          Cũng nên biết những phản ứng của Cái Trí. Nó rất lẹ làng không ai ngờ được. Khi nó nghe một tiếng động hay thấy một vật ǵ đi qua th́ muốn t́m hiểu tiếng đó hay là vật đó liền.

          V́ thế, nếu chưa Định Trí được, chưa sửa trị Cái Vía được th́ đừng nói tới việc Tham Thiền.

          Vừa ngồi xuống Cái Vía liền đ̣i hỏi những điều nó ham muốn, c̣n Cái Trí bắt buộc ta nhớ Đông, nhớ Tây, nhớ Nam, nhớ Bắc. Như vậy dầu cho ngồi 30 ngày, chớ đừng nói nửa giờ cũng không có kết quả tốt đẹp nào hết.

          V́ lẽ ấy mà Chơn Sư căn dặn Alcyone phải đề pḥng từ li, từ tí. Đừng để bị Cái Trí lôi cuốn mà quên điều phải thực hành.

          Dầu ở trường hợp nào sự phân biện cũng cần thiết.

          Phải làm như tên lính canh, mắt ngó 4 Phương, tai nghe 8 Hướng, không được phút nào xao lảng.

          Đây là ḿnh tự canh chừng ḿnh, chớ không phải giữ ǵn của cải cho ai, thờ ơ sẽ thất bại.

 

8  GIAI  ĐOẠN  CỦA  RAJA  YOGA

 

          Raja Yoga có 8 Giai Đoạn mà Định Trí (Dharana) thuộc về Giai Đoạn thứ sáu.

          8 Giai Đoạn nầy là:

          1- Yama: Giới.

          2- Niyama: Luật.

          3- Asana: Tư Thế.

          4- Pranayama: Điều Tức.

          5- Pratyahara: Kiểm Soát Giác Quan.

          6- Dharana: Định Trí.

          7- Dhyana: Tham Thiền.

          8- Samadhi: Đại Định.

          Ba Giai Đoạn chót (6, 7, 8) nầy gọi là Samyama.

          Trước hết phải giữ Giới, Luật, không trau giồi Hạnh Kiểm th́ không bao giờ học được Chân Truyền. Trước hết sinh viên cần có tánh nết thật tốt, Đạo Sư mới dạy các Tư Thế và Điều Tức.

          Tôi xin lặp lại một lần nữa: Hơi Thở của Con Người liên quan mật thiết với Hơi Thở của Thượng Đế, tức là Hơi Thở của Vũ Trụ.

          Mỗi người, tuỳ theo Cung Mạng, đều có hơi thở khác nhau. Những tế bào trong ḿnh đều theo chiều hướng của hơi thở. Phải là một vị Đạo Sư có Huệ Nhăn mới thấy và biết hơi thở của sinh viên theo chiều hướng nào.

          Sửa đổi sái cách làm đứt mạch máu ở trong óc, trong phổi, sẽ thành phế nhân hay là bỏ mạng.

          Hăy xem gương của Brahma trong quyển “Ấn Độ Huyền Bí” (L’Inde secrète) dịch là “Đông Phương Huyền Bí” trang 50, anh suưt bỏ mạng, v́ coi theo sách luyện tập hơi thở một ḿnh. Tôi nói đây là thở theo Hatha Yoga, c̣n thở theo môn Thể Dục Âu Tây th́ không hại chi cả.

          Phải đi từ chỗ thấp đến chỗ cao, từ chỗ dễ đến chỗ khó.

          Nói cho đúng, Yoga là một cách luyện Đạo như tập Vơ Nghệ. Biết phương pháp và bền chí th́ thành công và sẽ có những quyền năng phi thường.

          Phương pháp đây là Phương Pháp Bí Truyền, c̣n những Tư Thế Yoga vẽ trong sách để bán vốn thuộc về Công Truyền, nhưng có nhiều Tư Thế rất nguy hiểm.

 

MUỐN  GIÚP    TẠO  HOÁ  CẦN  PHẢI  ĐÀO  TẠO  THANH  NIÊN  LÚC  C̉N    THƠ

 

          Ta biết rằng: Muốn bước vào Cửa Đạo, đức tánh đầu tiên phải tập cho kỳ được là Tánh Phân Biện. Phải biết việc nào lành, việc nào dữ sẽ chọn lựa được điều Chánh, bỏ điều Tà.

          Chuyện nầy đâu phải là chuyện dễ làm, bởi v́ 3 Thể: Thân, Vía, Trí của ta, mỗi Thể đều có một thói quen riêng biệt, làm ra tánh nết của nó, chúng trở thành cứng đầu, cứng cổ, ngỗ nghịch vô cùng, không dễ sửa trị chúng nó trong vài ngày hay vài tháng.

          Vậy muốn giúp Cơ Tiến Hoá, điều hay hơn hết là phải Giáo Dục Trẻ Em lúc chúng c̣n Thơ Ấu, v́ những lư do nên biết sau đây:

          Hài nhi không có Cái Vía và Cái Trí như lúc trưởng thành. Hai Thể nầy là hai ṿng hào quang trong trẻo, chưa thành h́nh. Chúng thu hút những ư muốn, tư tưởng, t́nh cảm và lời nói của người khác như bông đá hút nước.

          Đừng quên rằng: Ư muốn và t́nh cảm là thức ăn nuôi Cái Vía, cũng như tư tưởng là thức ăn của Cái Trí. Tiếc thay! Những thức ăn nầy thường thường là không tốt, bởi v́ trong số 1.000 tư tưởng, ư muốn và t́nh cảm, có đến 950 thứ rất tồi tệ; 45, 46 thứ vừa vừa; c̣n lại 4, 5 thứ gọi là khá. Hy vọng trong 100.000 tư tưởng mới có 1 tư tưởng thật tốt.

          V́ vậy có thể nói rằng: Mầm những tánh xấu trong ḷng đứa nhỏ bị tư tưởng và t́nh cảm đê tiện nuôi dưỡng nên phát triển mau lẹ, c̣n mầm những tánh tốt v́ ít có đồ ăn nên dường như khô héo.

          Như vậy lớn lên đứa nhỏ làm sao thành một vị Thiện Nhân được.

          Mầm những tánh nầy ở đâu mà ra? Các bạn sẽ hỏi như thế.

          Tôi xin nói: Chúng là kết quả những tánh của người ấy tạo ra trong kiếp trước và có ghi lại bằng những làn rung động trong 3 Phần Tử sau đây:

          Một là: Hột Lưu Tánh Nguyên Tử hay là Nguyên Tử Trường Tồn của Xác Thân (Atome Permanent Physique).

          Hai là: Hột Lưu Tánh Nguyên Tử hay là Nguyên Tử Trường Tồn của Cái Vía (Atome Permanent Astral).

          Ba là: Phân Tử Trường Tồn của Cái Trí (Molécule Permanent Mentale ou Unité Mentale).

          Vấn đề nầy cực kỳ khó khăn, xin quí bạn nhớ hai điểm chánh nầy:

 

ĐIỂM  THỨ  NHỨT

 

          Sau khi con người thác rồi một ít lâu, 3 Thể thấp: Thân, Vía, Trí (Hạ Trí) đều tan ră, nhưng:

          1- Xác Thân để lại một Nguyên Tử gọi là Nguyên Tử Trường Tồn ghi bản tánh tốt, xấu và những sự kinh nghiệm của Xác Thân.

          2- Cái Vía để lại một Nguyên Tử gọi là Nguyên Tử Trường Tồn ghi bản tánh tốt, xấu và những sự kinh nghiệm của Cái Vía.

          3- Hạ Trí để lại một Phân Tử gọi là Phân Tử Trường Tồn ghi bản tánh tốt, xấu và những sự kinh nghiệm của Hạ Trí.

          Ba Phần Tử nầy cột dính vào một sợi dây làm bằng Chất Bồ Đề gọi là Su-trắt-ma (Soutratma) và nằm trong Thượng Trí.

 

ĐIỂM  THỨ  NH̀

 

          Ngày sau, đúng kỳ con người đi đầu thai lại Cơi Trần, một lần nữa 3 Phần Tử nầy hoạt động trở lại như trước.

          Các Thiên Thần coi theo 3 Phần Tử nầy để tạo ra 3 Thể: Thân, Vía, Trí của hài nhi. V́ Luật Nhân Quả mà 3 Thể mới nầy đồng bản tánh với 3 Thể kiếp trước. Thế nên trong Đạo Đức có nói: Kiếp nầy là kết quả kiếp trước, c̣n kiếp sau là kết quả của kiếp nầy.

          Phải gieo trồng Giống Tốt kiếp nầy sang kiếp sau mới gặt hái Quả Lành.

          Nhưng cũng phải đề pḥng hoàn cảnh, v́ thường thường hoàn cảnh tốt đào tạo đứa nhỏ ra người tốt, c̣n hoàn cảnh xấu đào tạo đứa nhỏ ra người xấu, v́ tư tưởng và t́nh cảm truyền nhiễm.[27]

          V́ mấy lẽ trên đây mà cần nuôi dưỡng hài nhi và trẻ con trong một bầu không khí thanh bai, yên tịnh, dịu dàng giúp mầm những tánh tốt đâm chồi, mọc nhánh mau lẹ, c̣n mầm những tánh xấu sẽ khô héo lần lần.

          Chuyện Mạnh Mẫu chọn 3 lần vùng cho con ở, nhờ vậy Thầy Mạnh trở thành một vị Á Thánh, là gương sáng cho muôn đời sau soi chung.

          Ở đời muốn trị bệnh phải trị tận gốc, nếu trị cái ngọn th́ bệnh có thể hết trong một thời gian, nhưng sau sẽ phát sinh lại như trước.

          Nguồn gốc của các tội lỗi là ư muốn xấu xa của 3 Thể: Thân, Vía, Trí. Thế nên Chơn Sư bảo Alcyone “Đừng lầm lộn các Thể của con là chính con, . . . . . . . Nhưng con phải biết rơ chúng nó và biết rằng con là chủ của chúng.”

 

CỘI  RỄ  DANH  TỪ  TAM  ĐỘC :  THAM,  SÂN,  SI.

 

          Tiện đây tôi xin nói vài lời về Tham, Sân, Si mà Phật Giáo gọi chung là Tam Độc.

          Danh từ Tam Độc không phải do Phật Giáo tạo ra, nhưng do dịch 3 chữ Phạn: Raga, Dosa và Moha.

          Raga: Pháp dịch là Désir: Sự Ham Muốn; Tàu dịch là Tham.

          Dosa:  Pháp dịch là Colère, Haine: Giận Hờn, Oán Ghét; Tàu dịch là Sân hay là Sân Hận.

          Moha: Pháp dịch là Erreur, Illusion: Sự Lầm Lạc, Ảo Mộng, Huyễn Tưởng; Tàu dịch là Si, Ngu Si, Mê Muội, không thấy lẽ Chánh, theo đường Tà, Tà Kiến.

          Tham, Sân, Si ở đâu mà ra?

          Tham, Sân, Si là tánh xấu của 3 Thể: Thân, Vía, Trí. Người ta cũng gọi những tánh xấu nầy là Tam Bành Lục Tặc.

          Xác Thân ham ăn uống, ngủ nghê, ưa chơi đùa, tức là Tham và Si.

          Cái Vía mê sắc, tham tài, ưa nóng nảy, giận hờn, tức là Tham, Sân và Si nữa.

          Cái Trí tánh kiêu căng, phách lối, chia rẽ, không biết phục thiện, không định vào một chỗ cho lâu, bày mưu sâu kế độc hại người, gây ra những Quả xấu, tức là Sân, thêm Si và thêm Mê.

          3 Thể: Thân, Vía, Trí khi c̣n thô tục th́ gây ra muôn vàn tội lỗi cho con người. Sau khi Tinh Thần Hoá chúng nó rồi th́ chúng nó là chiếc Bè Từ đưa con người qua Bờ Giác.

 

THAM  THIỀN  ĐĂ    TỪ  THUỞ  KHAI  THIÊN  TỊCH  ĐỊA

                                    

          Nhiều nhà tu hành tưởng rằng Tham Thiền vốn của Phật Giáo bày ra. Không phải thế. Tham Thiền không phải phát sanh từ Phật Giáo, Ấn Giáo, hay là Ai Cập Giáo. Nó đă có từ thuở Khai Thiên Tịch Địa, mà cũng có thể nói trước lúc đó nữa. Bởi v́ trước khi sanh hoá Thái Dương Hệ nầy, Đức Thượng Đế của chúng ta đă Suy Nghĩ rồi Sắp Sẵn Một Bản Đồ gọi là Thiên Cơ, trong đó có ghi rơ ngày, giờ sanh hoá các Dăy Hành Tinh và Nhân Vật ở trên Mấy Dăy Đó, từ Thiên Thần, Con Người cho tới Các Loài Khác, cùng là Mức Độ Tiến Hoá của chúng.

          Như thế không có cái chi gọi là sự ngẫu nhiên cả. Quí bạn đọc rồi suy nghĩ th́ sẽ rơ.

          Bằng chứng sự Tham Thiền có từ thuở Khai Thiên Tịch Địa đă ghi trong quyển “Ánh Sáng Á Đông” (La Lumière de L’Asie), Đoạn Đức Phật thuyết pháp cho Vua cha là Tịnh Phạn Vương nghe lúc Ngài trở về Ca-Bi-La-Quốc. Tôi xin chép Đoạn đó cho quí bạn xem.

          “Om! Amitaya! Chớ nên ướm thử dùng lời nói mà đo Cơi vô biên hay là nhúng dây tư tưởng vào Cơi vô tận. Người hỏi cũng lầm, mà người trả lời cũng lầm vậy. Đừng nói chi hết.”

          Kinh sách dạy rằng: Trước khi Vạn Vật sinh ra chỉ có một ḿnh Phạn Vương trầm tư mặc tưởng mà thôi. Nhưng chớ nên suy gẫm đến Phạn Vương hay là một ánh sáng nào cả, Cái Trí người phàm cũng không hiểu được. Những màn lần lượt vén lên, cái  nầy tới cái kia. Phải có những bức màn và sau những bức màn nầy có những bức màn khác. Các Ngôi Tinh Tú cứ vận hành mà không hỏi han chi cả. Miễn là sự sanh, sự tử, sự buồn, sự vui, cái nguyên nhân và cái hậu quả c̣n lại là đủ rồi.

          Giữa điều phải và điều quấy, Huyền Bí Học không chấp nhận sự lưng chừng. Với bất cứ giá nào, điều phải là điều con phải làm, và không được làm điều quấy, dù cho những người không hiểu biết có nghĩ ǵ hoặc nói ǵ cũng mặc. Con phải nghiên cứu sâu xa những Định Luật bí ẩn của Tạo Hoá,[28] và khi con đă rơ, th́ con hăy xếp đặt cuộc sống của con cho phù hợp với những Định Luật nầy, nhớ luôn luôn sử dụng lư trí và lương tri.

          Nếu thành thật xem xét việc đời th́ ta thấy rơ đời sống của con người gồm lành và dữ pha lẫn nhau: Lành cũng có, dữ cũng có, nhưng phải công nhận rằng phần dữ nhiều hơn phần lành.

          Chơn Sư căn dặn Alcyone làm những điều thiện, không nên làm những điều ác. Thật sự, luôn luôn người ta sợ dư luận, dầu biết đó là điều phải lắm khi cũng không dám làm, hoặc làm mà không trọn vẹn hay là sửa đổi một ít cho hợp với thời thế.

          Ở đây vẫn phải phân biện, đừng hạ thấp Lư Tưởng cao siêu, phải tiến lần lên, từ kiếp nầy qua kiếp kia, nhất là, xin lặp lại một lần nữa v́ điều nầy rất cần thiết, ḿnh phải tự biết ḿnh để bồi bổ những chỗ khuyết điểm.

          Trong Kinh Upanishad có câu nầy:

          “Điều lành là một việc, sự vui là một việc khác nữa. Hiền Nhân chuộng điều lành hơn sự vui.”

 

NHỮNG  LUẬT  TRỜI  C̉N  ẨN  TÀNG

 

          Trong 7 Cơi Trời, từ Cơi Tối Đại Niết Bàn cho tới Cơi Trần, Luật Trời vẫn hành động nhưng Cơi nào, Luật nấy.

          Tại Cơi Trần, chúng ta khám phá và học hỏi được một số Luật Trời, nhưng chúng ta chỉ biết có vài phương diện, c̣n nhiều phương diện khác chúng ta chưa t́m ra. Có thể nói tất cả những Luật Trời đều ẩn tàng đối với chúng ta, bởi v́ chúng ta c̣n tai phàm mắt thịt. Phải mở những quan năng cao siêu như: Thần Nhăn, Thiên Nhăn, Huệ Nhăn mới thấy những Hành Động của Luật Trời.

          Hiện giờ chúng ta thấy nhiều sự việc hiện ra trước mắt, nhưng đó là Hậu Quả chớ không phải là Nguyên Nhân. Nguồn cội phát sanh chúng nó ở Cơi nào ta không biết, mà có lẽ có việc đă khởi sự hồi 3, 4, hay là 5, 6.000 năm trước.

          Hoàn toàn bí mật.

          Những Luật Trời ẩn tàng hằng hà sa số. Đối với tŕnh độ tiến hoá hiện thời của chúng ta, chúng ta mới biết chút ít về những Luật sau đây:

          1- Luật Sanh Hoá. 2- Luật Tiến Hoá. 3- Luật Tiết Điệu. 4- Luật Chu Kỳ gọi là Luật Tuần Hoàn. 5- Luật Nhân Quả. 6- Luật Luân Hồi. 7- Luật Hy Sinh. 8- Luật Thăng Bằng. 9- Luật Tư Tưởng. 10- Luật Tương Ứng. 11- Luật Tương Quan. 12- Luật Phát Triển Tâm Thức. 13- Luật Di Truyền. 14- Luật Thay H́nh Đổi Dạng.

          C̣n nhiều nữa, trên đây chỉ là những Luật chánh có thể gọi là thông thường, tức là ai ai cũng có thể hiểu và học hỏi một cách tổng quát.

          Muốn thật hiểu rành rẽ những Luật nầy phải mất mấy chục hay mấy trăm kiếp, chớ không phải chỉ trong một thời gian ngắn ngủi vài chục năm là đủ.

          Muốn tiến mau người chí nguyện cần biết 3 điểm chánh sau đây:

          1- Mục đích sự sanh hoá Thái Dương Hệ và sự thành lập 7 Cơi Trời.

          2- Ḿnh tự biết ḿnh.

                   a- Bản tánh Thiêng Liêng của Con Người.

                   b- Chơn Thần và 7 Thể của nó.

                   c- Sự liên quan mật thiết giữa 7 Thể và 5 Cơi Trời: Từ Cơi Niết Bàn xuống đến Cơi Trần.

                   d- Phương pháp tinh luyện 3 Thể: Thân, Vía, Trí.

                   e- Luật Tư Tưởng, Luật Nhân Quả, Luật Luân Hồi, Luật Hy Sinh.

          3- Phụng Sự với tấm ḷng Vị Tha, không mưu cầu tư lợi.

          Xin nhắc lại: Thuyết Đạo dễ, Hành Đạo khó. Không Hành Đạo th́ không bao giờ Đắc Đạo.

          Con phải phân biệt giữa điều quan trọng và điều không quan trọng. Phải cứng rắn như đá khi phải áp dụng cho điều lành và điều quấy, hăy luôn luôn nhường cho kẻ khác những sự việc không quan hệ. Bởi v́ con phải luôn luôn dịu dàng, tử tế biết điều và thuận thảo, hăy để cho kẻ khác có trọn quyền tự do, như quyền tự do con đă cần cho chính con vậy.

          Chơn Sư nhấn mạnh về sự phân biệt điều trọng hệ và điều không trọng hệ, v́ đây là một việc hết sức khó.

          Khi ta chưa tiến hoá cao, chưa kinh nghiệm nhiều th́ có những việc ta cho là trọng hệ, nhưng thật sự chúng là việc nhỏ nhoi.

          Thí dụ như: Việc cúng kiếng, lễ bái, thờ phượng, tín đồ cho mấy điều nầy là quan trọng, nhưng đừng quên rằng: Mấy điều đó là h́nh thức bên ngoài, chúng nó có lợi ích riêng của chúng nó, nhưng không cứu rỗi được ḿnh.

          Điều giải thoát cho ḿnh là Tấm Ḷng Trong Sạch và sự thi hành tất cả những phương tiện mưu hạnh phúc cho quần sanh và diệt thói ích kỷ, hại nhân.

          Đối với những nguyên tắc ta phải giữ cho Đúng Qui Luật, như Trường Chay, Tinh Luyện Tánh T́nh chẳng hạn. C̣n về những tín ngưỡng phải rộng ḷng khoan dung, ai muốn tin chi th́ cứ tin, trọn tự do. Không phải ta lănh đạm, nhưng v́ không nên đụng chạm tới đức tin của kẻ khác. Luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi thấy điều đó cần thiết mà không can thiệp, không gây trở ngại, không kích bác.

          Phải có thiện cảm, phải biết dung hoà, phải khôn khéo trong sự hành động sẽ dắt dẫn kẻ khác rất dễ dàng.

          Chắc chắn trong chúng ta đă có người chứng kiến chuyện nầy:

          “Một anh kia nắm dây dàm kéo một con ḅ, nó dơng đuôi lên tŕ lại. Anh càng kéo, càng đánh, nó càng tŕ và quỳ xuống. Một người khác thấy vậy bảo anh kia đừng đánh nữa. Y lại ṿ đầu con ḅ, nói ngọt với nó, vài phút sau con ḅ đứng dậy ríu ríu đi theo chủ.”

          Đây cũng là một bài học cho chúng ta về cách điều khiển. Có lúc Nhu thắng Cang, Nhược thắng Cường, phải xử sự cho khéo léo. Tuỳ trường hợp, có lúc Cường, lúc Nhu chớ không phải cứng rắn măi.

          Ở hoàn cảnh nào, kẻ chí nguyện cũng phải Cương Quyết Làm Lành, không bao giờ làm ác; giúp được người th́ giúp, không giúp được th́ thôi, không hại người bao giờ, mặc dầu người đời cho ḿnh ngu dại cũng mặc.

          Con hăy cố xem coi việc nào đáng làm; và hăy nhớ rằng: Không nên xét đoán sự việc theo bề ngoài. Một việc nhỏ mà có ích trực tiếp cho công việc của Thầy th́ rất đáng làm hơn một công việc lớn mà Thế Gian gọi là tốt. Chẳng những con phải phân biệt cái nào có ích và cái nào vô ích, mà phải phân biệt giữa cái có ích nhiều với cái có ích ít.

          Ngoài những công việc bổn phận hằng ngày, t́m một việc đáng làm hết sức khó. Có tiêu chuẩn nào giúp ta biết được việc nào đáng làm, c̣n việc nào không đáng làm chăng?

          Nhưng ta có thể nói rằng: Việc đáng làm, việc nhiều có ích là việc lành, làm lợi cho mọi người, nhưng thường thường việc nào đem cho người ta nhiều quyền lợi vật chất th́ người ta cho là tốt đẹp, dầu tánh cách nó ác độc thế nào cũng mặc. Người đời đánh giá trị của mọi sự việc theo phương diện bên ngoài.

          Trái lại, giảng giải Đạo Đức cho người ta biết cái chi giúp cho Cơ Tiến Hoá điều đó mới hữu ích cho công việc của Tiên Thánh, bởi v́ các Ngài Phụng Sự Thượng Đế. Biết được Luật Trời, người ta tránh được các tội lỗi, v́ vô minh nên hành động không khôn ngoan.

          Cho kẻ nghèo ăn là một việc tốt, cao quí và hữu ích; nhưng nuôi dưỡng Linh Hồn họ lại là việc cao quư và hữu ích hơn nữa. Bất cứ người giàu nào cũng nuôi được Xác Thân, nhưng chỉ có Người Hiểu Biết mới nuôi dưỡng được Linh Hồn.

          Đoạn nầy làm cho nhiều người hiểu lầm rằng: Chơn Sư chỉ dạy chúng ta chú trọng đến phần Hồn, chớ không lo cho phần xác.

          Không phải thế. Ngài đă nói: Nuôi kẻ nghèo là một việc tốt, cao quí và hữu ích. Ngài không hề bảo ta bỏ rơi những người nghèo khổ, đói khó, tật nguyền, đau ốm, bệnh hoạn, cô độc, không ai săn sóc đoái hoài.

          Chúng ta phải góp phần với Chính Phủ trong việc tạo lập những Dưỡng Đường, Cô Nhi Viện, Nhà Dưỡng Lăo.

          Về phương diện cá nhân, ta phải bố thí tuỳ phương tiện, tuỳ duyên, tuỳ phận, tuỳ trường hợp. Ta chia sớt những sự đau khổ của những kẻ xấu số, nạn nhân của những trận thiên tai, băo lụt, hoả hoạn, chiến tranh, loạn lạc, cướp bóc.

          Phải nói trắng ra, mặc dầu ta không được bỏ qua một việc phước thiện nhỏ nào cả, nhưng không phải ta chỉ lo lắng có bao nhiêu đó mà thôi.

          Phận sự Chánh của Người Biết Đạo là lo Khai Sáng Cho Đời, tức là lo mở mang Phần Tinh Thần của nhân loại. Tại sao vậy?

          Bởi v́ con người không biết Luật Trời, làm những việc chẳng lành, bị những sự phản ứng trả lại gọi là Mắc Quả Báo, cho nên mới chịu đau khổ. Nếu biết Cơ Trời, tuân theo Thiên Ư th́ tránh được những sự rối rắm đưa  tới.

          V́ thế, chỉ bảo cho con người biết Luật Trời và mở mang Phần Tinh Thần là điều cần thiết nhất.

          Nếu con người sinh ra trên Thế Gian lớn lên, lo lập thân danh, có gia đ́nh chờ ngày nhắm mắt từ giă Cơi Trần và chỉ có bao nhiêu đó thôi th́ cuộc đời không có mục đích ǵ cả.

         
          Đinh ninh rằng: Con Người là Xác Thân nầy, là không đúng, bởi v́ sau khi thác rồi, Xác Thân tan ră nhưng Con Người vẫn sống, vẫn hiểu biết như hồi c̣n sanh tiền.
[29]

          Bằng chứng là Hồn Ma hiện ra và người ta chụp h́nh được. Người và Ma cũng chuyện văn thân mật với nhau. Các Báo Thần Linh Học khắp hoàn cầu đều có đăng những mẫu chuyện như thế. Không ai chối căi được điều nầy, mặc dầu không dùng Luật Vật Lư Hồng Trần cắt nghĩa được sự hiện h́nh của Hồn Ma.

          Bây giờ ta hăy thử nghĩ: Nếu có Ma th́ Xác Thân nầy không phải thật là Con Người rồi.

          Vậy th́ Con Người là ai?

          Và tại sao cũng đồng loại là Con Người với nhau mà có những sự khác biệt lớn lao về nhiều phương diện như: H́nh Vóc, Tâm Tánh, Trí Thức và Thân Thể nữa?

          Mấy vấn đề nầy cực kỳ quan trọng mà cũng cực kỳ khó khăn. Chúng thuộc về những Luật vô h́nh gọi là Luật Tiến Hoá, Luật Luân Hồi, Luật Nhân Quả và Bản Tánh Thiêng Liêng của Con Người.

          Giải quyết chúng cho đúng lư sẽ thức tỉnh được Sự Sống Thiêng Liêng trong Con Người, nói một cách khác cho dễ hiểu Con Người tự biết Ḿnh là Chơn Thần (hoặc nói Ḿnh là Linh Hồn, hoặc Chơn Nhơn cũng được), c̣n Xác Thân chỉ là khí cụ để cho ḿnh dùng mà thôi.

          Hiểu như thế sẽ phá tan bức màn vô minh đă án mắt Con Người không cho thấy rơ, biết rơ Sự Thật.

          Bức Màn Vô Minh là những ảo ảnh do Vật Chất tạo ra.

          Chỉ tới chừng đó thôi, người ta mới biết: Nuôi Linh Hồn Con Người cao quí hơn nuôi Xác Thịt và chỉ có sự Hiểu Biết Cơ Tiến Hoá mới nuôi được Linh Hồn của người nghèo khổ cũng như Linh Hồn của người giàu sang.

          Đây là chữa bệnh Con Người ngay cái gốc chớ không phải chữa cái ngọn.

          Nếu con đă hiểu biết rồi th́ bổn phận con phải giúp kẻ khác giác ngộ.

          Dù con đă khôn ngoan thế mấy đi nữa, con vẫn c̣n phải học thêm nhiều trên Đường Đạo. Nhiều cho đến đỗi con cũng cần phải sử dụng Hạnh Phân Biện ở đây để suy nghĩ kỹ càng điều nào đáng học hỏi. Mọi sự hiểu biết đều hữu ích, và một ngày kia con sẽ có tất cả mọi sự hiểu biết. Nhưng trong khi con chỉ biết có một phần, con hăy chú ư đến nó, phần ấy là phần hữu ích nhất. Thượng Đế vốn Minh Triết và Từ Ái; vậy con càng Minh Triết th́ Ngài càng hiện rơ nơi con. Vậy con phải học hỏi, nhưng trước tiên phải học hỏi điều nào giúp con giúp đỡ kẻ khác, điều đó sẽ giúp con nhiều nhất.

          Khi ta sáng suốt rồi, bổn phận ta phải giúp kẻ khác được sáng suốt như chúng ta vậy. Phật đă dạy: “Tự giác nhi giác tha.”

          Hăy nh́n xóm ta ở. Chỉ có nhà của ta có đèn thắp sáng rỡ, c̣n mấy nhà khác có đèn, có dầu mà không có lửa nên ở trong tối. Ta hăy đem đèn của ta mồi đèn nhà kế cận, rồi nhà kế cận mồi đèn cho những nhà khác. Chẳng bao lâu, cả xóm đều sáng, không c̣n ai ở trong chốn tối tăm nữa.

          Đây là sự giúp đỡ về Phần Tinh Thần cũng như sự giúp đỡ về Phần Vật Chất.

          Chơn Sư Morya đă nói: “Tại sao lại ích kỷ nếu có những điều có thể học được, thấy được và cần ích cho tương lai của Con Người th́ tại sao không cho kẻ khác có dịp may như con.”

          Ở đây Ngài dạy Con Người phải diệt tánh ích kỷ.

          Đạo là Gia Tài Thiêng Liêng chung của Nhân Loại, tới một ngày kia ai ai cũng Biết Đạo. Cũng như Thần Nhăn, ngày sau, khi Nhân Loại tiến đến mức độ khá cao th́ ai cũng có Thần Nhăn, hiện giờ trên Thế Gian, người có Thần Nhăn rất hiếm.

          Thật là Biển Học Vô Biên.[30] Càng học chừng nào càng thấy ḿnh tối tăm, dốt nát chừng nấy. Trong mỗi địa hạt: Văn Chương, Khoa Học, Mỹ Thuật đều chia ra nhiều Môn. Chỉ học một Môn thôi, e cho trọn đời cũng chưa thấy thật là giỏi. V́ thế, Chơn Sư dặn Alcyone học Môn nào hữu ích nhiều hơn hết. Tôi tưởng Môn đó là Khoa Bí Truyền tức là Minh Triết Thiêng Liêng, bởi v́ nó khai mở Tâm và Trí một lượt. C̣n các Khoa học khác mở Trí mà không mở Tâm, cho nên thập phần nguy hiểm như việc chế ra những Hoả Tiễn, những Bom Nguyên Tử, Bom Khinh Khí và các Loại Vũ Khí mới khác mong kềm hăm Thế Giới trong Bàn Tay Sắt của Bọn Hiếu Chiến.

          Học Đạo sẽ thấy sự thông minh ở ngoài đời thuộc về Vật Chất, khác với sự sáng suốt trong Đường Đạo thuộc về Tinh Thần. Sự thông minh ở ngoài đời cũng cần thiết, nhưng một ḿnh nó chưa đủ, phải có sự sáng suốt của Tinh Thần điều khiển nó. C̣n không biết bao nhiêu điều cần phải học hỏi trong Đường Đạo để phá tan được bức màn vô minh.

          Thí dụ như sự sanh sản các Tế Bào trong ḿnh Con Người.

          Tại sao các Tế Bào hợp lại để làm một Cơ Thể mà Cơ Thể nầy khác hơn Cơ Thể kia và phận sự ai nấy làm? Tại sao tất cả lại chung sức làm ra một thân ḿnh, trong khi đó trái tim nhảy điều hoà, đưa máu chạy khắp châu thân để nuôi dưỡng Xác Thân? Thật là hoàn toàn bí mật.

          Hăy tưởng tượng: Một Tinh Trùng và một Noăn Châu hợp lại thành một người, Nam hay Nữ, từ lời ăn tiếng nói, tóc tai cho tới màu da, tánh t́nh, ngu độn hay khôn ngoan đều khác nhau; người nước nào nói tiếng nước nấy. Thử hỏi: Trên Thế Gian có người nào đủ tài thực hành được việc nầy không?

          Nếu có một cái đồng hồ chạy đúng giờ khắc mà nói không có Anh Thợ làm ra cái đồng hồ là điều phi lư, không thể chấp nhận được.

          Trước đây tôi đă nói: Chỉ Đường Đạo dạy đúng với thực tế sự sanh hoá Thái Dương Hệ và các loài vật, c̣n ở ngoài đời chỉ đưa ra những Giả Thuyết mà thôi.

          Thật ra, hiện giờ chúng ta đang học một cách bất toàn những ǵ mà Đức Thượng Đế đă tạo ra 6, 7 ngàn triệu năm trước và c̣n tạo thêm nữa.

          Chúng ta thâu thập được nhiều kết quả, nếu so sánh với các thế kỷ trước, chúng rất tốt đẹp.

          Nhưng 6, 700 năm sau, chắc chắn cháu chít chúng ta sẽ cho chúng ta c̣n vụng về, v́ Khoa Học càng ngày càng phát triển. Chưa biết tới chừng nào nó mới nói: “Đây là mức cuối cùng của sự Tiến Hoá.”

          Dầu sao, chúng ta cũng cần phải học hỏi Sự Sống hay là Tinh Thần, v́ Sự Sống mới thật có Quyền Năng Sanh Hoá và c̣n măi với Thời Gian. Trái lại, Vật Chất và H́nh Hài tới một ngày kia sẽ tan ră. Cát Bụi phải trở về với Cát Bụi. Đừng quá tŕu mến nó mà làm mất thăng bằng là Luật Điều Hoà của Vũ Trụ.

          Con hăy bền chí học hỏi, không phải để người đời nghĩ rằng con thông hiểu sâu rộng, cũng không phải để hưởng hạnh phúc của sự thông hiểu nhưng bởi v́ chỉ có người thông hiểu mới có thể giúp đời một cách khôn khéo. Dù con có chí lớn giúp đời đến mấy đi nữa, nếu con dốt nát th́ con có thể làm hại nhiều hơn là làm lợi.

          Lời khuyên bảo nầy rất hữu ích. Chúng ta phải lo học hỏi, dầu tới tuổi nào cũng cần học để mở mang kiến thức. Có học hỏi rộng sâu mới biết phân biện sự lành và sự dữ, sự phải và sự quấy, điều nào là Chân Lư, điều nào là dị đoan.

          Nên đọc những sách và báo chí chỉ nói về Khoa Học, Triết Học và Mỹ Thuật để coi Chân Lư hiện ra cách nào trong ba Môn đó và nếu có thể đưa ra những sự phát minh mới mẻ của Khoa Học chứng minh rằng những lời dạy của Huyền Bí Học vẫn đúng với Sự Thật. Thí dụ như dùng Thuyết Nguyên Tử để giải thích hai chữ “Sắc Không” của Phật Giáo.

          Có người bảo: Chớ nên xem sách Tôn Giáo khác, v́ sợ làm mất Đức Tin của ḿnh.

          Tôi lại nghĩ khác.

          Nếu sách Tôn Giáo ḿnh giải toàn là Chân Lư th́ dầu cho ḿnh đọc cả ngàn quyển sách của các Tôn Giáo khác cũng không sợ Đức Tin của ḿnh bị lay chuyển. V́ không có chi phá tan Chân Lư được. Thí dụ như Luật Luân Hồi, Nhân Quả. Đây là hai Đại Chân Lư c̣n măi đời đời kiếp kiếp. Không ai sửa đổi chúng nó được, mặc dầu chúng nó cũng như Mặt Trời có thể bị mây mù che lấp trong một thời gian, song chẳng bao lâu cũng chói sáng lại như cũ.

          Trái lại, nếu những Kinh Sách của Tôn Giáo của ḿnh nói những chuyện dị đoan phi lư, ép buộc tín đồ vào một khuôn khổ và nhắm mắt tin càn Kinh Điển th́ lẽ tự nhiên những tà thuyết sẽ bị Chánh Lư đánh đổ. Đức tin mù quáng sẽ bị phá vỡ, chẳng kíp th́ chầy, không thế nào tránh khỏi.

          Thật ra, ta nên xem những Sách giải về Chân Lư mà thôi, nhưng ở Việt Nam hiện giờ, những Sách thuộc về loại nầy rất hiếm.

          Ở Ấn Độ có những Sách do những Nhà Hiền Triết hay là những Cao Đồ Chơn Sư viết bằng Phạn Ngữ hay Anh Ngữ giải thích những Chân Lư cao siêu. Một số lớn Sách Phạn Ngữ đă được dịch ra Anh Ngữ, c̣n những sách Anh Ngữ cũng được dịch ra Pháp Ngữ và vài thứ tiếng nước khác như: Đức Ngữ, Ư Ngữ, v.v…

          Phải thông thạo Anh Ngữ hay Pháp Ngữ mới xem những quyển đó được. Tuy nhiên, cũng cần có một vị Sư Huynh giải rơ những chỗ khó khăn mới hiểu được. Nếu tŕnh độ Văn Hoá thấp thỏi,[31] kiến thức cạn hẹp; không hiểu được ư nghĩa của những Thánh Kinh th́ hành động sẽ không được khôn ngoan, sáng suốt; như vậy không thể giúp ích cho các bạn mến Đạo.

          Đáng sợ hơn hết là sự mê tín, về sau sẽ biến thành cuồng tín, nếu không chận đứng kịp thời th́ hậu quả sẽ vô cùng khốc hại.

          Chơn Sư dạy Alcyone phải hiếu học, v́ chỉ có người thông minh mới giúp ích được một cách khôn khéo, chớ không phải để cho người ta khen ngợi ḿnh là siêng năng, giỏi giắn. Ở đây Chơn Sư muốn ngăn ngừa tánh kiêu căng của con người thường khoe rằng ḿnh giỏi hơn, hay hơn kẻ khác. Phải sợ Cái Trí, nó rất quỷ quyệt, nó có đủ những lư lẽ để thuyết phục con người nghe theo nó.

          Nhưng c̣n một điều nữa nên giữ chừng là khi hiểu được những Chân Lư cao siêu, chớ nên khinh bạc sự học hỏi c̣n bị giới hạn của Thế Tục. Những sự hiểu biết nầy là một mặt của Chân Lư hiện ra tuỳ hoàn cảnh và thời gian. Chúng rất hữu ích cho những người c̣n cần dùng chúng nó. Nhưng cũng đừng tưởng rằng Vật Chất hơn Tinh Thần vô h́nh, cho nên phải trọng nó và loại bỏ những ǵ mà giác quan không nhận thức được. Điều nầy là một sự lầm lạc đáng tiếc, v́ Vật Chất và Tinh Thần mỗi thứ đều có sự hữu ích riêng của nó. Cả hai đều nương tựa lẫn nhau. Vật Chất là H́nh Thể, c̣n Tinh Thần là Linh Hồn, là Sự Sống. Không có Sự Sống th́ H́nh Thể tan ră, c̣n không có Vật Chất làm một lớp áo bên ngoài th́ Tinh Thần không thể hiện ra.

          Sự Sống tạo ra H́nh Thể và Vật Chất,[32] mà H́nh Thể không tạo ra Sự Sống hay là Linh Hồn được.

          Phải biết sử dụng một cách khôn khéo Vật Chất và Tinh Thần th́ mới tiến mau.

          Con phải phân biệt Sự Chân và Sự Giả; con phải tập sao cho Chân Chánh trong tư tưởng, lời nói và hành động.

          Chơn Sư nhấn mạnh về việc phân biệt Sự Chân và Sự Giả, bởi v́ luôn luôn v́ ta không suy nghĩ cho chín chắn điều nào phải, điều nào quấy, nên mới bị lỗi lầm.

          Muốn biết Sự Chân Thật trọng hệ dường nào hăy xem thí dụ sau đây:

          Ta lấy một cây gậy thọc vô một chậu nước. Ta thấy h́nh như cây gậy bị găy ngang chỗ nó chui xuống nước. Sự thật có phải như vậy hay không? Không phải. Ấy là con mắt ta bị sự thay đổi môi trường gạt gẫm. Ta thấy không đúng với sự thật. Quả thật, chúng ta đang sống trong một hoàn cảnh nửa giả dối, nửa chân thật. Ta thấy mọi vật một cách sai lầm, chúng ta nh́n xem tất cả xuyên qua một bầu không khí nửa đúng, nửa sai. Thật là cực kỳ khó khăn.

          Trước nhất trong tư tưởng; và điều nầy không phải dễ, v́ trong đời có biết bao nhiêu tư tưởng sai lầm, biết bao nhiêu điều dị đoan khờ dại, và không một người nào bị nô lệ chúng mà có thể tiến bộ được. Do đó con chớ nên vịn vào một tư tưởng nào đó chỉ v́ có nhiều người khác đă vịn vào nó, cũng đừng v́ thiên hạ đă tin nó hàng mấy thế kỷ, hoặc v́ nó đă được ghi trong một quyển sách nào đó mà người đời cho là Thánh Kinh. Con phải tự ḿnh suy tưởng sự việc và tự ḿnh phán đoán xem nó có hợp lư không.

          Trong Đời có không biết bao nhiêu tư tưởng lầm lạc, những sự dị đoan phi lư, không phải dễ mà sửa đổi.

          Không những có nhiều sự dị đoan mê tín trong Tôn Giáo mà trong địa hạt nào cũng có sự mê tín cả, cho đến Khoa Học cũng thế - khi cứ đinh ninh rằng Khoa Học vạn năng - bởi v́ Khoa Học c̣n quá chú trọng về Vật Chất, chưa công nhận có Tinh Thần, chưa truy ra được Lư Do Sanh Hoá các loài vật trên Địa Cầu.

          Trong Thông Thiên Học cũng vậy, khi chúng ta nói: “Đức Bà Blavatsky nói như thế nầy, Đức Bà A. Besant và Đức Leadbeater nói như thế kia, hay là trong Bộ Giáo Lư Bí Truyền đă viết như vầy, nên tôi tin;” th́ không khỏi mang tiếng là tin dị đoan, bởi v́ chúng ta chưa kinh nghiệm được mấy điều đó.

          Tuy nhiên, chúng ta có thể tin được các Ngài, v́ chúng ta biết các Ngài vẫn thành thật. Các Ngài tŕnh bày những điều các Ngài hiểu biết, nhưng không hề bảo ai tin cả.

          Đức Leadbeater nói: “Tôi thấy Đức Thái Dương Thượng Đế của chúng ta, những Vị Tinh Quân (Esprits Planétaires), những Sứ Giả ở những Thái Dương Hệ khác đến viếng Thái Dương Hệ chúng ta, v́ có mục đích nào đó mà chúng ta không biết được.

          Người ta sẽ hỏi tôi: “Ông là ai mà nói những chuyện như thế ?” Nhưng tôi đă thấy, tôi phạm tội khiếp nhược nếu từ chối sự chứng nhận của tôi. Hỡi thế nhân! Dầu các anh đồng thinh phủ nhận sự hiện hữu của Các Ngài đi nữa, tôi cũng bỏ các anh mà giữ lấy Đức Tin của tôi.”

          Quả thật có nhiều Đại Chân Lư phải tin mới được. Như sự Sanh Hoá các Cơi Trời, những Thể của Con Người, sự liên quan giữa các Thể và những Cơi Trời, Luật Tư Tưởng, Luật Luân Hồi, Nhân Quả và Hy Sinh.

          Cũng như Bản Cửu Chương, không học, không tin th́ làm sao làm Toán Nhơn được.

          Người học Đạo cũng như các Sinh Viên ban đầu phải học những Lư Thuyết, sau lần lần lên bậc cao rồi mới thí nghiệm được.

          Tin những Lư Thuyết nầy không phải là Mê Tín hay Tin Dị Đoan. Cũng đừng quên rằng: Sự Tin Dị Đoan ăn sâu vào bản tánh của con người. V́ vậy, sau khi được Điểm Đạo lần thứ nhứt vị Đệ Tử phải lo trừ tuyệt thói Mê Tín và Tin Dị Đoan mới được Điểm Đạo lần thứ nh́.

          Trong sự giao thiệp hằng ngày ta gặp nhiều bạn tu hành tánh t́nh rất tốt. Họ vui vẻ, nhân từ, sốt sắng làm những việc phước thiện không quản công lao nhọc nhằn. Nhưng họ lại quá quí trọng sự thờ phượng, cúng kiếng, lễ bái, tụng kinh, đọc kệ, không t́m hiểu ư nghĩa của mấy việc đó và cho rằng: “Chúng rất cần thiết cho sự Đắc Đạo.”

          Họ tiến về mặt Công Đức mà không tiến về mặt Tinh Thần. Tục rằng: Họ tu Phước chớ không tu Huệ.

          Chơn Sư không hề nói: Những người c̣n Tin Dị Đoan không tiến hoá được. Ngài bảo: “Đối với những người nào bị sự Dị Đoan Chi Phối không có sự Tiến Bộ.”

          Chi Phối đây là hoàn toàn tin tưởng vào những chuyện Dị Đoan, không chịu nghe Chánh Lư.

          Quí bạn suy nghĩ th́ thấy, không nên nói trắng ra.

 

CHÁNH  KIẾN

 

          Ngày nay, Chơn Sư lặp lại Đoạn Văn nói về Chánh Kiến của Phật dạy những người Kalama 2.500 năm trước và có ghi trong Bộ Kinh Tăng Nhất A Hàm (Kalama Sutta de l’Anguttara Nikaya).

          Tôi xin tóm tắt những lời của Phật nói cho quí bạn nghe:

          “Khi xưa, những người Kalama tới đănh lễ Phật và hỏi: “Bạch Phật! Những người Bà La Môn và những người Giáo Phái khác thuyết cho chúng tôi nghe những Giáo Lư của họ. Ai ai cũng nói những điều của họ nói toàn là Chân Lư. Bạch Phật! Chúng tôi rất bối rối, không biết phải nên tin hay bác bỏ, xin Phật dạy cho.”

          Phật bèn đáp: “Các ngươi không nên tin điều nào mà các ngươi chỉ nghe lặp lại mà thôi; không nên tin những tục lệ di truyền từ đời nầy qua đời kia; không nên tin những sự đồn đăi; không nên tin những bài mà người ta cho là vốn của những vị Thánh Hiền thuở xưa viết ra; không nên tin những sự mơ hồ; không nên tin những điều mà các ngươi có thói quen quí chuộng; không nên tin những lời vốn của Thầy các ngươi hay là Sư Huynh các ngươi đă nói. [33]

          Nhưng sau khi Xem Xét, Kinh Nghiệm và Suy Nghĩ Chín Chắn rồi nếu thấy Thuyết nào hợp với Chánh Lư và Hữu Ích cho mọi người th́ hăy Công Nhận nó và Sống với nó.”

          Chí lư thay những lời Phật dạy trên đây! Nếu đem áp dụng vào lúc xem Kinh Kệ th́ sẽ mở Trí Phân Biện và sẽ tránh được những điều Mê Tín Dị Đoan.

          Người học Đạo, người Chí Nguyện thỉnh thoảng nên kiểm soát những sự hiểu biết của ḿnh như vầy:

          1- Những điều mà ḿnh thật hiểu biết, v́ ḿnh đă học hỏi và kinh nghiệm.

          2- Những sự hiểu biết của kẻ khác mà ḿnh nhận lấy làm của ḿnh.

          3- Những điều mà ḿnh chưa biết.

          Chắc chắn những điều ta thật hiểu biết rất ít. Những điều mà ta nhận lấy của kẻ khác rất nhiều. C̣n những điều mà ta chưa biết có thể hằng hà sa số, không kể xiết.

          Nếu ta thường kiểm soát những sự hiểu biết của ta như thế đó th́ ta có thể hạ bớt tánh kiêu căng, tự phụ. Người học Đạo luôn luôn thấy những người khác thua ḿnh rất xa, v́ họ ít khôn ngoan và không hiểu biết bằng ḿnh, nếu không khắc kỷ th́ Tánh ngạo nghễ càng ngày càng tăng. Thay v́ phải thương yêu và dạy dỗ họ để họ mau trở nên sáng suốt như ḿnh th́ anh lại khinh khi. Đây là dấu hiệu của sự vấp ngă.

          C̣n về những nghi thức, những y phục phải mặc trong các ngày lễ, chúng ta phải tuân theo phong tục, đừng phản đối, chớ nên gây ra những điều phiền năo vô ích.

          Con hăy nhớ rằng: Dù cho có cả ngàn người tán thành một sự việc, mà nếu họ không biết ǵ về sự việc đó th́ ư kiến của họ kể như vô giá trị.

          Những bạn nào có kinh nghiệm những việc xảy ra trước mắt hằng ngày, những bạn nào đă học qua Lịch Sử Chiến Tranh và suy nghĩ những Tín Ngưỡng của các Tôn Giáo đều thấy rơ mấy lời của Chơn Sư nói rất đúng với sự thật. Không ích chi bàn rộng ra mà phải đụng chạm.

          Ai muốn bước đi trên Đường Đạo phải tập tự ḿnh tư tưởng, v́ dị đoan là một trong những tai hại lớn nhất trên Thế Gian, một trong những xiềng xích tự con phải hoàn toàn xa lánh nó.

          Nên biết rằng: Ngày nào ta chưa làm chủ được Cái Trí th́ ngày đó ta c̣n lấy tư tưởng của kẻ khác làm tư tưởng của ḿnh.

          Chơn Sư dạy vị Đệ Tử phải tự ḿnh suy nghĩ hầu tránh những sự mê tín dị đoan. V́ Tin Dị Đoan gây ra những sự khốc hại kéo dài măi, cái nầy sanh cái kia, rồi cái kia sản xuất cái nọ, cứ tiếp tục như vậy chưa biết tới chừng nào mới chấm dứt.

          Tư tưởng của con về người khác phải chân thật; con không được nghĩ điều ǵ về kẻ khác mà con không biết rơ.

          Thường thường ta nghe người nầy nói: “Ông X như thế nầy,” c̣n người kia nói: “Ông Y như thế đó.”

          Khoan vội tin. Biết đâu người nói về ông X hay ông Y chỉ nghe kẻ khác thuật lại, chớ thật sự anh chưa gặp ông X hay ông Y lần nào, chưa giao thiệp mà cũng không thấy những việc làm của ông X hay ông Y ra sao nữa.

          Như thế, sự xét đoán về ông X hay ông Y không hoàn toàn đúng với sự thật.

          Ta phải thấy sự hành động của ông X hay ông Y, không phải chỉ một lần, mà phải nhiều lần mới có thể xét đoán được phần nào về tánh t́nh của ông X hay của ông Y.

          Thế tục thường t́nh là:

                   Khi thương nước đục cũng trong,

                   Khi ghét nước chảy giữa ḍng cũng dơ.

          Chơn Sư dặn ta xét đoán hoàn toàn đúng với sự thật, điều nầy hết sức khó làm, bởi v́ ta chưa trọn sáng, trọn lành. Tốt hơn là: Tự ḿnh luôn luôn xét đoán ḿnh, chớ đừng xét đoán ai cả để sau ḿnh khỏi bị kẻ khác xét đoán lại, v́ Luật Nhân Quả Báo Ứng.

          Ḿnh tự xét đoán ḿnh mới tự biết ḿnh. Mà tự biết ḿnh rồi mới có thể tiến mau.

          Hăy xét tai hại của tánh đa nghi. Người có tánh đa nghi là người mang kiến màu để xem hoàn cảnh. Vạn vật đều thay đổi màu sắc. Người đa nghi cứ cho ḿnh là phải, c̣n người khác là quấy. Thấy cái trắng cũng cho là cái vàng hay là cái đen, gặp cái hay cũng cho là cái dở, v.v… Không bao giờ thấy đúng sự thật. Không biết phục thiện, không biết nhận lỗi ḿnh. Ngày nào không phá vỡ lớp vỏ thành kiến nầy th́ ngày đó khó gặp Chân Lư.

          Đừng tưởng rằng: Người ta luôn luôn nghĩ đến con. Nếu có người nào làm một điều ǵ đó mà con nghĩ rằng sẽ có hại cho con, hay nói một điều ǵ đó mà con nghĩ rằng ám chỉ đến con th́ con chớ vội nghĩ rằng: “Y muốn hại con.” Rất có thể y chẳng hề nghĩ ǵ đến con cả, v́ mỗi tâm hồn đều có những lo lắng riêng của họ và chỉ suy nghĩ nhiều nhất về chính họ mà thôi. Nếu có ai nói giọng giận dữ với con, con chớ nghĩ: “Y ghét con, y muốn hại con.” Có thể là một người hay một việc nào khác đă làm y giận dữ, rồi t́nh cờ y gặp con nên trút cơn giận lên con. Y đang hành động điên cuồng, nhưng con không nên v́ vậy mà nghĩ quấy cho y.

          Thiên hạ luôn luôn cứ tưởng tới cá nhân ḿnh. Họ ở tại trung tâm của một ṿng tṛn do những tư tưởng và t́nh cảm của họ tạo ra. Họ xét đoán kẻ khác do theo sự phản ứng của những tư tưởng và t́nh cảm nầy. Họ đi tới đâu, họ mang theo lớp vỏ nầy tới đó. Bởi quá ích kỷ nên họ tưởng ai ai cũng đều nghĩ đến họ cả.

 

ĐỨC  LEADBEATER  BỊ  NGHI  OAN

         

          Tôi xin thuật chuyện Đức Leadbeater bị nghi oan cho quí bạn nghe.

          Đức Leadbeater nói:

          “Hồi tôi c̣n làm Linh Mục ở Giáo Hội Anh Quốc, bữa nọ, tôi thuyết pháp cho tín đồ nghe những tai hại có thể đem đến cho những thợ thuyền và những tá canh, nếu họ hành động theo những dục vọng cám dỗ họ. Nói xong th́ có một anh tá canh đứng lên la lối om ṣm trong Pḥng Giảng. Anh hằn học hỏi tôi: “V́ cớ nào ông đem tôi ra làm đề tài của Bài Thuyết Đạo.”

          Thật sự tôi không hề nghĩ rằng: Anh ấy đă phạm lỗi đó, những lời tôi nói lại trúng vào nhược điểm của anh, nên anh nổi nóng. Tôi chắc cho tới ngày nay anh cũng c̣n đinh ninh rằng: Tôi phân biệt anh trong đám người tới dự thính, nên chỉ trích ngay anh.”

          Trường hợp của Đức Leadbeater đă xảy đến cho nhiều người và thường lắm. Sự nghi ngờ người ta bêu xấu ḿnh, chê bai ḿnh, mà chỉ là sự nghi ngờ thôi, chớ thật không có điều đó, sanh ra oán hận rồi đưa tới việc trả thù, lo mưu kế hăm hại nhau cho đă nư giận. Thật là oan, Thị Kính không thể giải bày. Chỉ có Trời biết thôi.

          Người học Đạo không nên ngờ vực điều chi cả trong ḷng mới yên tịnh để tu hành. Chớ nên gây Nhân chẳng Lành mà sau phải gặt Quả Cay Đắng.

 

SỰ  NGỜ  VỰC    NGOÀI  ĐƯỜNG

 

          Một thí dụ khác nữa. Ta đi ngoài đường ta nh́n người nầy, ngó người kia, đó là lẽ tự nhiên. Có người không nói chi, mà cũng có người tưởng là ta có ư muốn không tốt: Hoặc tọc mạch, hoặc trêu ghẹo, hoặc chọc tức hay khinh khi, v.v… Sự ngờ vực nầy lắm lúc sanh ra những chuyện rắc rối to tát. Chuyện nhỏ bằng mũi kim, không đáng chi cả, lại làm lớn ra bằng cái nhà, thật là đáng tiếc vô cùng. Mà nguyên nhân chỉ là “Ngờ Vực” thôi. Hăy coi: Đi vào chợ mua đồ, cả trăm người chen lấn nhau, đụng chạm nhau, đó là lẽ thường không thể tránh khỏi được. Ai ai cũng có việc lo riêng, không lẽ bị người khác vô t́nh lấn một cái rồi đứng lại gây gổ, vừa mất ngày giờ vô ích mà có khi phải tới C̣ Bót thêm mệt Trí vô cùng.

          Chơn Sư căn dặn chúng ta đừng nghi quấy cho ai cả, v́ hai lẽ:

          1- Ta phạm tội nghi oan cho kẻ khác.

          2- Khi tập cho Cái Trí có thói quen ngờ vực th́ bất câu việc ǵ nó cũng nghi ngờ, như vậy làm sao ta học hỏi được Sự Thật và c̣n tin cậy ai nữa. Ta không tin cậy người th́ người tin cậy ta sao? Ta sẽ ở trơ trọi một ḿnh, không ai làm bạn với ta lâu được, v́ thiên hạ không thích tánh t́nh của ta.

 

SỰ  NÓNG  GIẬN    SỰ  ĐIÊN  CUỒNG

 

          C̣n tại sao sự nóng giận nào cũng là điên cuồng cả?

          Bởi v́ trong lúc nóng giận Cái Vía nổi những quầng đen có vành đỏ và đầy những lằn đỏ nhọn xẹt ra như lằn chớp nháng thấy phát sợ. Lúc nầy con người không c̣n tự chủ được nữa, không c̣n sợ ǵ hết, dám làm tất cả những ǵ làm được để đă nư giận: Liệng bàn ghế, đập đồ đạc, chửi mắng, nguyền rủa, thậm chí dám cầm dao đâm chém người. Chừng nguôi ngoai rồi th́ hối tiếc những điều đă thực hành, song đă muộn.

          Vậy hăy tập cho được tánh b́nh tĩnh, thản nhiên, tức là không cho Cái Vía ứng đáp với những rung động của sự nóng giận th́ mới có thể tránh được nhiều sự phiền năo.[34]

          Chừng nào con làm Đệ Tử của Thầy rồi, luôn luôn con có thể thử xem tư tưởng của con có chân chánh hay không bằng cách so sánh nó với tư tưởng của Thầy. V́ Đệ Tử đă hợp nhất với Thầy nên chỉ cần đặt tư tưởng của ḿnh kề bên tư tưởng của Ngài là thấy ngay có phù hợp hay không. Nếu nó không phù hợp, th́ tư tưởng của Đệ Tử là sai, th́ phải thay đổi nó ngay, v́ tư tưởng của Thầy vốn trọn lành, v́ Ngài hiểu biết tất cả.

          Trước khi được Chơn Sư thâu nhận làm Đệ Tử, phải là Người Có Lư Tưởng.

          Có ba Hạng Đệ Tử:

          1- Hạng Đệ Tử Nhập Môn (Élève Probationnaire).

          2- Hạng Đệ Tử Chánh Thức (Élève Accepté).

          3- Hạng Con Của Thầy (Fils du Maitre).

 

1- ĐỆ  TỬ  NHẬP  MÔN

 

          Hạng Đệ Tử Nhập Môn được liên lạc trực tiếp với Chơn Sư.

          Ngài làm ra một H́nh Giả của Thí Sinh bằng Chất Trí Tuệ, Thanh Khí và Dĩ Thái Hồng Trần (Ether Physique), nghĩa là H́nh nầy có Thượng Trí, Hạ Trí, Cái Vía và Cái Phách. Bốn Thể nầy liên lạc bằng Từ Điển với 4 Thể của Thí Sinh tại Cơi Trần. Tất cả những hành động, những cảm xúc, những tư tưởng của Thí Sinh đều ghi vào H́nh Giả nầy.

          Chơn Sư để H́nh Giả trong một chỗ riêng tiện bề quan sát mỗi ngày.

 

2- ĐỆ  TỬ  CHÁNH  THỨC [35]

 

          Thường thường trong ṿng 7 năm, cũng có khi lâu hay mau hơn, Thí Sinh trau giồi Tâm Tánh càng ngày càng thật tốt và chỉ lo Phụng Sự Chơn Sư thâu nhận Anh làm Đệ Tử Chánh Thức. Ngài cho Tâm của Anh nhập vào Tâm Ngài, rồi Ngài làm cho H́nh Giả tan đi. Từ đây Anh liên lạc trực tiếp với Sư Phụ.

          Vị Đệ Tử Chánh Thức là Tiền Đồn của Tâm Thức Chơn Sư. Điều chi làm trước mặt Đệ Tử là làm trước mặt Chơn Sư.

          Những tư tưởng, ư muốn, lời nói và việc làm của Đệ Tử đều phản ứng đến Chơn Sư. Ngài hay biết liền. V́ thế, vị Đệ Tử phải cẩn thận, nhất là trong tư tưởng. Khi vị Đệ Tử v́ chưa tự chủ được nên nổi nóng, Ngài dùng một bức màn ngăn Tâm Thức Ngài với Tâm Thức Đệ Tử, không cho sự nóng giận truyền tới Ngài.

          Sự ngăn cách nầy thường thường không quá 48 giờ. Khi Đệ Tử biết lỗi, lo sửa đổi cách tưởng nghĩ th́ Chơn Sư vén bức màn lên, Tâm Thức của Đệ Tử sẽ thông đồng với Tâm Thức của Chơn Sư như trước.

          Tốc độ sự rung động của 3 Thể thấp của Đệ Tử càng ngày càng lên cao và hoà nhịp với sự rung động của 3 Thể thấp của Chơn Sư. V́ thế, vị Đệ Tử tiến rất mau.

 

3- CON  CỦA  THẦY

 

          Tới một ngày kia, khi Chơn Sư thấy Tâm của Đệ Tử đă được trong sạch, không c̣n ứng đáp với những tư tưởng và ư muốn thấp hèn th́ Ngài liền cho Tâm của Đệ Tử nhập vào Tâm Ngài thân mật hơn trước.

          Đây là Giai Đoạn thứ ba: Vị Đệ Tử làm Con của Thầy.

          Tới Giai Đoạn nầy, Chơn Sư không c̣n dùng bức màn ngăn cách Tâm Ngài với Tâm của Đệ Tử nữa.

          Một thời gian sau, Ngài tŕnh vị Đệ Tử trước Quần Tiên Hội xin Điểm Đạo cho anh.

          Hiểu điều nầy, tôi xin nói rằng: Phải làm Đệ Tử Chánh Thức mới biết phương pháp đem tư tưởng ḿnh so sánh với tư tưởng của Chơn Sư, c̣n vị Đệ Tử Nhập Môn không làm được việc đó.

 

TẠI  SAO  CHƠN    THÔNG  HIỂU  HẾT  MỌI  VIỆC ?

 

          Tâm Thức của Chơn Sư thường trực ở tại Cơi Niết Bàn hay Đại Niết Bàn. Lên tới Cơi nầy, Ngài nh́n xuống Hồng Trần tất cả những ǵ xảy ra trên Thế Gian đều hiện ra tỏ rơ trước mặt Ngài, không khác nào việc chúng ta ngồi xem Phim Hát Bóng. V́ vậy Ngài thông hiểu hết mọi việc.

          Tục ngữ: “Đừng lấy vải thưa che Mắt Thánh” rất đúng.

          Những người nào chưa được Ngài thâu nhận làm Đệ Tử không thể hoàn toàn làm được việc nầy; nhưng họ có thể tự giúp ích họ được nhiều bằng cách thường ngưng lại và tự hỏi: “Thầy sẽ nghĩ sao về việc nầy? Thầy sẽ nói hay sẽ làm ǵ đối với hoàn cảnh nầy?” V́ vậy con đừng bao giờ làm hoặc nói hoặc nghĩ điều ǵ mà con không thể h́nh dung được Thầy cũng đang làm hay đang nói hoặc đang nghĩ như vậy.

          Mặc dầu Chơn Sư đă căn dặn, chắc chắn người ta không nghe theo đâu. Họ cho là làm như vậy rất mệt Trí và mất th́ giờ.

          Thường thường Cái Trí và Cái Vía của Con Người phản ứng mau lẹ, cho nên có nhiều việc người ta làm mà không suy nghĩ kỹ lưỡng. Đọc đoạn nầy cũng có người sẽ nói:

          “Nếu trước khi tưởng hay nói mà tôi làm như lời dạy th́ chắc là trọn ngày tôi không nói được bao nhiêu tiếng và thực hành được bao nhiêu việc.”

          Lời nầy hữu lư khi lấy theo quan điểm của Thế Tục, nhưng nếu suy xét cho chí lư th́ biết: Khi ta luôn luôn nuôi dưỡng trong Tâm Trí những tư tưởng cao siêu, tốt đẹp, chân thật, từ bi, th́ tự nhiên ta ít nói sai lầm và không làm những việc bất nhân, thất đức, ngoại trừ những trường hợp vô tâm, nhưng mà ta vẫn giải quyết mau lẹ những vấn đề khác chớ không phải chậm chạp.

          Phải biết Chơn Sư dạy như thế là muốn cho con người nhắm vào chỗ trọn sáng, trọn lành. Điều nào đáng tưởng mới tưởng, điều nào đáng nói mới nói, việc nào đáng làm mới làm.

          Người học Đạo phải tiến hơn bực trung b́nh và càng ngày phải càng tiến cao. Quyển “Dưới Chân Thầy” rất hạp với những người đă tu hành nhiều kiếp, người ta gọi là Có Căn Lành. C̣n người thường, dầu không thể áp dụng tất cả những lời dạy trong đời sống hằng ngày đi nữa, cũng phải coi theo đó để tập rèn tánh nết, ban đầu ít, sau nhiều. Hiện giờ đă có những biến cố lớn lao xảy ra, người ta mới thấy Tánh T́nh thật quan trọng là dường nào.

          Lời nói con cũng phải ngay thật, chính xác và không phóng đại.

          Lời nói có một năng lực phi thường. Ấy là Quyền Năng Sanh Hoá.

          Xin nhắc Kinh Thánh Cựu Ước nói:

          Đức Chúa Trời phán: “Hăy có Ánh Sáng th́ Ánh Sáng hiện ra”.

          Tánh con người thường hay khoe khoang để được người ta khen ḿnh. Khi thuật lại một câu chuyện đă nghe hay là việc ḿnh đă chứng kiến th́ thường nói không đúng với sự thật, hoặc thêm, hoặc bớt những chi tiết.

          Nói phóng đại th́ phạm tội Vọng Ngữ.

          Người chí nguyện, trái lại, phải thật đúng đắn từ trong tư tưởng cho đến lời nói và việc làm. Mới xem qua th́ thấy điều nầy quá sức của con người, nhưng chúng ta phải tập lần, chúng ta sẽ thành công.

          Tôi thường nhắc nhở các bạn tu hành rằng: Trên Đường Đạo chúng ta là trẻ nít mới tập đi, c̣n té lên, té xuống. Nhưng con nít càng ngày càng lớn, ta đây cũng vậy, nếu bền chí, ta sẽ đạt được mục đích đă nhắm. Đây là vấn đề thời gian thôi.

          Đừng bao giờ gán cho người khác với nguyên do nào, chỉ có Thầy y mới biết y nghĩ ǵ, và có thể y hành động v́ lư do nào đó mà con chưa bao giờ nghĩ đến. Nếu con nghe câu chuyện nói xấu về ai, con chớ nên thuật lại, câu chuyện đó có thể không đúng sự thật, mà dù nó đúng đi nữa, tốt hơn đừng nói ǵ cả.

          Trong Đoạn nầy, câu: “Chỉ có Thầy y mới biết y nghĩ ǵ,” có nghĩa là Chơn Sư muốn dạy ta cách đối đăi với các bạn Đồng Đạo; không nên có ư ngờ vực. Y có cách tưởng nghĩ riêng, y chịu trách nhiệm với Đức Tôn Sư của y.

          Khi chúng ta không biết lư do hành động của bạn ḿnh th́ làm sao xét đoán được hành động đó. Nói cho đúng chúng ta không được phép xét đoán ai cả.

          Chơn Sư cũng dạy không nên lặp lại những điều mà ta nghe nói có  hại cho ông X hay ông Y. Biết đâu những điều đó không có thật, do người ta ghét rồi phao vu. Mà dầu người ta có lỗi, người có ḷng nhân từ không nhắc tới lỗi đó, v́ khi xét ḿnh th́ thấy trước kia ḿnh cũng đă phạm tội như họ. Nếu ngày nay ta được trong sạch phần nào, đó là do ta trước kia đă đau khổ v́ nó, bây giờ thấy nó liền tránh xa, không khác nào việc bị phỏng lửa một lần, không dám lại gần lửa nữa.

          Hăy mở rộng ḷng nhân tha thứ cho kẻ lỗi lầm mới thật là người Biết Đạo và Hành Đạo.

 

PHẬT  DẠY  ĐỆ  TỬ  LỜI  NÓI  PHẢI  CHÂN  CHÁNH.  “TÔI  NGHE  NHƯ  VẦY.”

 

          Ở đây tôi tưởng cần giải nghĩa tại sao Phật dạy trước khi giảng Kinh Phật nói: “Tôi nghe như vầy,” chớ không nói: “Phật nói như vầy.”

          Hai câu nầy ư nghĩa khác nhau rất xa.

          “Tôi nghe như vầy” có nghĩa là: Tôi lặp lại những điều đă nghe, không biết có thiếu sót điều chi chăng? Các anh hăy suy nghĩ.

          C̣n câu: “Phật nói như vầy” là quả quyết rằng ḿnh lặp lại đúng y như lời Phật đă nói, không bỏ sót chữ nào cả.

          Cái Trí con người không phải cái máy ghi âm, thâu vô bao nhiêu sẽ phát ra bấy nhiêu không sai một mảy.

          Trọn 45 năm, Phật thuyết pháp không biết bao nhiêu lần, làm sao các Đệ Tử nhớ hết từ đầu đến cuối được.

          Nếu lặp lại không y như lời Phật đă nói mà quả quyết “Phật nói như vầy” sẽ phạm tội Vọng Ngữ.

          Phật bảo: “Tôi nghe như vầy” tức là muốn dạy Đệ Tử lời nói phải Chân Chánh, Đúng với Sự Thật, Ngài muốn tránh cho Đệ Tử khỏi phải mắc tội nói dối, nên căn dặn Bài Kinh nào cũng phải mở đầu: “Tôi nghe như vầy.”

          Tiếc thay đời sau Vu Cáo Phật Nhiều Lắm.

          Họ nói cái nầy, cái kia rồi hô to: “Ấy là Phật Ngôn.” Họ luyện tập cách nầy, cách kia rồi tuyên truyền: “Ấy là Phật Pháp.”

          Những người chưa Biết Đạo tin bằng lời. Họ là những người đáng thương hại hơn hết, v́ mắc phải tội Vọng Ngữ.

          Phải biết bên Chánh Đạo các Đệ Tử đều Tŕ Trai, Giữ Giới.

          Phép luyện ḿnh là việc riêng của mỗi cá nhân. Ông Thầy dạy miệng học tṛ, tức là Khẩu Khẩu Tương Truyền. Không có hai người học tṛ nào học chung một Thầy mà luyện tập in như nhau, bởi v́ Cung Mạng của hai người và Đường Tiến Hoá Tinh Thần của hai người vẫn khác nhau. Phương pháp Huyền Bí Học không phải như Môn Thể Dục công khai mà ai ai cũng luyện tập một cách với nhau. Luyện sái một chút th́ bỏ mạng. Nếu không rèn luyện Tâm Tánh cho Thật Tốt, Xác Thân cho Tinh Khiết th́ không bao lâu sẽ Vấp Ngă trước những sự Thử Thách đưa tới mà Không Chịu Nổi. Ai ai cũng đều gặp những Chướng Ngại nầy. Vượt qua khỏi hay không tuỳ thuộc sức của Con Người. Những kinh nghiệm từ ngàn xưa đă chứng chắc điều nầy không bao giờ sai.

          Chớ nên thọc tay vào lửa để thử nó có đốt cháy da thịt hay không? Nên đề pḥng. Và hay hơn hết là mỗi người T́m Đạo nên tự hỏi: Tôi là ai? Tôi được sinh ra ở Cơi Trần làm chi? Hiểu được mục đích của cuộc đời th́ quí bạn cầm sự tiến hoá của quí bạn trong tay. Quí bạn hăy t́m đọc những quyển sách giảng giải về Đường Đạo th́ quí bạn sẽ biết những việc phải làm để tiến mau, khỏi bị những tai hại nào cả.

          T́m Đạo không phải là Học những Phép Thần Thông, v́ những Phép Thần Thông không phải là Đạo. Đạo là Luật Sanh Hoá Trời Đất.

          Quí bạn vẫn biết Đức Phật ra đời dạy Tứ Diệu Đế  và Bát Chánh Đạo, chớ không bao giờ dạy cách Xuất Hồn, Xuất Vía, Mở Thần Nhăn, Thần Nhĩ chi cả.

          Ngài cấm Đệ Tử dùng những Phép Thần Thông để khoe khoang. Việc Ngài đập nát Cái Bát bằng Bạch Đàn của Đức Ma-Ha Ca-Diếp lấy đem về Tịnh Xá chứng minh lời tôi nói đây (Xin xem Đoạn Những Phép Thần Thông).

          Hăy suy nghĩ kỹ trước khi nói, v́ e rằng con sẽ nói không đúng sự thật.

          Phải thành thật khi hành động: Đừng bao giờ tự huênh hoang, phóng đại h́nh ảnh của con hơn sự thật. Mọi sự nguỵ tạo đều là trở ngại nó không cho ánh sáng trong sạch của Chân Lư soi thấu ḷng con như ánh sáng Mặt Trời rọi xuyên qua mảnh kính trong trẻo.

          Phải biết lúc đó Alcyone c̣n nhỏ chưa thông hiểu Luật Nhân Quả, cho nên Chơn Sư phải lặp đi lặp lại nhiều lần về việc phân biệt sự chân, sự giả và sự thành thật, hầu Alcyone tránh những hậu quả không tốt có thể xảy ra.

          Khoe khoang những điều ḿnh không thật có, thật biết, tức là ḿnh muốn loè thiên hạ. Như vậy ḿnh đă tự dối ḿnh mà c̣n dối người khác nữa.

          Nếu biết th́ nói biết, không biết th́ nói không biết, và cố t́m học cho thật biết. Có chi để hổ thẹn. Chúng ta c̣n dốt lắm. Chúng ta vốn là học sinh, c̣n biết bao nhiêu điều cần phải học hỏi trên đường đời cũng như trên Đường Đạo. Chúng ta đang học làm người trọn lành, chớ chưa phải là người trọn lành. Tại sao lại không phục thiện?

          Ta hăy thử nghĩ điều nầy: Nếu trí óc ta là những tấm kiến màu th́ ánh sáng của Chân Lư rọi qua không c̣n sáng trắng nữa mà là ánh sáng màu vàng, màu đỏ, màu xanh, có khi màu đen, tuỳ theo bản tánh của trí óc ta.

          Ta nhờ trí óc để học hỏi, nhưng một trí óc như thế làm sao hiểu được sự thật?

          Đừng quên rằng: Đạo là Chân Lư, là Sự Thật Tuyệt Đối. Nếu ta không thành thật th́ Nhân Quả sẽ dạy ta những bài học về Sự Chân Thật rất đau thương, không bây giờ th́ cũng vài năm sau. Vậy nên tập tánh Chân Thật ngay lúc nầy là điều hay hơn hết.

          Tôi tưởng cũng nên nói trắng ra: Sự hung ác và sự giả dối cũng giúp cho con người tiến vậy. Mới nghe qua thật là sự trái tai, nhưng đây có nghĩa là họ bị Luật Báo Ứng phạt làm cho họ bị đau khổ nhiều lần. Họ tỉnh ngộ, và trở nên hiền lương và thành thật.

          Như thế họ tiến, nhưng tiến trong sự đau khổ. C̣n những người nhân từ, những người thành thật tiến trong sự an vui.

 

NHỮNG  ĐIỀU  HỮU  ÍCH  CỦA  SỰ  CHÂN  THẬT

 

          Trong quyển số 4 của Bộ “Học Cơ Tiến Hoá Theo Khoa Minh Triết Thiêng Liêng,” trang 13-26, tôi có bàn về: Tư Tưởng Chân Chánh, Lời Nói Chân Chánh và Việc Làm Chân Chánh.

          Tôi xin chép lại hai Đoạn nói về Lời Nói Chân Chánh và Việc Làm Chân Chánh cho quí bạn xem.

 

II- LỜI  NÓI  CHÂN  CHÁNH

 

          Thế nào là Lời Nói Chân Chánh?

          Lời Nói Chân Chánh phải có đủ 3 đức tánh:

          1- Có cần thiết không?

          2- Có đúng với sự thật không?

          3- Có nhân từ không?

 

A- CÓ  CẦN  THIẾT  KHÔNG ?

 

          Cần thiết đây có nghĩa là: Đúng lúc và hữu ích. Lời nói chỉ có hiệu quả tốt đẹp là khi nào nói có suy xét và cố ư chớ không phải nói suồng să, tầm ruồng, đụng đâu nói đó một cách vô tâm. Lời nói phải từ nội tâm phát ra, âm điệu du dương chỉ có thể nảy sinh trong khi vắng tiếng rầy rà, ồn ào.

          Lời nói chân chánh phải có tính cách giúp đỡ, phá tan những đau khổ, giải quyết những khó khăn và đem hạnh phúc lại cho con người. Ngạn ngữ Tây Phương: “Phải uốn lưỡi 7 lần trước khi nói,” thật đúng lắm vậy.

          Phải Bịt Miệng với 3 Lớp Khăn như H́nh mà Đức Khổng Tử đă thấy trong một Cổ Miếu. Phải Thủ Khẩu Như B́nh mới sống yên được trong đời loạn lạc.

          Từ xưa đến nay, Lời Nói Vô Ư Thức đă gây ra nhiều Tai Hoạ, mà ít ai nghĩ tới việc Cẩn ngôn, Cẩn hạnh.

 

B- CÓ  ĐÚNG  SỰ  THẬT  KHÔNG ?

 

          Trong Đạo Bát Chánh của Phật Giáo, Chánh Ngữ tức là Lời Nói Chân Chánh được sắp vào Hàng Thứ Ba, sau Chánh Kiến (Thấy Chánh hay là Phân Biện), và Chánh Tư Duy (Tư Tưởng Chân Chánh).

          Muốn cho Lời Nói Chân Chánh th́ phải nói cho thật đúng, hết sức thật đúng. Thật đúng một cách tầm thường như ngoài đời, chưa thật là đủ, nhưng được bao nhiêu đó cũng đă khá lắm rồi.

          Người Đệ Tử phải nói hết sức đúng với sự thật. Phải nói thật một cách tuyệt đối.

          Đây là Đức Tánh Cần Thiết Hơn Hết cho những ai muốn đi theo Con Đường Huyền Bí Học.

          Phải thật đúng trong khi nhận xét. Phải thật đúng trong khi tường thuật lại mọi việc. Phải thật đúng trong tư tưởng. Phải thật đúng trong lời nói, trong việc làm, trong lúc hành động.

          Nếu không ngớt t́m kiếm sự thật, nếu không chí quyết trở thành một người giữ ḿnh đúng với sự thật th́ không thể nào đi theo được Con Đường Huyền Bí Học.

          Huyền Bí Học sẽ là một hiểm hoạ, một sa ngă mà thôi. Sự sa ngă nầy càng đáng sợ, càng đau thương khi sinh viên càng lên cao. Tại sao thế ?

          Bởi v́ đối với Nhà Huyền Bí Học, sự thật quả vừa là một người chỉ đường, đưa lối, một người hướng đạo, vừa là một bộ áo giáp để che chở họ.

          Sự thật đúng là người hướng đạo v́ nhờ nó mà Nhà Huyền Bí Học có được Trực Giác, giúp anh có thể phân biệt được Con Đường Chân Chánh và Con Đường Sai Lầm: Chánh Đạo và Tà Đạo. Nó là một bộ áo giáp, v́ nếu Nhà Huyền Bí Học không mặc bộ Áo Giáp Chân Thật đó th́ không thể nào tránh khỏi cạm bẫy của kẻ nghịch đưa ra. Anh sẽ là nạn nhân của những ảo ảnh và những h́nh thù quái đản của những cảnh giới mà anh phải đi qua.

          Áp dụng Sự Thật Đúng trong Tư Tưởng, Lời Nói và Việc Làm sẽ lần lần thức tỉnh được cái Trực Giác Tinh Thần. Nó phá tan tất cả những tấm màn Ảo Tưởng và không khi nào bị một thế lực ǵ ở đời lừa dối nó được.

 

NHỮNG  TẤM  MÀN  CHE   MẮT  GIĂNG  KHẮP  MỌI  NƠI

 

          Trong Cơi Đời ảo tưởng nầy, những h́nh dáng giả dối từ tứ phía nổi lên, cho đến ngày nào mà Trực Giác Tinh Thần với tia mắt nh́n thẳng thắn và không sai lầm của nó đi xuyên qua được mặt nạ che giấu sự vật th́ ngày đó Nhà Huyền Bí Học mới vững bước trên con đường đầy chông gai nầy.

          Ta không thể đạt được Trực Giác đó, nếu không tập luyện để có được Sự Thật Đúng trong Tánh T́nh, Sự Thật Đúng trong Trí Năo, Sự Thật Đúng trong Hành Động.

          Không có Sự Thật Đúng, ta sẽ thất bại, và lầm lạc. Không bao giờ tránh khỏi điều nầy được.

          Về Sự Thật, Đức Leadbeater dạy chúng ta rằng những danh từ chính xác và cụ thể cái nghĩa của Sự Thật trong ngôn từ là:

          Đúng đắn, danh từ chọn lựa kỹ lưỡng, rơ ràng, không chuốt ngót.

          Trong Ấn Độ Giáo có một quan niệm rất quen thuộc với chúng ta là: Âm Thanh tạo lập Vũ Trụ. Âm Thanh đây có nghĩa là: Mỗi Thứ Rung Động. Đó là lư do khiến người ta qui cho nó một năng lực đặc biệt. Khi chúng ta nói, chúng ta phát ra một cái ǵ đó không thể thay đổi được nữa. Lời nói của chúng ta tượng trưng cho tất cả những kết quả do chúng ta gây ra và những động tác, hành vi, đủ đầy các thứ. Theo nghĩa tổng quát nầy chúng ta phải tập sao cho mỗi khi nói ta làm vang lên âm điệu trong trẻo và đích xác thật đúng điệu. Đó là một lư tưởng cao thật, nhưng trong khi hoài băo những lư tưởng của chúng ta và gắng sức làm cho đời sống của chúng ta phù hợp theo đó, ta không nên “quên nghĩ đến Sự Thật.” Đừng để có sự thoả hiệp với khuynh hướng tŕ độn ngăn trở sự cố gắng và giảm bớt sự hy sinh của chúng ta.

 

C- CÓ  TỪ  THIỆN  KHÔNG ?

 

          Quyển “Ánh Sáng Trên Đường Đạo” đă dạy:

          “Trước khi được nói trước mặt Chơn Sư, Lời Nói phải mất năng lực làm Thương Tổn.”

          Nói cách khác dễ hiểu hơn, Lời Nói phải dịu dàng, không ẩn ư nhục mạ hoặc làm đau ḷng kẻ khác. Sự Dịu Dàng và Thật Đúng không chống đối nhau như người ta thường lầm tưởng. Lời nói có thể đúng trọn vẹn vừa là hết sức dịu dàng, nhă nhặn và từ ái. Khi nó càng thật đúng bao nhiêu th́ nó càng phải dịu dàng bấy nhiêu, chính ngay trong Trung Tâm của Sự Vật, Chân Lư và Ḷng Từ Bi vẫn hằng sống đời đời bên cạnh nhau.

          Bởi lời nói phải phản chiếu Cái Tinh Hoa sâu kín nhất của Vũ Trụ không nên vô cớ làm mích ḷng người hay tạo ra một điểm ngờ vực nào cả. Vậy lời nói phải thật đúng và phải dịu dàng, nhă nhặn. Đó là sự khắc kỷ về lời nói, sự thiệt thọ hăm ḿnh trong ngôn ngữ, điểm hy sinh mà mỗi Người Chí Nguyện phải thực hành.

          Quí bạn sẽ hỏi: Nếu phải cảnh cáo hay khiển trách th́ phải làm thế nào?

          Nếu cảnh cáo hoặc khiển trách là những điều lắm khi cần đến th́ kết quả của nó phải có phần hữu ích. Nó phải thức tỉnh, khuyến khích, sửa đổi, đừng làm cho người có lỗi ở trong t́nh trạng ngă ḷng, rủn chí, buồn bực.

          Một đôi khi Chơn Sư có thể tỏ ra nghiêm khắc trong lời nói, nhưng như thế là Ngài muốn cho Đệ Tử hiểu một cách rành mạch và rơ ràng hơn lỗi đă phạm. Đồng thời Ngài cũng làm cho tâm hồn Đệ Tử được thêm phần mạnh mẽ và đầy nghị lực.

 

CHỚ  NÊN  HIỂU  LẦM  SỰ  NÓI  THẬT  ĐÚNG

 

          Tuy nhiên, chớ nên hiểu lầm sự nói thật đúng với sự nói hành.

          Không phải phanh phui những tật xấu của thiên hạ hay là mắng chửi trên đầu người ta rồi viện lẽ rằng: “Ḿnh nói Sự Thật.” Không nên đem những sự bí mật trong nghề nghiệp, trong gia đ́nh, trong xă hội, trong nước nói trắng ra để tỏ rằng ḿnh là tay thạo đời, là ḿnh thành thật.

          Điều đó là khờ dại, đần độn và chuốc lấy tai hoạ vào thân. Trong trường hợp nầy không nói ra tất cả những sự thật là khôn ngoan, kín miệng.

          Phải sáng suốt, phải biết phân biện, phải thận trọng từ chút, v́ có nhiều việc dầu biết rơ cũng phải giữ thái độ im lặng. Đó là điều hay hơn hết để tránh những điều phiền phức về sau có thể xảy ra.

 

VIỆC  LÀM  CHÂN  CHÁNH

 

          Việc Làm Chân Chánh (Chánh Nghiệp) đứng vào Hàng thứ Tư của Bát Chánh Đạo.

          Nếu Tư Tưởng Chân Chánh và Lời Nói Chân Chánh th́ tự nhiên Việc Làm cũng sẽ trở thành Chân Chánh.

          Cái Nhân đă như thế Cái Quả cũng sẽ như thế chớ không sao khác được. V́ hành động tức là sự biểu lộ của sức mạnh nội tâm và khi nào tư tưởng trong sạch, lời nói thật đúng và ngay thẳng th́ sự hành động tất nhiên sẽ cao thượng.

          Phát nguyên từ ngọn suối êm đềm, ngon ngọt, ḍng nước cũng phải êm đềm, ngon ngọt không thế nào khác hơn được. Phát sanh từ tấm ḷng và khối óc tinh khiết th́ hành động chỉ có thể là chân chánh và từ thiện mà thôi.

          Tư tưởng chân chánh, lời nói chân chánh, việc làm chân chánh là ba sợi dây liên kết Người Chí Nguyện một mặt với nhân loại trong việc phụng sự cao siêu, một mặt với Sư Phụ của anh. Ba sợi dây nầy không thế nào bị cắt đứt.

          Trong các Tôn Giáo lớn, ba sợi dây ấy là dấu hiệu của sự hoàn toàn tự chủ: Tự Chủ về Tư Tưởng, Lời Nói và Việc Làm.

          Và sau rốt mọi sự sẽ ra sao? Về ngôn ngữ, con người tỏ ra bất lực, không sao diễn tả đoạn chót của sự lập hạnh nầy. Những màu sắc tối tăm của Trái Đất không sao miêu tả vẻ mỹ lệ của lư tưởng toàn hảo ấy mà chúng ta hy vọng một ngày kia sẽ đạt và biết rơ rằng một ngày kia sẽ thành tựu. Có bao giờ lư tưởng nầy hiện rơ ra với chư huynh trong lúc lặng lẽ không? Chư huynh có bao giờ trông thấy cái phản ảnh của nó trong sự an tịnh của Trái Đất, cũng như trong sự tịch mịch của Bầu Trời không?

          Chư huynh đă bao giờ trông thấy các Vị Tiên Thánh c̣n sống và hoạt động không? Các Vị trước kia là người và bây giờ đă vượt qua tŕnh độ của con người, trở thành những Vị Siêu Nhân cao cả, oai nghiêm. Sau nầy nhân loại cũng sẽ được như các Ngài, tuy bây giờ chưa đạt đến tŕnh độ ấy, trừ ra những người ở những ṿng trong của Thánh Điện.

 

CÁC  TÔN  GIÁO  ĐỀU  TRỌNG  TÁNH  CHÂN  THẬT

 

          Tôi xin kể những lời dạy của các Tôn Giáo về Tánh Chân Thật cho quí bạn nghe.

 

1- ẤN  GIÁO

 

          Chân Lư là Thượng Đế, vĩnh cửu. Vạn vật đều dựa vào Chân Lư. (Mahâbhârata Anoushâsana Parva CLXII-5).

          Sự khổ hạnh, ḷng quảng đại, sự công b́nh, ḷng nhân từ, sự chân thật, đó là những sự hy sinh. (Chândogya Oupanishad, II, XVII, 4).

          Hăy nói điều chi có thật . . . . . . Đừng ra ngoài Chân Lư. (Taittiriya Oupanishad, I, II, 1).

 

2- BÁI  HOẢ  GIÁO  (ZOROASTRISME)                                              BA    GIÁO

 

          Người ta nên biết rằng: Thật là Phẩm Hạnh do Chân Lư mà ra.

          Đúng thật, những người cứu trợ nhân loại cao cả nhất là những người ưa thích Chân Lư, họ thấy xa và vâng lời Đức Thượng Đế, Ngài biết tất cả. (Dinhard. Vol. VII. P. 452).

          Điều thứ năm: Đừng bao giờ nói dối, v́ sợ danh giá và sự vinh quang sẽ bị hoen ố. (Ibid. P. 492).

 

3- DO  THÁI  GIÁO  (JUDAISME)

 

          Đức Thượng Đế muốn Sự Chân Thật ở trong đáy ḷng. (Thi Thiên 51-8) (Psaume 51-8).

          Những lời của kẻ hung ác là những cạm bẫy làm cho đổ máu.

          Nhưng cái miệng của những Người Ngay Thẳng giải thoát cho kẻ khác. (Châm Ngôn 12- ‘6’) (Proverbes 12- ‘6’).

          Kẻ nào Nói Thật, tuyên bố sự công b́nh; người làm chứng giả dối tỏ ra gạt gẫm. (Châm Ngôn 12- ‘17’).

          Điều Chân Thật bền vững đời đời, nhưng cái lưỡi giả dối chỉ tồn tại trong một lúc mà thôi. (Châm Ngôn 12- ‘19’).

 

4- PHẬT  GIÁO

 

          Ai biết được điều nào Chân là Chân, điều nào giả là giả sẽ hiểu thấu Chân Lư và theo đuổi những ước mơ chánh đáng. (Pháp Cú 1- ‘12’) (Dhammapada 1- ‘12’).

          Hăy Nói Thật, đừng giận hờn, tuỳ theo sức ḿnh mà bố thí, do ba điều nầy con người đến gần các Vị Thiên Đế. (Pháp Cú 224).

          Người nào lời nói dịu dàng, hữu ích, Ngay Thật, không dùng lời nói mắng nhiếc ai, người đó, mới thật là Người Bà La Môn. (Pháp Cú 408).

          Người nầy chớ gạt gẫm người kia v́ y vốn đồng loại với ḿnh. (Mettasoutta 6).

 

5- THIÊN  CHÚA  GIÁO

 

          Như vậy, mỗi người trong các anh hăy chừa bỏ sự nói dối, hăy nói thật với đồng bào, v́ chúng ta là anh em với nhau. (Ê Phê Sô 4- ‘25’) (Éphésiens 4- ‘25’).

          V́ cái quả của sự sáng láng ở tại mọi điều nhân từ, công b́nh và Thành Thật. (Ê Phê Sô 5- ‘9’).

          Vậy hăy đứng vững, lấy Lẽ Thật làm dây nịt lưng. (Ê Phê Sô 6- ‘14’).

          Chớ nên Dối nhau, v́ đă lột bỏ người cũ cùng công việc của nó. (Colossiens 3- ‘9’).

          (Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước in lần thứ 8).

 

6- HỒI  GIÁO

 

          Đừng lấy sự giả dối che đậy Sự Thật, đừng đánh cắp ánh sáng của nó, anh biết nó rồi. (Coran II ‘41’).

          Hăy lường thật đầy và dùng một cái cân thật đúng. (Coran 6 ‘182’).

          Thật vậy, Thượng Đế ra lịnh cho chúng ta phải công b́nh. (Coran XVI  ‘92’).

          Và c̣n nhiều nữa, chớ không phải bao nhiêu đó là đủ.

          Con phải phân biệt giữa cái ích kỷ với cái vị tha. Bởi tánh ích kỷ có rất nhiều h́nh thức, nên khi con nghĩ con đă diệt được nó trong một h́nh thức nầy nó lại trổi dậy dưới một h́nh thức khác cũng mạnh mẽ không kém. Nhưng dần dần tư tưởng lo giúp đỡ kẻ khác sẽ choán cả tâm trí con đến nỗi không c̣n chỗ nào, lúc nào để nghĩ đến con nữa.

          Tánh ích kỷ ăn sâu vào tâm trí con người cả trăm triệu năm rồi. Không phải dễ trừ nó. Nó có thiên h́nh vạn trạng, Chơn Sư đă nói: Dầu diệt nó dưới một h́nh thức nào nó vẫn tái sanh dưới một h́nh thức cũng mạnh bạo khác.

          Tánh ích kỷ không khác nào Con Rắn Bảy Đầu Hydre de Laerne ở trong Hồ Laerne tại Argolide, miền ao hồ xứ Cổ Hy Lạp. Chặt đứt đầu nầy th́ đầu khác mọc ra. Nó bị Heraclès, tức là Hercules chặt một cái rụng hết bảy đầu, không mọc được nữa.

          Muốn trừ tánh ích kỷ phải mở ḷng từ bi thương xót những người cô thế, yếu đuối, lầm lạc và t́m phương giúp đỡ họ tuỳ theo khả năng của ḿnh.

          Phải ra công luyện tập mỗi ngày, trong ṿng 3, 40 năm mới mong thấy ḷng vị tha của ḿnh mở rộng.

          Phải làm sao trong trí ta chỉ chứa một điều là mưu cầu hạnh phúc cho đời th́ ta không c̣n th́ giờ nghĩ đến cá nhân ta nữa.

          Ta gặp nhiều người than phiền: “Thật là đáng buồn, đáng phiền, anh X không tưởng đến tôi, trong khi tôi vẫn lo lắng cho anh.” Sự than phiền nầy tỏ ra người nói c̣n tánh ích kỷ.

          Phải nói trong ḷng như vầy: “Tôi cứ lo làm những việc lành, những việc phải. Điều đó thật là trọng hệ. Việc người ta biết hay không biết những hành động của tôi, không có chi là quan trọng.

          Bổn phận của tôi luôn luôn phải thi ân bố đức, nhưng không đ̣i hỏi điều chi cho tôi cả.”

          Như thế th́ quí bạn sống một đời cao thượng, thanh cao và được thiên hạ mến yêu.

          Con phải phân biệt một  cách khác nữa. Phải tập nhận rơ Đức Thượng Đế ngự trong mọi người, mọi vật, dù cho bề ngoài người ấy hay vật ấy xấu xa đến đâu đi nữa. Con có thể giúp đỡ đồng loại của con nhờ cái mà con cùng có chung với y, đó là Sự Sống Thiêng Liêng. Hăy t́m cách đánh thức Sự Sống đó trong người của y, và t́m cách kêu gọi Sự Sống đó trong người y; như vậy con sẽ cứu được y ra khỏi sự sái quấy.

          Trên Trời, dưới Đất, trên Không Trung, trong thân thể các Loài Vật, từ Loài Tinh Chất, Kim Thạch, Cầm Thú, Con Người và các Hạng Thiên Thần đều có Sự Sống Thiêng Liêng, Sự Sống của Đức Thượng Đế.

          Ông Ouddalaka có đưa ra một sự thí nghiệm để chứng minh đâu đâu cũng có Thượng Đế. Câu chuyện như sau đây:

 

CÂU  CHUYỆN  ÔNG  OUDDALAKA  DẠY  CON  HAY    ĐÂU  ĐÂU  CŨNG    ĐỨC  THƯỢNG  ĐẾ

 

          Ông Ouddalaka bảo đứa con trai bỏ muối vào một chậu nước. Bữa sau, ông nói với nó: “Con hăy kiếm muối cho cha.” Đứa con trai trả lời: “Con t́m không ra.” Ông nói: “Hăy nếm nước ở trên mặt b́nh nước.” Đứa con trai vâng lời, và nói: “Nước mặn lắm.”

          Hỏi: Hăy nếm nước ở phần giữa cái b́nh.

          Đáp: Nó cũng mặn.

          Hỏi: C̣n nước ở dưới đáy?

          Đáp: Nó cũng mặn nữa.

          Ông bèn giải cho nó biết: Muối đă tan hết trong nước nên không thấy nó, không gặp lại nó. Cũng thế đó, Hồn của Vũ Trụ là Brahman, Đức Thượng Đế thâm nhập vào tất cả các loài. Đâu đâu cũng có Ngài, Ngài vô sở bất tại, trường tồn bất diệt, Ngài là một, tuy vẫn khác trong những lớp vỏ đă mang để hiện ra. Tất cả những cái ǵ có nơi đây, đều nhờ Đấng độc nhất vô nhị là Ngài ban cho Sự Sống nên mới sống được.

          Rồi ông mới nhấn mạnh: “Ấy là Đại Hồn của Vũ Trụ, ô Svetaketu! Ngài là Cái Đó (Tu es Cela).

          Nầy con! Đây là cái cầu của chúng ta. Con là Atman, Atman là Bản Ngă của Con Người; mà Atman với Brahman, Đại Ngă của Vũ Trụ, chỉ là một. Trong Tâm của Con Người có một lỗ hủng,[36] ấy là chỗ trú ẩn của Đức Thượng Đế Brahman, người ta có thể gặp Ngài nơi đó.”

          Bài nầy cũng chứng minh mấy câu sau đây trong Minh Tâm Bửu Giám:

          1- Nhơn hữu thiện nguyện, Thiên tất tri chi. (Tây Sơn Chân Tiên Sinh).

            - Người có ư nguyện lành, Trời ắt biết.

          2- Nhân gian tư ngữ, Thiên văn như lôi; Ám thất khuy tâm, Thần mục như điện. (Huyền Đế).

            - Ở Thế Gian lời nói riêng tư, Trời nghe như sấm. Ở trong nhà tối ḷng xấu tưởng quấy, mắt Thần thấy rơ như chớp.

          Những người chỉ biết Vật Chất, không tin có Tinh Thần sẽ cho những lời nói trên đây là phi lư, cốt để lừa trẻ con. Đối với họ, Trời là khoảng trống rỗng trên Không Gian mà thôi. Tự do tín ngưỡng, nhưng nên biết rằng: Dù cho Vũ Trụ, đừng nói chi là Con Người, cũng phải tuỳ thuộc Luật Nhân Quả.

          Nên nhớ rằng: Luật Nhân Quả là Luật Động và Phản Động; nó chi phối Vũ Trụ Càn Khôn, không có Loài nào thoát khỏi ảnh hưởng của nó.

 

3  ĐIỂM  CHÁNH  TRONG  CON  NGƯỜI    CÁC  LOÀI  VẬT

 

          Trong Con Người và các Loài Vật đều có 3 điểm chánh sau đây:

          1- H́nh Thể.

          2- Bản tánh của H́nh Thể.

          3- Sự Sống Thiêng Liêng trong ḿnh.

          Khi ta gặp một con sâu rọm ḅ dưới đất, lông lá h́ hợm làm cho người phát sợ, ta hăy tự nói: Con vật nầy cũng có Sự Sống Thiêng Liêng như ta, nhưng nó đang ở vào một tŕnh độ thấp kém hơn ta, nó có sự tiến hoá riêng của nó. Ta hăy để cho nó được tự do như ta muốn được tự do vậy.

          Ta không nên giết nó. Chỉ trong trường hợp sâu bọ phá hoại mùa màng, cây trái, ta phải ra tay trừ khử. Đây là trường hợp bất khả kháng. Ta phải trọng sinh mạng của Con Người hơn sinh mạng của sâu bọ.

          Ngoại trừ trường hợp phải tự vệ, ta không được phép sát hại những Loài Vật của Trời sanh.

 

SAO    THỨC  TỈNH  SỰ  SỐNG  THIÊNG  LIÊNG ?

 

          Sự Sống Thiêng Liêng ngủ say trong ḷng Con Người hay sao mà phải thức tỉnh nó?

          Đây là lời nói bóng dáng.

          Sự Sống Thiêng Liêng tức là Chơn Thần.

          Thức tỉnh Sự Sống Thiêng Liêng là phải làm sao cho Con Người tự biết ḿnh là Chơn Thần, một Điểm Linh Quang của Thượng Đế.

 

CON  NGƯỜI  PHẢI  TỰ  BIẾT  M̀NH    CHƠN  THẦN

 

          Xin nhắc: Cũng như Đức Thượng Đế Con Người có 3 Ngôi:

          Ngôi thứ Nhứt: Chơn Thần (Monade).

          Ngôi thứ Nh́: Chơn Nhơn (Ego – Individualité – Soi Supérieur).

          Ngôi thứ Ba: Phàm Nhơn (Personnalité – Soi Inférieur).

 

1- CHƠN  THẦN

 

          Chơn Thần vốn là Con của Đức Thượng Đế ở tại Cơi Đại Niết Bàn, đồng Cảnh với Ngôi thứ Nh́ của Thượng Đế là Vishnou.

          Khi Con Thú tiến hoá tột bực cao rồi th́ Chơn Thần xuống Cơi Bồ Đề biến đổi Hồn Thú ra Thượng Trí và sanh ra Chơn Nhơn.

 

2- CHƠN  NHƠN

 

          Chơn Nhơn là một phần nhỏ nhít của Chơn Thần. Chơn Nhơn hoạt động ở 3 Cơi: Niết Bàn, Bồ Đề và Thượng Thiên.

          Chơn Nhơn đang ở vào thời kỳ phát triển mà thôi, cho nên các Chơn Nhơn có những tŕnh độ tiến hoá khác nhau.        

          Ta có thể nói, mặc dầu ở chung với các Đại Thiên Thần Vô Sắc Giới, có những Chơn Nhơn già và những Chơn Nhơn trẻ. Những Vị có tuổi tác thường thông hiểu và kinh nghiệm nhiều hơn mấy Vị c̣n trẻ và sanh sau. Dầu sao, đời sống của Chơn Nhơn cũng rộng lớn, phong phú và cao siêu hơn đời sống Hồng Trần của Phàm Nhơn.

 

3- PHÀM  NHƠN

 

          Chơn Nhơn sanh ra Phàm Nhơn để học hỏi và kinh nghiệm ở 3 Cơi dưới là: Hạ Thiên, Trung Giới (Dục Giới) và Hồng Trần. Phàm Nhơn là một phân thân của Chơn Nhơn.

 

PHÀM  NHƠN  RA  SAO ?

 

          Kinh sách Đạo Đức nói theo cách tượng trưng như vầy: Phàm Nhơn là một người màu vàng lớn bằng ngón tay cái ngự tại trái tim.

          Đức Leadbeater và nhiều vị Đệ Tử khác thường thấy Phàm Nhơn như là một Ngôi Sao Sáng Rỡ.[37]

          Có người th́ Ngôi Sao nầy ở tại Luân Xa giữa hai Chưn Mày, có người th́ ngôi sao nầy ở tại Luân Xa của Yết Hầu, có người th́ Ngôi Sao nầy ở tại Luân Xa gần rún, v.v… Điều đó vẫn tuỳ thuộc Cung Mạng và Ḍng Giống của Con Người hay là Sắc Tộc.

          Phàm Nhơn là đại diện của Chơn Nhơn trong 3 Cơi: Hạ Thiên, Trung Giới và Hồng Trần. Nhưng Phàm Nhơn thường quên cội rễ và coi ḿnh như một Cá Nhân riêng biệt, v́ nghe theo lời xúi biểu của 3 Thể: Thân, Vía, Trí.

 

SỰ  LIÊN  LẠC  GIỮA  3  NGÔI:  CHƠN  THẦN, CHƠN  NHƠN    PHÀM  NHƠN

 

          Có Đường Giao Thông giữa Chơn Thần với Chơn Nhơn và giữa Chơn Nhơn với Phàm Nhơn.

          Đường Giao Thông giữa Chơn Nhơn với Phàm Nhơn gọi là Antakarana. Nhưng Đường Giao Thông nầy thường bị nghẹt, v́ các hành động xấu xa, quấy quá của Con Người từ trong tư tưởng, ư muốn cho tới lời nói và việc làm mỗi ngày. Con Người vẫn đi theo con đường cũ đă vạch sẵn.

 

TẠI  SAO  CHƠN    BẢO  ALCYONE  PHẢI  ĐI  SÂU  VÀO  NỘI  TÂM  ĐỂ  T̀M  ĐỨC  THƯỢNG  ĐẾ    NGHE  LỜI  NGÀI ?

 

          Ở đây Đức Thượng Đế là Chơn Thần. Chơn Thần vẫn đồng bản tánh với Đức Thượng Đế và ngày sau sẽ thành một vị Thượng Đế.

          Chơn Sư không bảo phải t́m Chơn Nhơn, v́ Chơn Nhơn chưa Sáng Suốt, chưa Thánh Thiện, chưa Thiêng Liêng như Chơn Thần.

          Khi được Điểm Đạo lần thứ Nhứt th́ Phàm Nhơn nhập một với Chơn Nhơn. Lúc nầy Chơn Thần xuống Phát Nguyện.

          Tới khi được Điểm Đạo lần thứ Năm, Chơn Nhơn nhập một với Chơn Thần. Con Người thành một Vị Siêu Phàm.

          Chơn Nhơn không c̣n nữa. “Dưới Chân Thầy” dạy một cách tuyệt đối, không có những biện pháp lưng chừng.

 

MUỐN  THỨC  TỈNH  NGƯỜI,  M̀NH  PHẢI  TỰ  THỨC  TỈNH  M̀NH  TRƯỚC

 

          Chơn Sư bảo: Phải thức tỉnh Sự Sống Thiêng Liêng trong Con Người mới cứu y khỏi bị tai hại.

          Thật sự, muốn dạy dỗ người, muốn thức tỉnh người th́ trước nhất ḿnh phải tự dạy dỗ ḿnh, tự thức tỉnh ḿnh th́ kết quả mới có phần tốt đẹp.

 

PHƯƠNG  PHÁP  TỰ  THỨC  TỈNH

 

          Dưới đây là phương pháp tự thức tỉnh ḿnh.

          Mỗi ngày 4 lần:

          1- Sớm mai khi vừa thức dậy rửa mặt mày xong xuôi.

          2- Trưa 12 giờ hay 1 giờ.

          3- Chiều 6 giờ.

          4- Tối trước khi đi ngủ.

          Ngồi trên ghế hay chỗ nào cũng được. Nói trong ḷng hay là nói nho nhỏ trong miệng câu nầy 3 lần:

          “Om! Tôi là Atman,[38] Chơn Linh cao cả, toàn năng, toàn thiện, toàn giác. Ḷng Từ Bi, Bác Ái của tôi bao la, bát ngát, vô tận, vô biên.