Tiếng Nói Vô Thinh

PHẦN THỨ NHỨT

 

1. Những lời này để dành cho những kẻ chưa biết những mối nguy hiểm của  những Iddhi (1) bậc thấp. (power)

 

2. Ai muốn nghe và hiểu được tiếng Năda (2) “Tiếng vô thinh” th́ phải học cho biết bản chất của Dhărană (3). (đại định)

 

3. Khi đă trở nên lănh đạm đối với những đối tượng của giác quan, đệ tử phải t́m kiếm chúa tể của ngũ quan, tay sản xuất tư tưởng, kẻ gây ra ảo mộng.

 

4. Cái Trí là tay đại phá hoại Sự Thật.

 

5. Đệ tử phải trừ khử tay Phá Hoại đó.

 

Bởi v́:

 

6.  Khi đệ tử xem h́nh hài của ḿnh dường như không có thật, không khác nào những cảnh vật thấy trong giấc chiêm bao khi thức giấc.

 

7. Khi đă hết nghe tiếng vạn vật, đệ tử có thể nhận ra Đấng Duy Nhất. Cái tiếng bên trong giết chết cái tiếng bên ngoài.

 

8. Bấy giờ và chỉ đến bấy giờ, đệ tử sẽ bỏ miền Asat (cảnh giả), để vào địa phận   của Sat, (cảnh chơn).

 

9. Trước khi hồn được thấy, phải có sự Điều Ḥa bên trong và mắt thịt không c̣n nh́n thấy một huyễn cảnh nào nữa.

 

10.  Trước khi hồn được nghe, h́nh ảnh (con người) phải không c̣n để lọt vào tai, những tiếng gầm thét cũng như những tiếng th́ thào, những tiếng voi rống cũng như tiếng vo vo trong trẻo của con đôm đốm vàng.

 

11.  Trước khi hồn được hiểu và nhớ, nó phải hợp làm một với Đấng thốt những lời không tiếng, cũng như cái khuôn mẫu do đó mà đất nắn nên h́nh, hợp làm một với tinh thần của người thợ làm đồ gốm.

 

12. Bởi v́ bấy giờ hồn sẽ nghe và sẽ nhớ.

 

13. Bấy giờ bên tai của hồn  TIẾNG NÓI VÔ THINH sẽ thốt lên.

 

14. Nếu hồn con vui cười trong ánh b́nh minh của cuộc Đời; nếu hồn con ca hát trong lốt nhộng máu thịt trần gian; nếu hồn con than khóc trong đền đài mộng huyễn của nó; nếu hồn con vẫy vùng để bứt đứt sợi chỉ bạc cột liền nó với Sư Phụ (4) th́ con hăy biết, hỡi đệ tử, hồn con thuộc về trần thế.

 

15.  Khi hồn (5) con vừa chớm nở để tai nghe tiếng xô xát của Đời: khi hồn con đáp lại tiếng gầm thét của cảnh đại ảo mộng (6). Khi hồn con kinh hăi trước cảnh lụy tuôn v́ đau khổ; điếc tai bởi những tiếng năo nề phải cảnh khắt khe mà chui rút lại như con rùa nhút nhát trong cái mai Ích Kỷ, th́ con hăy biết, hởi đệ tử, hồn con là một miếu đường không xứng đáng cho Đấng Thượng Đế Im Lặng của con.

 

16. Khi hồn con đă trở nên dơng mănh và thoát ra ngoài chốn ẩn thân yên ổn từ trước và khi đă cởi bỏ được cái lớp bảo vệ nó, hồn con tháo phăng sợi chỉ bạc và bay nhảy tự do; khi hồn con nh́n thấy h́nh ảnh của nó trên những lượn sóng của Không Gian, nó nói thầm: “Đây là Ta” th́ con hăy thú nhận, hỡi Đệ tử là hồn con bị mắc trong bức màn lầm lạc (7).

 

17. Trần gian nầy, hỡi Đệ tử, là pḥng Đau Khổ, nơi đây dài theo Con Đàng thử thách gian lao biết bao cạm bẩy rải rác để nhốt Chơn Nhơn của con vào ṿng lầm lạc gọi là “Đại Mê Tín”. (8)

 

18. Trần gian này, hỡi Đệ tử c̣n vô minh, chỉ là cái cửa tối tăm dắt đến cảnh lờ mờ trước khi đến thung lũng đầy ánh sáng thật, thứ ánh sáng không gió nào làm tắt được, thứ ánh sáng cháy không cần có tim, có dầu.

 

19.  Đại Luật có nói: “Trước khi biết được Đại Ngă (9) con phải biết Chơn Ngă của con”. Muốn biết được Chơn Ngă của con th́ phải ĺa bỏ tư ngă, xem nó không phải là con, ĺa bỏ con người của con, xem nó là không có, bấy giờ con có thể yên nghỉ trên đôi cánh của con Bạch Hạc, phải đấy, êm đềm thay khi được yên nghỉ trên đôi cánh của cái bất sanh, bất tử, chỉ là AUM (10) trải qua đời đời c̣n măi (11).

 

20.   Hăy ngồi lên lưng con Linh Điểu, nếu con muốn biết (12).

 

21.   Hăy bỏ đời sống của con, nếu con muốn sống (13).

 

22.   Hỡi kẻ hành hương mệt mỏi, con phải trải qua Ba Pḥng mới hết nỗi nhọc nhằn. Hỡi kẻ chiến thắng Ma Vương, Ba Pḥng dắt con qua ba trạng thái (14) để đến trạng thái thứ tư (15) và từ đó bước vào bảy cơi (16), những Cơi Yên Nghĩ Đời Đời.

 

23.  Nếu con muốn biết ba pḥng đó th́ đây, con hăy nghe và nhớ.

 

24.  Tên của pḥng thứ nhất là pḥng Vô Minh -  Avidya.

 

25.  Chính pḥng đó là nơi con sinh ra đời, nơi con sống và nơi con sẽ chết (17).

 

26. Tên pḥng thứ nh́ là pḥng Học Tập, nơi đó hồn con sẽ t́m thấy những hoa đẹp của cuộc đời, nhưng dưới mỗi bông đều có một con rắn nằm khoanh (18).

 

27.  Tên của pḥng thứ ba là Minh Triết, xa nữa là nước biển Akshara không bờ bến, nguồn Toàn Tri Vô Tận (19).

 

28.  Nếu con muốn đi ngang qua pḥng thứ nhất an toàn, th́ chớ để cho trí con nhận lầm ngọn lửa dục t́nh cháy đỏ nơi đó là ánh Thái Dương của cuộc đời.

 

29. Nếu con muốn qua khỏi pḥng thứ nh́ không nguy hiểm, th́ chớ dừng chân ngửi mùi hương nồng nặc của những bông hoa ở đó làm cho con phải mê man. Nếu con muốn thoát khỏi ṿng xiềng xích của Nhân quả th́ chớ t́m Sư Phụ nơi miền Mộng huyễn đó.

 

30.  Bậc Hiền Nhân không lưu luyến các vui thú giác quan.

 

31. Bậc Hiền Nhân không để tâm đến những giọng đựng mật của ảo mộng.

 

32. Hăy t́m người sanh ra con nơi pḥng Minh Triết ở bên kia, nơi không c̣n chút bóng tối nào và nơi mà ánh sáng chân lư chói lọi một hào quang bất diệt.

 

33.  Nguồn bất sinh, bất diệt vốn ở nơi con, hỡi đệ tử, cũng như ở trong pḥng này. Nếu con muốn đạt đến trạng thái đó, và hỗn hợp hai cái [3] làm một th́ con phải cởi bỏ lớp y phục đen tối của ảo mộng. Hăy bóp nghẹt tiếng nói của xác thịt, chớ để một h́nh ảnh nào của giác quan tạo ra chắn ngang giữa ánh sáng của nó và ánh sáng của con, hầu cho hai ánh sáng có thể hỗn hợp làm một. Khi con biết được sự Vô Minh (Ajnana) (21) của con th́ hăy lập tức xa lánh pḥng Học Tập đó. Pḥng này rất nguy hiểm với vẻ đẹp giả trá của nó và chỉ cần thiết cho thời kỳ tập sự của con thôi. Con hăy đề pḥng, hỡi đệ tử, đừng để cho một sự sáng chói hăo huyền làm cho Hồn con chậm bước và mắc vào ánh sáng phỉnh phờ đó.

 

34. Cái ánh sáng này do nơi hột ngọc trên măo của Ma Vương (22) chiếu ra, nó làm mê mẩn giác quan, mờ mịt thần trí, và bỏ rơi kẻ khinh xuất như một món đồ trôi giạt nơi biển cả.

 

35. Con thiêu thân bị ngọn đèn sáng chói hấp dẫn mà phải bị chết trong đĩa dầu lầy đặc. Nếu hồn lơ đễnh không vật ngă được con quỉ mê hoặc và ngạo nghễ th́ hồn sẽ trở lại trần gian làm nô lệ cho Ma Vương.

 

36. Hăy nh́n xem những Đoàn Hồn lũ lượt, vẩn vơ trên mặt biển ba đào của đời người như thế nào, và sau khi sức đuối, máu rơi, cánh găy, chúng nối nhau rớt xuống những lượn sóng to ra sao. Bị cuồng phong dồn dập, băo bùng lôi cuốn, chúng trôi giạt trong những ḍng nước cuộn và khi gặp ṿi nước to nào là bị cuốn đi mất.

 

37.  Nếu qua pḥng Minh Triết con muốn đạt đến Thung lũng Hạnh phúc th́ hỡi đệ tử, con hăy đóng chặt giác quan đừng nghe theo thuyết chia rẽ cực kỳ hung ác, nó làm cho con xa ĺa tất cả.

 

38. Con chớ để cho đứa con “sinh ở cơi Trời” của con, phải ch́m đắm trong biển của Ma Vương, xa ĺa Mẹ của muôn loài (Linh Hồn) mà hăy để cho lửa mầu rút vào nội cung, nơi Trái Tim (23) là bổn cung của Mẹ Thế giới (24).

 

39.  Bấy giờ từ nơi trái tim, Lửa này sẽ vượt lên đến tầng thứ sáu là tầng trung ương nằm giữa đôi mắt, nơi đó nó trở nên hơi thở của Linh Hồn Duy Nhất, trở nên tiếng nói vang rền khắp cả, tiếng nói của Sư Phụ con.

 

40. Chỉ đến chừng đó, con mới có thể trở nên “Người du ngoạn Thiên Cung” (25), tung mây lướt gió, đi trên sóng mà chân không đụng nước.

 

41. Trước khi đặt chân lên nấc thang chót của âm giai thần bí, con phải nghe đủ bảy thứ tiếng của Thượng Đế bên trong con (Chơn Ngă).

 

42. Tiếng thứ nhất giống như tiếng lảnh lót của chim quyên hát cho chim mái nghe một khúc hát khởi hành.

 

43. Tiếng thứ nh́ giống như tiếng chập chơa bằng bạc của các vị Thiên Tôn (Dhyànis) đánh thức các ngôi sao lấp lánh.

 

44. Tiếng kế đó như tiếng than thở nhẹ nhàng của con thủy quái bị nhốt trong vỏ.

 

45.  Kế đó tới tiếng của đờn Vina (26).

 

46. Tiếng thứ năm giống như tiếng sáo trúc xoáy vào tai. 

 

47.  Kế đó nó biến thành tiếng kêu chát chúa.

 

48.  Tiếng chót hết rung chuyển như tiếng gầm rền trong đám mây đen trước cơn băo tố.

 

49. Tiếng thứ bảy át mất cả mấy tiếng kia, không c̣n nghe chi nữa.

 

50. Khi sáu thứ tiếng (27) đă ch́m mất và đặt dưới chân Sư Phụ th́ đệ tử nhập vào Nhất Nguyên (28) trở nên Nhất Nguyên đó và sống trong đó.

 

51. Trưóc khi vào được con đàng này, con phải diệt trừ thể vía (29) của con, lau chùi thể trí (30) và rửa ḷng con cho trong sạch.

 

52.  Nước tinh anh trong suốt của sự sống trường tồn, không thể nào lẫn lộn vào trong gịng nước lộn bùn sau cơn băo tố.

 

53.  Giọt sương chiếu sáng trong tia nắng ban mai, giữa cánh hoa sen tinh khiết biến thành cục đất sét khi rớt xuống đất, thế là ḥn ngọc đă hóa ra bùn.

 

54.  Hăy chiến đấu với những tư tưởng ô trược của con trước khi nó áp chế được con. Hăy xử dụng nó y như nó xử dụng con vậy, nếu con không thẳng tay với nó, để nó mọc rễ, đâm chồi th́ con hăy biết, những tư tưởng đó sẽ quật ngă con và giết chết con. Hỡi đệ tử, hăy đề pḥng dầu cái bóng của nó cũng đừng để nó đến gần con, bởi v́ nếu để cho nó lớn, nó mạnh, cái vật xấu xa đen tối đó sẽ xâm nhập vào người con, trước khi con nhận ra được h́nh thù ghê gớm của con quái ô trọc đó.

 

55. Hỡi đệ tử, hăy đào luyện cho có được năng lực giết chết thể vía trước khi “Uy Lực thần bí” (31) có thể làm con trở nên một bậc thần tiên.

 

56.  Cái Ta Vật Chất và cái Ta Tinh Thần không khi nào gặp nhau được. Phải có một cái mất đi, bởi v́ không có chỗ để cho cả hai cùng đứng.

 

57.  Con phải chà nát cái mầm phàm nhơn, và giết chết con sâu giác quan cho nó không c̣n có thể sống lại rồi tinh thần của Hồn con mới có thể hiểu được.

 

58.  Con không thể nào đi trên đường Đạo, nếu chính con chưa trở nên con Đường đó (32).

 

59.  Hăy để cho Hồn con lắng tai nghe mọi tiếng đau khổ, như bông sen nở lớn để hứng ánh sáng mặt trời buổi ban mai.

 

60.   Con chớ để nắng gắt làm khô một giọt nước mắt đau khổ nào, trước khi con lau ráo lụy cho cặp mắt của người buồn khổ.

 

61. Con hăy để cho tất cả nước mắt của thế gian rơi vào ḷng con, đọng lại ở tim con, chớ không khi nào chùi đi, trước khi nguyên nhân gây đau khổ tiêu tan.

 

62.  Hỡi con người có tấm ḷng từ bi, những giọt nước mắt đó là những suối nước tưới mát cánh đồng từ thiện bất diệt. “Chính nơi miếng đất đó trổ được bông nửa đêm của Phật (33), thứ bông này c̣n khó t́m, khó gặp hơn bông cây Vogay. Đó là hột giống để thoát ly đường sanh tử. Nó tách riêng vị La Hán ra ngoài ṿng tranh đấu và tham vọng, nó dắt người băng ngang qua những cánh đồng của Thực Tại để đến nơi an lạc, chân phúc, chỉ thấy được nơi cơi Tịch Mịch, Hư Vô.

 

63.  Con hăy diệt tham vọng; nhưng nếu con giết nó rồi, con cũng phải đề pḥng sợ e nó c̣n sống lại.

 

64.  Con hăy diệt ḷng tham sống, tuy nhiên con chớ nên v́ lẽ khao khát đời sống trường cửu mà diệt ḷng khao khát sự sống (tanhà) (34) nhưng chỉ v́ muốn đem cái bất dịch, bất biến thay cho cái biến đổi vô thường.

 

65.   Chớ ham muốn điều chi, không phẫn uất đối với Nghiệp Báo hoặc đối với luật bất di, bất dịch của Thiên Nhiên. Con chỉ nên chiến đấu với cái riêng tư, cái tạm thời, cái ngắn ngủi và cái hư hoại.

 

66.   Con hăy trợ giúp và cộng tác với Thiên Nhiên, và Thiên Nhiên sẽ coi con là một trong những tay sáng tạo và sẽ tùng phục con.

 

67.   Thiên Nhiên sẽ mở rộng các cửa bí mật trước mặt con, để lộ dưới tầm mắt con những kho bửu vật dấu kín ở tận đáy ḷng trong sạch và tinh khiết của tạo vật. Tay phàm không thể nào làm hoen ố được nơi ấy, nó chỉ phô bày những kho báu của nó dưới con mắt Tinh Thần, con mắt không khi nào nhắm, và đối với con mắt đó không c̣n bức màn nào che án trước bất kỳ là cảnh nào của tạo vật.

 

68.  Bây giờ Thiên Nhiên sẽ chỉ cho con thấy phương tiện và cái cửa thứ nhất, cửa thứ nh́, thứ ba cho đến thứ bảy. Rồi đến mục đích, xa nữa là những vinh quang cực điểm tắm trong ánh thái dương của Tinh Thần, thế gian không ai thấy được những quang vinh đó, ngoại trừ con mắt của Linh Hồn.

 

69.  Chỉ có một con đàng dắt đến Đàng Đạo, và chỉ ở mút con đường đó, ta mới nghe được “Tiếng Vô Thinh”. Những nấc thang mà người học đạo phải leo lên, đều là những nấc thang đau khổ và khó nhọc; chỉ có tiếng nói của đức hạnh mới đánh tan giọng năo nùng của những nấc thang đó. Bởi thế, hỡi đệ tử, nếu con c̣n một tính xấu nào chưa bỏ lại sau th́ nguy cho con đó. Bởi v́ bây giờ cái thang gẫy và con sẽ té, chân thang đặt trên bùn lầy của những tội lỗi và sa ngă của con, và trước khi có thể lội ngang qua cái hố vật chất đó con phải rửa sạch chân con trong Nước Từ Bỏ. Con hăy cẩn thận chớ vội đặt chân c̣n dính bùn trên nấc thang đầu. Rất nguy cho ai chân c̣n lấm bùn mà dám cả gan làm dơ bẩn một nấc thang nào. Bùn lầy nhơ bẩn và trơn nhớt sẽ khô cứng và gắn dính chân người tại chỗ, không khác nào một con chim bị dính nhựa của người bắt chim quỉ quái, sẽ không thể nào đi xa hơn nữa. Những tánh xấu của người sẽ thành h́nh và lôi kéo người trở xuống. Những tội lỗi của con người sẽ trổi giọng như sơn cẩu hú những tiếng rùng rợn, tiếng cười, tiếng khóc, trong buổi hoàng hôn; những tư tưởng của người thành đoàn, thành lũ bắt giam người lại.

 

70.  Hăy diệt những dục vọng của con, hỡi đệ tử, hăy làm cho những tánh xấu của con mất hết mănh lực trước khi cất bước khởi hành.

 

71.  Hăy bóp nghẹt các tội lỗi của con và làm cho chúng ngậm miệng đến cùng, trườc khi đặt chân lên nấc thang đầu.

 

72.  Hăy làm tư tưởng của con lặng im và đặt tất cả sức chú ư vào Đức Sư Phụ mà con chưa thấy, nhưng con cảm được.

 

73.  Hăy gom hết lục thức vào trong một thức, nếu con muốn được an ổn trước kẻ nghịch. Thức này ở trong bộ óc và cặp mắt yếu ớt của Tâm Hồn chỉ do nơi đó mới có thể t́m ra con đàng hiểm trở dắt đến Sư Phụ của con.

 

74.  Hỡi đệ tử, con đàng trước mắt con c̣n dài và khó nhọc. Chỉ một tư tưởng gợi lại quá khứ mà con đă bỏ lại sau cũng sẽ làm con rơi xuống, và con phải bắt đầu leo lại.

 

75.  Hăy tận diệt nơi con mọi hồi ức về dĩ văng. Chớ ngó lại đàng sau, bằng không sẽ nguy cho con đó.

 

76.  Con chớ tưởng là con người có thể trừ khử tánh dâm dật bằng cách thỏa măn nó, đó là một điều gớm ghiếc do ma vương xúi dục ra. Chính trong khi con người nuôi dưỡng tánh xấu là làm cho nó thêm to, thêm mạnh cũng như con sâu ăn bông mà lớn.

 

77.  Đóa hoa hường phải thu h́nh trở lại mầm non trên nhành mẹ, trước khi con kư sinh trùng ăn thấu đến tim và hút hết nhựa sống.

 

78.  Cây vàng nảy sanh chồi báu trước khi giông tố làm cho rời ră thân cây.

 

79.   Con phải trở lại tuổi thơ ngây mà con đă để mất, trước khi tiếng thứ nhất có thể vẳng đến tai con.

 

80.  Ánh sáng của Sư Phụ Duy Nhất, ánh kim quang độc nhất, phóng tia sáng rực rỡ xuống cho đệ tử vào buổi sơ khai. Những tia sáng đó xuyên qua những đám mây vật chất dầy đặc và tối đen.

 

81.  Những tia sáng đó chiếu sáng nơi này, nơi khác, cũng như những tia sáng mặt trời soi sáng trái đất xuyên qua đám lá dày đặc của rừng già. Nhưng hỡi Đệ Tử, ít nữa là xác thân con phải thụ động, đầu con lạnh, hồn con vững vàng, tinh khiết như viên kim cương sáng rỡ bằng không th́ tia sáng sẽ không thấu đến cung vi, ánh sáng sẽ không làm ấm áp tim con và những tiếng diệu huyền của cơi Akasha (35) sẽ không thấu đến tai, mặc dầu tai tận t́nh nghe ngóng trong thời kỳ thứ nhất.

 

82. Ít nữa là phải nghe, bằng không con không thể thấy.

 

83. Ít nữa là phải thấy, bằng không con không thể nghe, nghe và thấy đó là thời kỳ thứ hai.

 

84.  Khi đệ tử thấy và nghe, ngửi và nếm trong khi mắt tai đóng lại, miệng mũi bịt lại; khi bốn giác quan hỗn hợp làm một và sẵn sàng nhập vô giác quan thứ năm – nội xúc giác – bấy giờ con đă qua được thời kỳ thứ tư.

 

85. Hỡi kẻ diệt tư tưởng, trong thời kỳ thứ năm tất cả đều phải diệt trừ một lần nữa cho đến không thể nào sống lại được (36).

 

86. Hăy giữ trí của con riêng biệt với mọi đối tượng bên ngoài, với mọi cảnh trí ở ngoại giới. Hăy để riêng qua một bên những h́nh ảnh bên trong sợ e nó rọi bóng tối lên trên ánh sáng của Linh Hồn.

 

87.  Bây giờ con ở trong Dhàranà (37), thời kỳ thứ sáu.

 

88.   Khi con vào được thời kỳ thứ bảy th́ hữu phước thay con sẽ không c̣n nhận thấy Ba Ngôi (38) nữa, bởi v́ chính con sẽ trở nên Ba Ngôi đó. Chính con và cái trí giống như hai trẻ sanh đôi đứng song song nhau, và ngôi sao (39) vốn là mục đích của con chiếu sáng trên đầu con vậy. Ba Ngôi ở trong cảnh chí phúc, vinh quang không thể tả, bấy giờ đă mất hết tên tuổi trong thế giới Ảo Mộng. Chúng ta trở nên một ngôi sao duy nhất, lửa hồng cháy măi không khí nào tàn, lửa này là Upàdhi (40) của Ngọn Lửa.

 

89.  Hỡi nhà Yogi thành công, chính đây là cái mà thiên hạ gọi là Dhyana (41) kẻ đến trước cửa Samadhi (42).

 

90.  Và bây giờ tiểu ngă của con đă mất h́nh trong Đại Ngă, chính con tự mất trong bản thể của con, ch́m trong Đại Ngă mà trước kia con đă từ đó phóng ra ngoài.

 

91. Hỡi đệ tử, c̣n đâu là cá tính của con, cho đến chính ḿnh đệ tử cũng không c̣n. Đốm sáng đă mất trong ngọn lửa, giọt nước đă mất trong biển cả, tia sáng luôn luôn hiện hữu đă trở nên Toàn Thể và sự phóng quang bất diệt.

 

92. Hỡi đệ tử, bây giờ con vừa là kép hát, vừa là khán giả, vừa là vật phóng quang, vừa là sự phóng quang, ánh sáng trong thinh âm và thinh âm trong ánh sáng.

 

93.  Con đă quen với năm mối chướng ngại, hỡi kẻ hữu phước. Con đă chiến thắng cả năm, làm chủ cái thứ sáu giải phóng bốn thể thức của Chơn lư (43). Ánh sáng soi sáng chúng nó vốn tự nơi con phát ra, con xưa kia là đệ tử nay là Sư Phụ.

 

 Và đối với những thể thức của Chơn lư đó:

 

94.  Con há chẳng đă kinh nghiệm mọi sự khốn khổ sao ? Chân lư thứ nhất.

 

95.  Con há chẳng đă thắng được Ma vương nơi cửa đại hội (44) sao ? Chân lư thứ nh́.

 

96.  Con há chẳng đă ở nơi cửa thứ ba, diệt tiêu tội lỗi và hoạch đắc chân lư thứ ba sao ?

 

97.  Con há chẳng đă vào trong TAU “Con Đàng” dắt đến trí huệ sao ? Chân lư thứ tư (45) ?

 

98.   Và bây giờ con hăy yên nghỉ dưói cội bồ đề là trí tuệ viên măn, bởi v́ con hăy biết con là bậc Thầy về pháp Samadhi, trạng thái thấy biết chắc chắn, không c̣n lầm lạc nữa.

 

99.   Con hăy xem ! con đă trở nên ánh sáng, con đă trở nên Thinh Âm, con là Sư Phụ của con. Đấng Chí Tôn của con. Chính con là mục đích mà con t́m kiếm; Tiếng bất hoại vang rền đời đời, kiếp kiếp, không biến đổi, bảy thứ tiếng gồm trong một tiếng:  TIẾNG VÔ THINH

 

100.  Om Tat Sat.

 

 NGỮ GIẢI cho PHẦN THỨ NHẤT

 

 

TIẾNG NÓI VÔ THINH

 

1)    Iđhi: Tiếng Pali Iđhi đồng nghĩa với tiếng Sanscrit Siđhis, có nghĩa là những quan năng linh khí, những quyền lực phi thường của con người. Có hai loại Siđhis, một nhóm gồm có những tinh lực linh khí thấp thỏi, thô sơ; nhóm kia buộc phải có sự huấn luyện cao đẳng về quyền năng thần bí. Krishna nói trong kinh Shrimad Bhăgavad: “ Kẻ nào chuyên tâm thực hành Yoga, chế ngự được giác quan và tập trung tinh thần nơi ta, kẻ đó là một nhà Yogi mà tất cả những Sđhis đều sẵn sàng để cho người dùng.”

 

2)    Nada: “Tiếng câm” hay là “Tiếng Vô Thinh”, theo tự nghĩa có lẽ phải hiểu là “tiếng nói theo nghĩa thần bí” bởi chữ Sanskrit Nada đồng nghĩa với chữ Senzar.

 

3)    Dhărană: là tập trung trọn vẹn cái trí vào một đối tượng nội tâm, đồng thời hoàn toàn không chú ư đến những ǵ thuộc về vũ trụ bên ngoài hay cảnh giới của giác quan.

 

4)    Đại Sư là danh từ các đệ tử lanco hoặc chela dùng để gọi “Cái Ta Cao Siêu” của chúng ta. Danh từ này đồng nghĩa với chữ Avalokitesvara hay là chữ Adibuđha của Phật giáo bí truyền, Atma, cái Ta cao siêu của người Bà la môn và Christos của Cao đẳng Thần học hồi xưa.

 

5)    Chữ Hồn ở đây dùng để chỉ chân nhân của con người (Ego human) hay Manas, trong phép phân sắp theo số 7 của chúng ta gọi là “Hồn Người” để phân biệt với thần hồn và hồn thú.

 

6)    Nohà Màyà  Đại ảo mộng” tức là Vũ Trụ khách quan.

 

7)    Sakkayaditthi “lầm lạc” cho rằng phàm nhân là ta.

 

8)    Attavada: tà thuyết tin có hồn, hay nói cho đúng là tin có sự chia rẽ giữa hồn đó là tiểu ngă với Đại ngă Duy nhất, phổ biến vô cùng tận.

 

9)    Cattvajnàni là kẻ biết hay là kẻ phân biệt được những nguyên lư trong thiên nhiên và trong con người, và Atmajnàni là kẻ biết được Atman hay là Đại Ngă phổ biến duy nhất.

 

10) Kala Hamsa “chim” hay là hạc. Trong kinh Nàdabindu Upanishad (Rig Veda) do Hội Thông Thiên Học ở Kumbakonam phiên dịch có nói “Vần A được xem như cánh bên phải của chim, U như cánh bên trái, M như cái đuôi và Ardhamàtrà (nửa thước) như cái đầu”.

 

11) Người phương Đông hiểu chữ đời đời khác hơn người phương Tây. Thường có nghĩa là 100 năm hay là tuổi của Brahma, kỳ gian của một Kalpa hay là một chu kỳ lâu 4.320.000.000 năm.

 

12) Theo kinh Nàdabindu đă kể trên đây: “Đối với nhà Yogi cưỡi hạc (tham thiền về tiếng AUM) thế lực của nhân quả hay là muôn ngàn tội lỗi không động đến được”.

 

13) Hăy bỏ đời sống của phàm nhơn, của xác thịt, nếu con muốn sống bằng tinh thần.

 

14) Ba trạng thái của tâm thức là: Jàgrat, trạng thái Thức Tỉnh; Svapna, trạng thái chiêm bao và Sushupti, trạng thái ngủ mê. Ba trạng thái Yogi đó dắt đến trạng thái thứ tư hay là:

 

15) Turiya, bên kia trạng thái không chiêm bao, trạng thái cao hơn tất cả, trạng thái siêu việt của tâm thức thần bí.

 

16) Vài nhà Thần Bí phương Đông để bảy cảnh thực tại, bảy Lokas hay là cơi tinh thần trong ḿnh của Kala Hamsa, con hạc ở ngoài ṿng Thời gian và Không gian nó biến thành con hạc ở trong thời gian khi nó trở nên Brahma thay v́ Brahma (trung lập).

 

17) Cơi trần, nơi đó những hiện tượng chỉ tiếp xúc với ngũ quan và ư thức của óc xác thịt thôi.

 

18) Cơi trung giới, cơi linh khí nơi có những trí giác ở ngoài tầm tri giác của ngũ quan và có những cảnh tượng lừa dối, cảnh giới của đồng cốt. Eliphias Levi gọi là “Xà Tinh”. Không có một cái hoa nào hái nơi miền đó đem xuống cơi trần mà không có một con rắn quấn chung quanh nhánh. Đó là cơi Đại Ảo Mộng.

 

19) Nơi miền này Tâm Thức thần bí mở rộng và không c̣n có sự nguy hiểm nào cho kẻ đă đến được nơi đây.

 

20) Bực Đắc Pháp trao truyền mối Đạo và d́u dắt đệ tử cho đến khi sanh ra trong cơi tinh thần hay là sanh lần thứ nh́ được gọi là cha, Thầy hay là Guru.

 

21) Adjnàna là dốt nát hay là vô minh, trái với trí huệ jnàna.

 

22) Trong các tôn giáo công truyền th́ Màra là con quỉ, nhưng trong triết học bí truyền th́ đó là nhân cách hóa sự quyến rủ của tánh xấu nơi con người và dịch đúng theo tự nghĩa là “cái giết chết” Linh Hồn. Người ta tượng h́nh nó như một vị Vua (Ma Vương) đầu đội mũ triều thiên có một hột ngọc chiếu sáng cho đến làm mờ mắt những kẻ nh́n nó; sự chiếu sáng này cố nhiên là ám chỉ sự mê hoặc của tánh xấu.

 

23) Pḥng trong trái tim, Bắc phạn gọi là Brahmapura “Lửa Mầu” là Kundalini.

 

24) “Lửa Mầu” và “Mẹ Thế Giới” là tên của Kundakini, một trong những thần lực của nhà Yogi. Đó là Bồ Đề về mặt tích cực thay v́ tiêu cực (thường người ta chỉ biết mặt tiêu cực hay là thụ động của Bồ Đề, khi nó là cái thể để chứa Tinh Thần Tối Cao (Atma). Đây là một thứ điện tinh thần, một năng lực sáng tạo, một khi đánh thức rồi th́ nó có sức tiêu diệt hoặc sáng tạo.

 

25) Kechara, kẻ du ngoạn hoặc “lên cơi trời”. Theo trong quyển Jnaneshvari, chúa tể của các kinh thần bí, Adhyaya thứ 6 thân thể của nhà Yogi giống như làm bằng gió, như “một vừng mây có mọc ra tay chân”. Sau đó “người (yogi) thấy được những vật xa tận bên kia biển và sao; người nghe và hiểu được tiếng của Chư Thiên và biết được nhữïng ǵ xảy ra trong trí của con kiến.

 

26) Giống như đờn T́ bà.

 

27) Sáu nguyên tố; tức là khi phàm nhân đă tiêu diệt và phần thấp của cá tính đă lẫn mất trong nguyên tố thứ bảy hay là Tinh Thần.

 

28) Vị đệ tử hợp làm một với Brahma hay là Atman.

 

29) Dục thể do nguyên lư Kamic tạo nên gọi là Kama rùpa hay là thể ham muốn.

 

30) Manasa rupa. Cái thứ nhất chỉ cái vía hay tư ngă, cái thứ nh́ chỉ cá tính hay là Chơn Nhơn luân hồi mà tâm thức của nó ở cơi trần hay là Hạ Trí cần phải được đ́nh chỉ lại.

 

31) Kundalini được gọi là “quyền lực uốn khúc như con rắn” hay là tṛn như chiếc nhẫn v́ nó tiến theo h́nh xoắn ốc trong thân thể của nhà Yogi đă phát triển được quyền lực đó nơi người. Nó là một quyền lực có tính chất như điện, như lửa huyền bí hay là Foha đại nguyên lực tiềm tàng trong mọi chất hữu cơ và vô cơ.

 

32) Con đường này được nói đến trong mọi tác phẩm Thần Bí. Như Krishna nói trong kinh Jnàneshvari: “Khi được nh́n thấy con Đường này... dù người ta bắt đầu từ phương Đông hay phương Tây, không thay đổi, hỡi người cầm cung tên là người đang đi trên đường này. Trong con đường này người ta muốn đi đến chỗ nào th́ chính người ta trở thành chỗ đó”. “Ngươi là Đường đi” là câu nói với vị Sư phụ và với vị Đệ tử sau kỳ điểm đạo. “Ta là lối đi và Đường Đạo”, một Đức Thầy nói thế.

 

33) Adeptship: quả vị Chơn Tiên, nở bông Bồ Tát.

 

34) Tanhă “ư muốn sống” ham sống, sợ chết, cái mănh lực này phát sinh luân hồi sanh, tử.

 

35) Những tiếng huyền bí, âm điệu du dương mà nhà tu luyện nghe được lúc ban đầu chu tuần tham thiền, nhà Yogi gọi là Anahata Shabdă (Anahata là luân xa thứ tư).

 

36) Điều này có nghĩa là thời kỳ thứ sáu trong đường phát triển, huyền bí học gọi là Dhărană, mọi giác quan có tính cách như một quan năng riêng biệt đều phải bị giết chết (hay là bị làm cho kiệt quệ ở cảnh giới này) bằng cách nhập nó vào giác quan thứ bảy, giác quan siêu đẳng.

 

37) Xem giải thích số 3.

 

38) Mỗi thời kỳ phát triển trong Raja Yoga được tượng trưng bằng một h́nh kỷ hà học. Đây là h́nh tam giác thiêng liêng và ở trước Dhărană D là dấu hiệu của những bậc đệ tử cao cấp, c̣n h́nh tam giác kiểu khác nữa là dấu hiệu của những bậc đắc quả vị cao. Đó là chữ “Ta” mà Đức Phật đă nói và dùng để tượng trưng cho nhục thân của Đấng Như Lai khi Ngài đă thoát ly ba phương pháp Bát Nhă. Một khi đă vượt qua thời kỳ hạ đẳng, vị đệ tử không c̣n nh́n thấy D nữa mà chỉ thấy – sự tóm tắt của – cái Bảy nguyên vẹn. H́nh thiệt của cái này không thể cho biết ở đây v́ chắc chắn là nó sẽ bị những tay láo dối vớ lấy và dùng vào những việc phạm thượng, bất lương.

 

39) Ngôi sao chiếu sáng trên đầu là “Ngôi sao điểm đạo”. Dấu hiệu giai cấp của tín đồ phái Shiva, tổ của tất cả các nhà Yogi là một điểm đen tṛn, hiện thời có lẽ là để tượng trưng mặt Trời, nhưng ngày xưa là tượng trưng của ngôi sao điểm đạo trong Huyền Bí Học.

 

40) Căn bản (Upădhi) của ngọn lửa mà nếu nhà tu luyện c̣n tại thế th́ không khi nào đạt đến.

 

41) Dhyàna là thời kỳ áp chót ở địa cầu này, trừ phi con người trở nên một vị Mahatma hoàn toàn. Như người ta đă có nói trong trạng thái này nhà Raja Yogi c̣n có ư thức tinh thần về tự tánh và về động tác của những nguyên tố cao siêu của người. Nếu tiến đến một bước nữa th́ người sẽ vượt lên cơi thứ bảy (hay là thứ tư của mấy học phái khác). Mấy phái này sau giai đoạn Pratyăhăra – sự luyện tập để kiểm soát cái trí và tư tưởng – kể chung ba giai đoạn Dhărană, Dhyăna và Samădhi làm một gọi là Samyama.

 

42) Samădhi là trạng thái trong đó nhà tu luyện không c̣n ư thức đến mọi cá nhân gồm cả chính nhà tu luyện nữa. Họ trở nên – Tất cả.

 

43) Bốn thể thức chân lư theo Phật giáo phương Bắc là Ku, “đau khổ và khốn cùng”; Tu, “mọi sự cám dỗ”; Mu, “sự tiêu diệt những cám dỗ” và Tau, “con đường”. Năm “mối chướng ngại” là nhận thức sự khốn khổ, chân lư về sự yếu tính của con người, những sự kiêng cữ khó nhọc và sự cần thiết tuyệt đối phải ĺa bỏ tất cả những trói buộc của t́nh dục và cho đến những dục vọng nữa. Chót hết là “Con đường Giải Thoát”.

 

44) Tại nơi cửa “Đại Hội” Ma Vương dùng sức sáng chói của hột ngọc để mê hoặc thí sinh.

 

45) Đây là con đường thứ tư trong năm con đường luân hồi dẫn dắt và xua đẩy tất cả loài người vào những trạng huống khổ và vui không dứt, những “con đường” đó chỉ là những chi phần của con đường duy nhất, con đường Nghiệp Quả.

 

 

 

PHẦN THỨ NH̀

 

HAI CON ĐƯỜNG

 

101. Và bây giờ đây, bạch Sư Phụ Từ Bi, xin Ngài chỉ đường cho kẻ khác. Ngài hăy xem, tất cả những kẻ đến gơ cửa để được thâu nhận đương ở trong cảnh dốt nát, tối tăm chờ mong cửa Diệu Pháp mở rộng.

 

Tiếng của các Thí Sinh

 

102. Hỡi Đức Thầy Từ Ái, Ngài há đành chẳng tiết lộ Tâm Pháp (1) sao ? Ngài há       đành chẳng d́u dắt Tôi Tớ Ngài vào con đường Giải Thoát sao ?

 

Đức Thấy nói

 

103. Con đường có hai [4]; Sự Chí Thiện có ba [5]; sáu Đức Hạnh [6] biến đổi thân h́nh thành cây Trí Tuệ (2).

 

104.   Ai sẽ bước đến gần ?

 

105.   Ai sẽ vào trước ?

 

106. Ai là người thứ nhất nghe giảng hai con đường vô một và chân lư của Tâm Pháp (3). Pháp môn bảo đừng học, pháp môn đó dạy Minh Triết và tiết lộ một câu chuyện đau thương.

 

107. Hỡi ôi ! Hỡi ôi ! tất cả mọi người đều có Alaya nơi ḿnh, đều là một với Đại Hồn và có nó nơi ḿnh, mà không mấy ai biết dùng Alaya.

 

108. Ḱa xem, cũng như mặt trăng phản chiếu xuống mặt nước im ĺm, Alaya phản chiếu trong vật nhỏ cũng như vật lớn, nó soi bóng trong các hột nguyên tử tí ti nhưng không sao soi thấu tâm vạn vật được. Hỡi ôi ! ít người lợi dụng được tặng vật vô giá là sự học hỏi chân lư, sự nhận thức đúng đắn các sự vật hiện hữu, sự Tri Thức cái không hiện hữu.

 

Đệ Tử hỏi:

 

109.  Thưa Thầy, con phải làm thế nào để đạt được Minh Triết ?

 

110. Thưa Đấng Sáng Suốt, con phải làm thế nào để được toàn thiện ?

 

111. Hỡi Đệ Tử, hăy t́m kiếm đường đi, nhưng con phải có tấm ḷng trong sạch trước khi bắt đầu cuộc hành tŕnh của con. Trước khi cất bước ra đi, con phải tập phân biệt cái chân và cái giả, cái vô thường và cái trường cửu. Trên hết mọi sự con phải tập phân tách sự học của Đầu Óc và sự Minh Triết của Tâm Hồn, nhăn pháp và tâm pháp.

 

112. Sự vô minh giống như một cái hũ đậy kín, không có không khí, linh hồn như chim bị nhốt trong hũ, nó hết líu lo, đập lông vỗ cánh, con chim sơn ca câm miệng, tê cóng và chết ṃn.

 

113. Tuy nhiên, sự vô minh c̣n hơn sự học của Đầu Óc mà không có sự Minh Triết của Tâm Hồn soi sáng và hướng dẫn.

 

114. Hột giống Minh Triết không thể nứt mộng đâm chồi trong chỗ không có khí trời. Muốn sống và gặt hái kinh nghiệm, trí phải hiểu cho rộng và cho sâu và có những điểm kéo nó đến Linh Hồn Kim Cương (4). Con chớ t́m những điểm đó trong cơi của Ma Vương mà phải đem tâm hồn lên khỏi ảo cảnh để t́m sự tồn tại đời đời bất dịch, bất biến SAT (5) và con phải đề pḥng những khêu gợi lừa dối của tưởng tượng.

 

115. Bởi v́ cái trí giống như tấm gương nó chất chứa bụi bậm và phản chiếu (6) h́nh ảnh bụi bậm đó. Phải có ngọn gió êm dịu của tâm hồn Minh Triết mới thổi bay bụi trần ảo mộng của chúng ta. Hỡi đệ tử Sơ Cơ, con hăy t́m cách ḥa hợp trí và tâm hồn con lại.

 

116. Phải xa lánh sự vô minh, mà cũng phải lánh xa ảo ảnh, con phải ngoảnh mặt, đừng nh́n những lừa dối của trần thế, con chớ tin giác quan của con, chúng giả dối nhưng trong cái kho chứa cảm giác là thân thể con đó, con hăy t́m con người trường cữu (7) trong cái Vô Ngă, và khi t́m được rồi con hăy nh́n trở vô trong : con là Phật (8) đó.

 

117. Hăy xa lánh lời ca tụng, hỡi kẻ nhiệt tâm sùng đạo, lời ca tụng đưa đến huyễn ngă. Thân thể con không phải là Chân Ngă con đâu. Chân Ngă con không có thân và lời khen chê đều không ảnh hưởng đến nó được.

 

118. Tự ḿnh xưng tụng lấy ḿnh, hỡi đệ tử, không khác nào kẻ ngông cuồng leo lên tháp cao ngồi tự đắc, không c̣n thấy ai hơn là thấy ḿnh.

 

119. Cái học sai lầm bị nhà Hiền Triết bác bỏ và Định Luật tốt lành tung nó bay theo gió. Bánh xe pháp quay cho tất cả mọi người, kẻ khiêm tốn cũng như kẻ kiêu căng. Nhăn Pháp (9) để dành cho quấn chúng, Tâm Pháp dành cho kẻ được tuyển lựa. Hạng thứ nhất lập lại một cách kiêu căng: “Hăy coi ! Tôi biết.” Hạng sau là những kẻ thâu lượm một cách khiêm tốn và nhỏ nhẹ thú nhận : “Đây là điều tôi đă nghe được (10)”.

 

120. Hỡi Đệ tử, Cái Sàng To là danh từ để gọi Tâm Pháp.

 

121. Bánh xe Diệu Pháp xoay mau lẹ cả ngày lẫn đêm. Nó làm cho tróc lớp vỏ vô giá trị của hột lúa vàng, nó lọc bột cho hết chất vô dụng. Bàn tay Nhân Quả điều khiển bánh xe, sự tuần hoàn là nhịp đập của trái tim Nhân Quả.

 

122. Chân tri thức là bột, sự học sai lầm là trấu. Nếu con muốn ăn bánh Minh Triết th́ con phải nhồi bột với nước Amrita [7] trong ngần. C̣n nếu con nhồi trấu với nước sương mù Mộng Ảo th́ con chỉ có thể làm ra món ăn cho loài chim tử, sanh, lăo, khổ.

 

123. Nếu ai nói với con rằng, muốn thành La Hán con phải dứt sự thương yêu đối với mọi người th́ con hăy trả lời là họ nói láo.

 

124. Nếu ai nói với con rằng, muốn được giải thoát con phải ghét mẹ, bỏ con, đừng nh́n cha nữa mà chỉ gọi người là gia trưởng thôi (11), bởi v́ con phải diệt ḷng trắc ẩn đối với người và vật, th́ con hăy nói cho họ biết là họ nói vô lư.

 

125. Đó là học thuyết của bọn Tirthikas, hạng người ngoại đạo [8].

 

126. Nếu ai dạy con rằng tội lỗi do hành động gây ra và muốn có hạnh phúc phải đừng làm ǵ hết, con hăy nói cho họ biết là họ lầm. Không tiếp tục công việc của loài người, giải thoát thần trí khỏi ṿng nô lệ bằng cách thôi làm tội lỗi suông, không phải là việc thích đáng cho Chân Nhân đang chịu luân hồi. Đó là lời của “Tâm Pháp”.

 

127. “Nhăn Pháp” là hiện thân của cái bên ngoài và cái không tồn tại.

 

128. “Tâm Pháp” là hiện thân của Bồ Đề [9], cái Thường Trụ và Thường Tồn.

 

129. Cái Đèn cháy tỏ rạng khi mà tim và dầu đều sạch sẽ. Muốn cho tim và dầu được sạch th́ phải có người săn sóc lau chùi. Ngọn lửa không biết có sự lau chùi đó. “Nhánh cây bị gió thổi oằn oại, nhưng thân cây vẫn đứng yên”.

 

130. Sự hành động và sự bất động đều có ở nơi con. Xác thân con cử động, trí con yên tịnh, Tâm Hồn con trong suốt như nước hồ trên đỉnh núi cao.

 

131. Con có muốn trở nên một nhà Yogi trong “Ṿng của Thời Gian” không ? Nếu có th́ hỡi Đệ Tử :

 

132. Con chớ tin là ngồi trong rừng sâu, kiêu hănh sống riêng biệt với người đời, con chớ tin là đói ăn rễ cây, khát uống nước tuyết, con chớ tin là mấy điều đó sẽ dắt con đến mục đích giải thoát cuối cùng.

 

133. Con chớ tưởng rằng tự làm cho ḿnh găy xương, rách thịt là hợp nhất được với “Chơn Ngă Tịch Tịnh”(12) của con. Con chớ tưởng rằng khi đă thắng được tội lỗi của xác thịt th́, hỡi Nạn Nhân của H́nh Bóng của ḿnh, phận sự của con đối với vạn vật và nhân loại đă xong xuôi.

 

134. Những bậc hiền nhân rất khinh bỉ những hành động như thế. Vị Sư Tử Pháp, Đấng Từ Bi Vô Lượng [10] đă hiểu rơ nguyên nhân của sự đau khổ trần gian, liền từ bỏ ngay sự yên nghỉ êm đềm nhưng ích kỷ nơi chốn rừng hoang tịch mịch. Bỏ cảnh Aranyaka (14) người trở ra đời làm Thầy của nhân loại. Sau khi Như Lai (15) đạt Niết Bàn, Người đi truyền giáo khắp chốn núi non cùng đồng nội và thuyết pháp trong các đô thị cho Thiên Thần và Người.

 

135. Con hăy gieo những hành vi tốt và con sẽ gặt hái kết quả của những hành vi đó. Quên sót một hành động bác ái là vi phạm một tội lỗi nặng nề. Bậc hiền triết nói như thế.

 

136. Con c̣n kiêng cữ sự hoạt động nữa chăng ? Không phải làm như thế mà hồn con sẽ được tự do đâu. Muốn đạt đến Niết Bàn phải đạt sự Tự Tri và sự Tự Tri vốn là con đẻ của hành vi từ thiện.

 

137. Hỡi Thí sinh, con phải kiên nhẫn như kẻ không sợ sự thất bại, không dua nịnh sự thành công. Con hăy đặt mắt của Tâm Hồn nơi ngôi sao mà con là tia sáng (17); Ngôi sao chói lọi trong chốn sâu thẳm, tối tăm của bản thể trường tồn, trong cơi vô biên vô tận của cái Bất khả Tri.

 

138. Con hăy bền chí như một kẻ sống đời đời. Những h́nh bóng của con sống và tàn tạ (18). Cái sẽ sống măi ở nơi con, cái “biết” ở nơi con, chính nó là tri thức (19) không phải thuộc về đời sống phù du này; đó là con người có tồn tại từ trước, hiện đang tồn tại và sẽ tồn tại măi măi, đối với con người đó giờ cuối cùng sẽ không khi nào gơ.

 

139. Nếu con muốn gặt sự b́nh an, yên nghỉ êm đềm th́ con phải gieo hột giống công lao nơi miếng ruộng sẽ gặt mùa tới, con phải nhận lănh những nỗi đau khổ của kiếp luân hồi.

 

140. Hăy lui vào bóng tối để cho kẻ khác hưởng ánh nắng mặt trời. Những gịng nước mắt tưới lên miếng đất khô khan đầy nhọc nhằn, đau khổ sẽ làm mọc lên bông, trái theo luật thù đáp của Nhân Quả. Ở trên ḷ lửa của đời người và trên làn khói đen của nó bốc lên những ngọn lửa nhẹ nhàng tinh khiết càng ngày càng cao dưới tầm mắt Nhân Quả để cuối cùng dệt nên canh chỉ rực rỡ của ba thứ Đạo Phục (20).

 

141. Ba thứ Đạo Phục đó là Nirmanakàya, Sambhogakàya và Dharmakàya, thứ y phục tuyệt diệu (21).

 

142. Quả thật là áo Shangua (22) có thể mua được ánh sáng đời đời. Áo Shangua đủ đem lại cho con người cảnh Niết Bàn tịch diệt; nó chấm dứt sinh tử, nhưng hỡi Đệ tử, nó cũng giết chết ḷng từ bi. Có thể nào những Đức Phật trọn lành một khi đă choàng vào ḿnh sự vinh diệu của Pháp thân (Dharmakàya) th́ không c̣n giúp vào sự cứu vớt nhân loại được nữa. Hỡi ôi ! Đám sinh linh kia sẽ bị hy sinh cho cái Ta đó sao ? Cả nhân loại sẽ bị hy sinh cho hạnh phúc của những Đơn vị ?

 

143. Hỡi Đệ tử sơ cơ, con hăy biết rằng đó là con Đường mở rộng, con đường hạnh phúc ích kỷ mà những Bậc Bồ Tát đi theo con đường “Tâm Pháp”, những Đức Phật Từ Bi xa lánh.

 

144. Sống để làm lợi ích cho nhân loại là bước thứ nhất; thực hành sáu hạnh cao quư (23) là bước thứ nh́.

 

145. Mặc áo Nirmanakàya vi diệu là khước từ hạnh phúc đời đời cho ḿnh để giúp vào sự cứu giúp nhân loại. Đạt được chân phúc Niết Bàn nhưng không hưởng đó là bước cao quư cực điểm, bước chót trên con Đường Từ Bỏ.

 

146. Con hăy biết, hỡi Đệ Tử, đó là con Đường Bí mật mà các Đức Phật Trọn Lành đă chọn lựa, các Ngài hy sinh ḿnh cho chúng sinh c̣n yếu đuối.

 

147. Tuy nhiên, nếu “Tâm Pháp” quá cao đối với con, nếu con cần tự giúp lấy con và sợ không dám cứu trợ kẻ khác th́, hỡi kẻ yếu tính, ta cảnh cáo cho con biết, con nên an phận theo “Nhăn Pháp” th́ hơn. Con hăy cứ hy vọng. Bởi v́ nếu hiện giờ con chưa có thể theo đuổi “con Đường Bí Mật” th́ mai mốt nó sẽ vừa với sức con, con nên biết rằng những sự gắng sức hướng về đường thiện hay đường ác, dù nhỏ đến đâu nữa cũng không thể tiêu mất nơi cơi nguyên nhân. Dù cho làn khói bay cũng không thể không c̣n dấu vết. “Một lời nói phũ phàng thốt ra trong những kiếp trước, cũng không tiêu mà vẫn luôn luôn trở lại”[11]. Dây tiêu không thể trổ sanh bông hường và hoa lài trắng tinh khả ái không thể biến thành gai góc.

 

148. Ngày nay con có thể tạo những cơ hội may mắn cho ngày mai của con. Trong cuộc “Đại hành tŕnh”(25) những nguyên nhân gieo ra mỗi giờ đều sẽ có mùa kết quả của mỗi thứ, bởi v́ Định Luật Chí Công thống trị Thế Gian. Với một trớn đẩy tới mănh liệt không khi nào sai lạc, luật công b́nh mang lại cho con người hạnh phúc hay đau khổ, cái hậu quả của nghiệp báo của tất cả tư tưởng, hành vi của chúng ta từ kiếp trước.

 

149. Con hăy lănh lấy tất cả những ǵ mà công lao dành cho con, hỡi người có tấm ḷng son sắt. Hăy vui vẻ, an ḷng lănh số phận ḿnh. Đó là Nghiệp Quả của con. Nghiệp Quả của các kiếp luân hồi của con, mà cũng là vận mệnh của những kẻ, trong cảnh đau buồn, sanh ra đồng thời với con, họ đă vui mừng và than khóc kiếp này sang kiếp khác, liên hệ với các hành động từ kiếp trước của con.

 

150. Bây giờ con hăy làm cho người, rồi ngày mai người sẽ làm cho con.

 

151. Chính mầm Từ Bỏ bản ngă sẽ trổ sanh trái ngọt của sự Giải Thoát cuối cùng.

 

152. Kẻ nào v́ sợ Ma Vương, v́ e ḿnh c̣n ḷng vị kỷ, mà không dám giúp người, kẻ đó đành phải chịu chết. Kẻ đi đường xa mệt mỏi muốn xuống sông tắm cho mát mà sợ nước cuốn, có thể chịu nóng không nổi mà chết. V́ ḷng ích kỷ mà không dám làm ǵ hết chỉ đem lại quả xấu mà thôi.

 

153. Người sùng đạo ích kỷ sống không mục đích. Người không làm tṛn phận sự ở đời cũng sống vô ích.

 

154. Con hăy lăn theo bánh xe đời, hăy lăn theo bánh xe nghĩa vụ đối với ṇi giống, họ hàng, bạn hữu và thù nghịch và đừng nghĩ đến những vui thích cũng như những khổ cực. Con hăy làm khô kiệt sự thù báo của Nhân Quả. Hăy đạt những Siđhis cho kiếp tới của con.

 

155. Nếu con không thể làm Mặt Trời th́ hăy yên phận làm hành tinh nhỏ. Thực thế, nếu con bị trở ngăn không thể dọi tia sáng như Mặt Trời đứng bóng trên đỉnh núi tinh khiết trường tồn th́ hỡi Đệ Tử Sơ Cơ, con hăy chọn một nghĩa vụ khiêm tốn hơn.

 

156. Hăy chỉ “con Đường” - dù khi phải sống lẫn lộn trong đám quần chúng không ai biết đến con – như sao hôm chỉ đàng cho những kẻ đi trong đem tối.

 

157. Ḱa con hăy nh́n xem “Con Mắt của Migmar” [12] xuyên qua lớp lưới bao mặt mầu đỏ sậm để lặng nh́n địa cầu đang yên giấc. Con hăy xem “Bàn Tay” sáng rực của Lhagpa [13] đưa ra trên đầu các nhà khổ tu một cách yêu thương che chở. Cả hai hiện giờ là bộ hạ của Nyima [14] (26) lặng lẽ thức canh trong đêm tối lúc vắng chủ. Tuy nhiên, trong những Kalpas trước, cả hai đều sáng chói như Nyima và trong “Tương Lai” sẽ có thể trở nên hai ngôi Mặt Trời trở lại. Đó là cuộc thăng trầm của Luật Nhân Quả trong vũ trụ.

 

158. Hỡi Đệ Tử, con hăy theo gương hai ngôi hành tinh đó, con hăy soi sáng và ủy lạo kẻ khổ nhọc trên Đường Đạo và hăy t́m kẻ biết ít hơn con, kẻ đương ngồi nản chí, phiền muộn ḷng đói bánh Minh Triết và cả bánh nuôi cái h́nh bóng, không gặp Thầy, không một tia hy vọng, không một lời an ủi, con hăy nói Pháp cho người ta nghe.

 

159. Con hăy nói với y, hỡi thí sinh, kẻ nào đem tính kiêu căng và tự ái làm tôi tớ cho ḷng sùng đạo, kẻ nào tuy c̣n lưu luyến cuộc đời nhưng đem tính nhẫn nại và phục tùng đối với Định Luật, như một đóa hoa dịu dàng dưới chân của Đức Thích Ca Mâu Ni, kẻ đó sẽ trở nên một Tu Đà Hoàn (27) trong kiếp hiện tại. Pháp lực hoàn thiện có thể nháng thấy đàng xa, thật xa, nhưng y đă bước được bước đầu, y đă nhập lưu và y có thể hoạch đắc sự thấy của con phượng hoàng trên đỉnh núi cao, sự nghe của con hoăng cái.

 

160. Con hăy nói với y, hỡi kẻ chí nguyện, ḷng sùng đạo chân thành có thể hoàn lại cho y những tri thức mà y đă có trong những kiếp trước. Thần nhăn, thần nhĩ không thể nào đạt được trong kiếp ngắn ngủi.

 

161. Hăy khiêm tốn, nếu con muốn có Minh Triết.

 

162. Hăy khiêm tốn hơn nữa, nếu con đă có được rồi.

 

163. Hăy giống như biển cả thu nhận tất cả sông, suối. Vẻ yên tĩnh mênh mông của biển cả cũng vẫn không có ǵ thay đổi; nó không biết là có nước sông, suối thêm vào cho nó.

 

164. Hăy dùng sức Chơn Nhơn để trấn áp phàm nhơn.

 

165. Hăy dùng sức Chơn Thần để trấn áp Chơn Nhơn.

 

166. Phải đấy, cao cả thay kẻ nào giết chết dục vọng.

 

167. C̣n cao cả hơn nữa kẻ nào mà Chơn Nhơn đă giết chết sự biết có dục vọng.

 

168. Hăy đề pḥng bản ngă sợ e nó làm nhơ đến Chơn Ngă.

 

169. Con đường đi đến tự do cuối cùng ở bên trong Chơn Ngă của con.

 

170. Con đường này bắt đầu và chấm dứt ở ngoài bản ngă (28).

 

171. Mẹ của tất cả Sông, Rạch không được thiên hạ và người, Tirthikas không cho là có giá trị ǵ; đối với con mắt của bọn điên cuồng th́ nhân thân vốn trống rỗng mặc dầu chứa đầy nước Amrita (cam lồ). Tuy nhiên, nguồn cội của các sông thánh vốn ở nơi thánh địa (29) và kẻ có đức Minh Triết được mọi người quư trọng.

 

172. Bậc La Hán và Hiền Giả quán thông mọi sự (30) vốn hiếm có như bóng cây Udumbara. Những vị La Hán sanh ra lúc nửa đêm, đồng thời với cây thiêng có chín và bảy cộng (31) với bông thiêng nở trong đêm tối dưới giọt sương tinh khiết, trong ḷng giá lạnh ở đỉnh núi cao trùm tuyết, nơi mà bàn chân của những kẻ c̣n mang tội lỗi không khi nào bước đến được.

 

173. Không một vị La Hán nào, hỡi Đệ tử, chứng được quả này trong kiếp mà Linh Hồn mới lần thứ nhất bắt đầu có nguyện vọng về sự giải thoát cuối cùng. Tuy nhiên, con chớ lo lắng, không một chiến sĩ nào có ḷng ứng mộ để quyết chiến trong trận tranh phong giữa đạo quân sống và đạo quân chết (32), không một tên quân mới mộ nào là không được quyền vào trong con đường đưa đến chiến địa.

 

174. Bởi v́ chiến sĩ phải thắng hay phải ngă.

 

175. Thắng tất là Niết Bàn sẽ về người. Trước khi người cổi bỏ cái h́nh bóng của người, di hài của người, cái nguyên nhân sinh ra những ưu tư và đau khổ vô tận vô biên, người sẽ được chúng sinh tôn kính như một vị Phật.

 

176. Nếu có ngă đi nữa th́ cái chết của người cũng không vô ích, những kẻ thù mà người đă giết trong trận giặc chót sẽ không sống lại trong kiếp lai sinh.

 

177. Nhưng nếu con muốn đến Niết Bàn hay là bỏ đi không hưởng (33) con chớ hành động hay không hành động chỉ v́ nhắm vào kết quả nào đó, hỡi con người có tấm ḷng can đảm.

 

178. Con nên biết rằng vị Bồ Tát không hưởng sự Giải Thoát để mang những nỗi khổ cực của “Đời Sống Bí Mật” (34) được xưng tụng là “Bậc Thượng Tôn”, hỡi đệ tử ứng mộ để chịu sự đau khổ từ chu kỳ này sang chu kỳ khác.

 

179. Con đường vốn có một, hỡi đệ tử, nhưng đến cuối cùng nó chia làm hai. Có bốn và bảy cửa [15] đánh dấu các đoạn đường. Ở mút con đường bên này là hạnh phúc hưởng liền, ở mút con đường kia là hạnh phúc hoăn lại. Cả hai đều là sự ban thưởng công lao. Sự lựa chọn ở trong tay con đó.

 

180. Một con đường thành hai, một con đường Công khai và một con đường Bí Mật (35). Con đường thứ nhất dắt đến mục đích, đường thứ hai dắt đến sự Tự hy sinh.

 

181. Khi đă hy sinh cái Giả Tạm cho cái Thường Tồn th́ phần thưởng về con: giọt nước trở về nguồn cội. Con đường công khai dắt đến cảnh bất dịch, bất biến, đến Niết Bàn, đến trạng thái vinh quang cực điểm, đến chân phúc quá sức tưởng tượng của con người.

 

182. Như thế th́ con đường thứ nhất là sự Giải Thoát.

 

183. Nhưng con Đường thứ nh́ là Sự Từ Bỏ, do đó cũng gọi là con “Đường Đau Khổ”.

 

184. Con Đường Bí Mật dắt vị La Hán đến sự khổ trí không thể tả, khổ v́ thấy người sống mà vẫn chết (36) và thương xót mà không làm thế nào được đối với những kẻ phải chịu khổ cực theo luật Nhân Quả mà bậc hiền giả không dám làm cho dịu bớt.

 

185. Bởi kinh sách có nói: “Hăy dạy người đừng tạo Nhân, c̣n Quả giống như ngọn thủy triều đang lớn, phải để cho nó đi xuôi chiều của nó”.

 

186. Con vừa đạt đến mục đích của con Đường Công Khai là con sẽ cởi bỏ thân Bồ Tát và hưởng cảnh quang vinh cực điểm của Dharmakàya (37) tức là quên mất Thế Gian và loài người.

 

187. Con Đường Bí Mật cũng dắt đến chân phúc của Đại Niết Bàn, nhưng sau khi đă trải qua vô số Kalpas; sau bao lần được cảnh Niết Bàn mà không hưởng v́ ḷng từ bi vô lượng đối với chúng sinh khờ dại.

 

188. Nhưng người ta nói rằng: “kẻ hưởng sau sẽ có quả vị to nhất”. Samyak Sambuđa Đức Thầy Trọn Lành đă bỏ Chân Ngă để cứu vớt chúng sinh và ngừng bước ở ngưỡng cửa Niết Bàn, trạng thái tinh khiết.

 

189. Bây giờ con đă biết rơ về hai con đường. Đến một ngày kia, hỡi con người có tâm hồn nồng nhiệt, khi con đă đi đến cuối con Đường và qua khỏi bảy Cửa con sẽ phải chọn lấy một. Tâm trí con đă sáng suốt. Con không c̣n bị bối rối trong những tư tưởng sai lầm, bởi con đă biết tất cả. Chân lư lộ nguyên h́nh và nghiêm nghị ngó ngay mặt con. Nó nói:

 

190. V́ ḷng thương ḿnh mà hưởng những quả An Nghỉ và Giải Thoát cũng có ngọt ngào đôi chút, nhưng những quả của nghĩa vụ lâu dài và cay đắng, của hy sinh v́ ḷng thương kẻ khác, v́ ḷng thương anh em đồng loại đau khổ, c̣n ngọt ngào hơn nữạ”

 

191. Vị Độc Giác Phật (38) vâng lời bản ngă. Vị Bồ Tát đă chiến thắng, đă nắm phần thưởng trong tay nhưng v́ ḷng từ bi vô lượng mà nói:

 

192. “V́ ḷng thương người tôi xin nhường phần thưởng to tát này lại”. Ngài làm tṛn đại nguyện Từ Bỏ.

 

193. Ngài là một Đấng Cứu Thế.

 

194. Con hăy xem ! Mục đích của chân phúc và Con Đường Đau Khổ dài đằng đẳng ở chốn xa xăm kia. Trong hai con đường con có thể chọn một, hỡi kẻ có chí nguyện chịu buồn thảm, trong những chu kỳ sẽ tới.

 

195. OM VAJRAPÀNI HUM.

 

 NGỮ-GIẢI cho PHẦN THỨ NH̀

 HAI CON ĐƯỜNG

 

1) Phật pháp chia ra tâm truyền và công truyền gọi là Tâm Pháp và Nhăn Pháp. Gọi là Tâm Pháp v́ lẽ giáo pháp đó do tâm Đức Phật trao truyền c̣n Nhăn Pháp là sản phẩm của trí năo Ngài. Tâm Pháp v́ đó mà gọi là “tâm ấn” hay là “chân ấn”, một biểu tượng mà người ta thấy để trên đầu của hầu hết những kinh sách bí truyền.

 

2) “Cây Trí Huệ” là danh từ mà các môn đồ của Bồ Đề Đạt Ma (tôn giáo căn cứ nơi trí huệ Minh Triết) gọi những kẻ đă đạt đến những trạng thái cao thâm của tri thức thần bí – Nhưng Chơn Tiên Nàgàrjuna, đấng sáng lập Môn phái Madhyamika được gọi là ‘ Cây Rồng”, Rồng là biểu hiệu của Minh Triết và Trí huệ. Cái cây được tôn sùng v́ chính dưới cội Bồ đề (Minh Triết) là nơi Đức Phật sinh ra đời, được giác ngộ, thuyết pháp lần đầu và tịch diệt.

 

3) “Tâm Pháp” là giáo lư bí truyền.

 

4) “Linh Hồn Kim Cương” “Vajrasattva” là danh hiệu của Đức Phật Tối Cao, “Chúa tể của tất cả những sự Huyền Bí” gọi là Vajradhara và A Di Đà Phật.

 

5) SAT, Chơn Lư và Sự Thật duy nhất trường tồn và Tuyệt Đối, ngoài ra tất cả đều là ảo mộng.

 

6) Những giáo pháp của Thần Tú dạy rằng trí con người giống như một tấm gương thu hút và phản chiếu mọi vi trần và ta phải để ư phủi bụi mỗi ngày. Thần Tú là tổ thứ sáu của Bắc Trung Hoa giảng dạy giáo lư bí truyền của Bồ Đề Đạt Ma.

 

7) Phật giáo phương Bắc gọi Chơn Nhơn đang luân hồi là “con người thật” con người hợp nhất được với Cái Ta Cao Siêu của ḿnh là thành Phật.

 

8) “Phật” nghĩa là “Giác Ngộ”.

 

9) Xem giải nghĩa số 1. Phật giáo công truyền của quần chúng.

 

10) Câu như thị ngă văn thường để trước kinh sách Phật giáo có nghĩa là lời của Phật và các vị La Hán đă thu thập được bằng cách khẩu truyền.

 

11) Rathapala gọi cha như thế trong câu chuyện Rathapala Sutrasanne.

 

12) Cái ta Cao Siêu, nguyên tố thứ bảy.

 

13) Xác thân của chúng ta, các trường huyền bí gọi là “cái bóng”.

 

14) Nhà ẩn tu, ẩn thân trong rừng rậm khi đă trở nên vị Yogi.

 

15) Như Lai, tiếng Trung Hoa dịch Tathagata tôn hiệu của Phật..

 

16) Tất cả phương Bắc và phương Nam đều đồng ư rằng Đức Phật dời bỏ cảnh cô đơn khi Ngài giải quyết được bài toán đố của đời sống lúc Ngài giác ngộ, và đi dạy dỗ nhân loại.

 

17) Theo bí giáo th́ mỗi Chơn Nhơn là một tia sáng của một vị Thượng Đế cai quản một hành tinh hệ.

 

18) Những phàm nhân hay là xác thân ngắn ngủi như những cái bóng.

 

19) Trí (Manas) nguyên lư tư tưởng hay là Chơn Nhơn, trong con người là chỉ riêng cho “Tri thức” mà thôi v́ Chơn Nhơn của con người gọi là Manasa putras, con của Trí (phổ biến).

 

20) Xem giải thích ở phần ba số 34.

 

21) Xem giải thích ở phần ba số 34.

 

22) Áo Shangua của Shanguavesu ở xứ Rajagriha vị Đại La Hán hay là tổ thứ ba trong 33 vị tổ nối nhau truyền bá Phật pháp. Áo Shangua tỉ dụ như sự hoạch đắc minh triết nhờ đó người ta nhập Niết Bàn tịch diệt (tịch diệt bản ngă). Theo tự nghĩa là “áo điểm đạo” của vị Neophytes. Edkins nói: “Thứ áo bằng cỏ từ Tây Tạng du nhập Trung Hoa dưới triều nhà Tống”. Truyền kỳ Trung Hoa và Tây Tạng nói rằng: “Khi có một vị La Hán ra đời người ta thấy cỏ này mọc nơi chỗ tinh khiết”.

 

23) Hành con đường Paramità nghĩa là làm nhà Yogi tu khổ hạnh.

 

24) “Ngày Mai” nghĩa là kiếp tới.

 

25) “Đại hành tŕnh’ hay là những kiếp luân hồi trong một cuộc tuần hoàn.

 

26) Nyima là Mặt Trời theo chiêm tinh học Tây Tạng. Con mắt là biểu tượng của Migmar hay Mars, bàn tay là biểu tượng của Lhagpa hay Mercury.

 

27) Srotapatti hay là “kẻ vào trong ḍng sông” đưa đến Niết Bàn, ngoại trừ một lẽ đặc biệt nào không kể, người Tu đà hoàn ít khi đạt đến Niết Bàn trong một kiếp. Người ta nói: “Thường thường một vị đệ tử phải gắng công từ kiếp được nhập lưu cho đến kiếp thứ bảy mới tới mục đích được.

 

28) Nghĩa là bản ngă thấp kém.

 

29) Tirthikas là một phái của Bà La Môn ở bên kia Hy mă lạp sơn, tín đồ Phật giáo ở thánh địa Tây Tạng gọi họ là ngoại đạo và họ cũng gọi bên kia lại như thế.

 

30) Người ta cho rằng vị La Hán thấy và biết được tất cả, ở gần cũng như ở xa.

 

31) Cây Shangua, xem nghĩa ở số 22 phần 2.

 

32) Kẻ sống là Chơn Nhơn bất tử và kẻ chết là phàm ngă thấp kém.

 

33) Xem câu số 34 phần 3.

 

34) Đời sống bí mật là đời của vị Nirmànakàya.

 

35) Con đường công khai dạy cho các người thế tục và thường thường được thiên hạ theo, tính cách của con đường Bí Mật khi được điểm đạo mới dạy.

 

36) Người ta gọi kẻ không biết sự Minh Triết và những chân lư bí truyền là “Kẻ chết mà đang sống”.

 

37) Xem câu số 34 phần 3.

 

38) Pratyeks Buddha là các vị Bồ Tát đă cố gắng nhiều kiếp và đạt được Dharmàkàya. Các Ngài không chú ư đến nỗi đau khổ của nhân loại và không giúp đỡ họ. Ngài chỉ lo riêng cho ḿnh, Ngài nhập Niết Bàn đi ra ngoài tầm mắt và trái tim nhân loại. Phật giáo phương Bắc coi Pratyeka Buddha là Ích kỷ.

 

 

 

PHẦN THỨ BA

BẢY TỪNG CỬA ĐẠO

 

196. “Bạch Sư Phụ (Upàdhya) (1) ư con đă quyết, con khao khát sự Minh Triết. Bây giờ Sư Phụ đă xé tan bức màn che trước con Đường Bí Mật và dạy Pháp đại thừa Yana (2). Con nguyện một ḷng vâng theo lời Sư Phụ chỉ dạy”.

 

197. Được lắm, Thinh Văn (3) con hăy chuẩn bị đi, bởi v́ con phải khởi hành một ḿnh. Thầy chỉ có thể chỉ đường cho con mà thôi. Đối với mọi người con đường có một, nhưng những phương tiện để đạt mục đích phải thay đổi tùy mỗi kẻ Hành Hương.

 

198. Con lựa con Đường nào, hỡi con người có hùng tâm đại chí ? Bốn bực Thiền Định của Nhăn Pháp (Samtan) (4) ? Hay là con đường Ba la mật đa (5) có sáu hạnh, sáu cửa đức hạnh đó dắt đến Bồ Đề và đến Prajna, nấc thứ bảy của Minh Triết ?

 

199. Con đường gay go của bốn bực thiền định quanh co khúc khuỷu và dốc đứng. Kẻ leo lên được đến đỉnh chí cao của con đường này quả thật là vị Đại Sĩ.

 

200. Muốn đến đỉnh các Ba la mật đa con phải trải qua một con đường gay go hơn nữa. Con phải mở một con đường xuyên qua bảy cửa có những Hung Thần đa mưu, túc trí, hiện thân của dục vọng đóng giữ.

 

201. Hăy can đảm lên, hỡi đệ tử, con hăy nhớ lấy luật vàng. Một khi con đă vượt qua cửa Srotàpatti (6) “nhập lưu”, một khi con đă bước vào ḷng sông dắt đến Niết Bàn trong kiếp này hay trong một kiếp tới, con sẽ c̣n luân hồi bảy kiếp nữa thôi [16], hỡi con người có Ư Chí cứng rắn như kim cương.

 

202. Con hăy xem dưới mắt con có những ǵ, hỡi kẻ có chí nguyện đạt đến Minh Triết của bậc thần tiên ?

 

203. “Màn hắc ám, bao trùm vật chất, con đang vùng vẫy trong những lằn xếp của bức màn đó. Bạch Sư Phụ ! mắt con nh́n thấy hắc ám càng sâu càng dầy, bàn tay của Sư Phụ vẹt tan hắc ám. Một cái bóng cử động ḅ đi giống h́nh uốn khúc của một con rắn vươn dài ra... Nó lớn thêm, phồng to và biến mất trong bóng tối”.

 

204. Đó chính là cái bóng của con ở bên ngoài Đường Đạo, dọi lên tội lỗi đen tối của con đó !

 

205. “ Bạch Sư Phụ, con nh́n thấy con Đường, chân nó ở trong bùn, đỉnh nó ch́m trong ánh vinh quang của Niết Bàn. Và bây giờ con thấy mấy cái Cửa hẹp trên con đường gập ghềnh, chông gai đi đến Jnàna” [17].

 

206. Con thấy đúng đó, hỡi đệ tử. Mấy cửa đó dắt kẻ chí nguyện vượt qua gịng nước “đến bờ bên kia” (7). Muốn mở mỗi cửa phải có một ch́a khóa vàng, những ch́a khóa đó là :

 

207. 1. Dàna, ch́a khóa bố thí và từ bi vô tận.

 

208. 2. Shila, ch́a khóa điều ḥa trong lời nói và việc làm, ch́a khóa làm cho thăng bằng Nhân và Quả, không c̣n gây Nghiệp nữa.

 

209. 3. Kshànti, đức nhẫn nhục dịu dàng, không ǵ làm cho phật ḷng được.

 

210. 4. Viràga, thản nhiên đối với sự vui và sự khổ, thấy rơ ảo ảnh, nhận được chân lư.

 

211. 5. Virya, đại hùng đại lực mở đường thẳng đến Chân lư siêu việt, ngoài ṿng bùn lầy của những giả dối trần gian.

 

212. 6. Phyana, cửa vàng này một khi đă được mở ra sẽ dẫn vị Valjor [18] đến cơi  Sat trường tồn và sự đắm ḿnh thường xuyên nơi cơi đó.

 

213. 7. Prajnà, ch́a khóa này làm cho con người thành một bực thần tiên và đào tạo người thành bực Bồ Tát, con của Dhyànis.

 

214 . Đó là ch́a khóa vàng mở mấy Cửa.

 

215. Trước khi đến gần cửa chót, hỡi kẻ ra tay đào tạo sự tự do của ḿnh, con phải chiếm đoạt – dài theo con đường khổ nhọc – những Pàramitàs hoàn thiện đó, những đức tính siêu việt kể ra có sáu và mười [19].

 

216. Hỡi đệ tử, bởi v́ trước khi để cho con gặp được Sư Phụ con, mặt đối mặt, ánh sáng đối ánh sáng, người ta đă nói ǵ với con.

 

217. Trước khi có thể đến gần cửa thứ nhất con phải tập tách riêng thân con ra ngoài trí con, phá tan bóng tối và sống trong trường tồn. Muốn được thế con cần phải sống và thở trong tất cả, cũng như tất cả những ǵ con nhận thấy đều thở trong con, con phải cảm thấy con ở nơi mọi vật, và mọi vật trong Đại Ngă.

 

218. Con chớ để cho giác quan của con lấy cái trí con làm chỗ chơi đùa, nhảy nhót.

 

219. Con không được tách riêng con người của con với Bản Thể và vạn vật, mà con rót Biển Cả vào trong giọt nước, giọt nước vào trong biển cả.

 

220. Như thế con sẽ hoàn toàn ḥa hợp với mọi sinh vật, con hăy thương yêu người như họ là sư huynh, sư đệ của con, là học tṛ đồng chung một Sư Phụ, con đồng chung một mẹ hiền.

 

221. Có nhiều Sư Phụ, Hồn Mẹ (8), Alaya Hồn Vũ Trụ chỉ co” một, con hăy sống trong Đức Sư Phụ đó cũng như tia sáng của người sống ở nơi con, hăy sống nơi đồng loại của con, cũng như họ sống nơi Người.

 

222. Trước khi để được bước đầu vào Đường Đạo, trước khi vượt qua cửa thứ nhất, con phải hỗn hợp hai vào trong Một và hy sinh tư ngă cho Chơn Thần Vô Ngă và do đó phá bỏ con đường ở giữa đôi bên – Antahkarana (9).

 

223. Con phải chuẩn bị để trả lời với Dharma, luật nghiêm khắc, tiếng nó sẽ thốt lên để hỏi con ở đầu đường, ở bước thứ nhất :

 

224. “Người đă làm đúng các qui điều chưa ? Hỡi người có những ước vọng cao siêu ?”.

 

225. “Người có làm sao cho tâm và trí của người ḥa nhịp với trí và tâm của tất cả nhân loại chăng?” Bởi v́, cũng như tiếng gầm thét của con Sông Thánh ứng đáp tất cả những âm thanh của Vạn Vật (10), tâm của “Kẻ muốn nhập lưu” phải rung động đáp lại mọi tiếng thở than, mọi tư tưởng của những ǵ có sống và có thở.

 

226. Người ta có thể ví các đệ tử như những sợi dây của cây đàn Vina, gợi những tiếng vang nơi tâm hồn; nhân loại như phím đàn và bàn tay lướt nhẹ trên đó như hơi thở điều ḥa của Đại Hồn Thế Giới. Sợi dây nào không thể đáp lại ngón tay của Sư Phụ, không thể rung động điều ḥa với tất cả mấy dây khác sẽ đứt, và sẽ bị tháo bỏ. Tinh thần chung hợp của các Đệ tử Thinh Văn cũng thế, tất cả phải ḥa hợp với tinh thần của Sư Phụ, hợp làm một với Hồn Siêu Việt hay là phải tan nát.

 

227. Đó là t́nh cảnh của những “Đạo Hữu trong Bóng Tối”, những kẻ giết chết Linh Hồn họ, phái Dad Duapa (11) mà người ta rất sợ.

 

228. Con đă ḥa hợp con người con với sự đau khổ lớn lao của Nhân Loại chưa? Hỡi cử tử muốn vào trong ánh sáng?

 

229. Con đă làm rồi ? Con có thể vào. Tuy nhiên, trước khi đặt chân trên con đường đau khổ, con cũng nên biết trước những hang lỗ bùn lầy của con đường đó.

 

230. Có được ch́a khóa bố thí, bác ái và thương yêu, dịu dàng, con có thể yên ḷng trước cửa Dàna, cửa dựng lên ở đầu Đường Đạo.

 

231. Hỡi kẻ hành hương hữu phúc ! Con hăy xem cái cửa trước mặt con cao và rộng và dường như rất dễ đi vào. Con đường đi ngang qua đó thẳng ngay, trơn láng và xanh tươi giống như một khoảng rừng thưa có ánh nắng, giữa cảnh rừng già tối mịt, một điểm của cực lạc quốc của Phật A Di Đà phản chiếu xuống trần gian. Nơi đây, những chim quyên của hy vọng, những chim cánh lông rực rỡ, hót trong những cḥm cây xanh tươi, tán tụng sự thành công của những kẻ hành hương dũng cảm. Chúng tưng bừng ca hát năm hạnh của các vị Bồ Tát, năm ngọn suối Bồ Đề mạnh mẽ và bảy bước trong đường trí thức.

 

232. Con hăy đi qua ! Con đă có ch́a khóa, con được an toàn.

 

233. Và từ đó đến cửa thứ nh́, con đường cũng c̣n xanh tươi nhưng dốc đứng và khúc khuỷu; thực thế, con đường đến ngọn núi đầy đá nhấp nhô, những đám mây xám ngắt lơ lửng trên triền gồ ghề và xa nữa, tất cả đều đen tối. Hành giả càng đi tới, tiếng hát hy vọng càng nghe yếu lần trong tâm. Bấy giờ sự hoài nghi làm cho hành giả rùng ḿnh, chân bước không được vững vàng như trước nữa.

 

234. Hăy đề pḥng, hỡi cử tử ! Hăy đề pḥng sự lo sợ nó giống như con dơi bay lúc nửa đêm, giương đôi cánh đen, im ĺm chắn ngang giữa ánh trăng trong của Tâm Hồn con và mục tiêu vĩ đại lờ mờ ở tận đằng xa.

 

235. Hỡi đệ tử, sự lo sợ làm tiêu tan ư chí và tê liệt mọi hành động. Nếu thiếu hạnh Shila con sẽ vấp vào những đá sỏi Nhân Quả làm trầy trụa chân con trên con đường gồ ghề, khổ nhọc.

 

236. Hăy bước cho vững, hỡi cử tử. Hăy tắm Hồn con trong nước hương Kshanti [20], bởi lúc này đây con đă đến gần cửa có tên này, cửa dũng cảm và nhẫn nại.

 

237. Con chớ phút nào nhắm mắt, phải trông chừng cây gậy phép Dorje (12) những mũi tên của Ma Vương luôn luôn bắn ngă kẻ không đạt được Viraga (13).

 

238. Chớ run rẩy, dưới làn hơi của sự lo sợ ch́a khóa Kshanti sẽ sét. Ch́a khóa sét sẽ mở không được cửa.

 

239. Con càng đi tới, chân con sẽ càng gặp hang lỗ bùn lầy. Con đường của con đi, được soi sáng bởi một ngọn lửa, ngọn lửa dũng cảm đang cháy trong tim. Người càng gan dạ sẽ càng tiến, người càng sợ th́ ánh sáng càng mờ và chỉ có ánh sáng mới có thể dẫn dắt con người đi tới. Cũng giống như tia sáng buổi chiều c̣n sót lại trên đỉnh núi cao, một khi tia sáng bặt đi là đêm tối tới nơi, cũng thế, khi ánh sáng trong tâm tắt mất th́ một bóng tối đen dày đặc và đáng sợ sẽ từ trong Chính tâm con dọi trên đường đi, và sự hăi hùng sẽ gắn dính chân con tại chỗ.

 

240. Hỡi đệ tử, hăy đề pḥng cái bóng đó. Không một tia sáng nào của Tinh Thần có thể phá tan cảnh hắc ám của Iinh Hồn ở phía dưới trừ phi mọi tư tưởng ích kỷ đều dang ra hết và kẻ hành hương nói: “Tôi đă từ bỏ cái h́nh bóng đang qua này, tôi đă phá tan nguyên nhân, nhân đă tiêu th́ quả là những bóng tối dọi ra đó cũng không c̣n nữạ” Bởi v́ đây đă đến trận đại chiến cuối cùng, trận tranh phong quyết liệt giữa cái Ta Cao Siêu và cái Ta Thấp Kém. Con hăy xem, chính băi chiến trường bây giờ đă bị trận đại chiến thôn tính và không c̣n nữa.

 

241. Nhưng một khi vượt qua được cửa Kshanti, bước thứ ba của con đă xong. Xác thân của con là tôi tớ của con. Bây giờ con hăy chuẩn bị để qua cửa thứ tư, cửa có nhiều cám dỗ làm say mê con người bên trong.

 

242. Trước khi con có thể đến gần mục đích này, trước khi đưa tay mở khóa cửa thứ tư, con phải chế ngự mọi sự biến đổi của cái trí ở nơi con và tiêu diệt đạo quân tư tưởng cảm giác vừa tinh tế vừa giảo quyệt âm thầm len lỏi vào trong thánh đường sáng rỡ của Tâm Hồn.

 

243. Nếu con muốn khỏi bị hại th́ con phải biết un đúc bầy con của con tạo ra sao cho được hiền lương, những đứa con đẻ của tư tưởng con, tuy không thấy được, không rơ được nhưng cả đoàn cả lũ quây quần xung quanh nhân loại, chúng là những con cái, những kẻ thừa kế của con người. Con phải nghiên cứu cho rành sự trống rỗng của cái dường như đầy đủ, sự đầy đủ của cái dường như trống rỗng. Hỡi Kẻ hữu chí can đảm ! Hăy xem kỹ tận đáy ḷng con sâu thẳm và trả lời. Con có biết những uy lực của Chơn Ngă chăng. Hỡi kẻ đă nhận thấy những bóng tối bên ngoài ?

 

244. Nếu con chưa biết, thật nguy cho con.

 

245. Bởi v́ trên đàng thứ tư, một ngọn gió thoáng qua cửa nhiệt vọng hoặc tham dục cũng sẽ lay chuyển ánh sáng yên tĩnh trên vách trắng tinh và trong sạch của Tâm Hồn. Một gợn sóng li ti của mong mỏi hay luyến tiếc đối với mồi danh, bả lợi của Ma Vương chạy dài theo Antahkarana, con đàng nối liền Tinh Thần của con với bản ngă của con, đại lộ của cảm giác, cái kích thích Ahamkara (14), một tư tưởng dầu lẹ như chớp cũng sẽ làm cho con mất hết ba phần thưởng trước mà con đă được.

 

246. Bởi v́ con hăy biết Đấng Vĩnh Cửu không biết sự thay đổi là ǵ ?

 

247. “Con hăy bỏ hết tám thứ khổ nàn, bằng không con không thể nào đạt đến minh triết, cũng không thể nào đạt đến giải thoát”, đó là lời của Đức Thế Tôn, Đức Như Lai trọn lành, “Đấng đă theo dấu các bậc đi trước Ngài (15).

 

248. Hạnh Viraga rất nghiêm khắc và đúng mực. Nếu con muốn được bảo đảm trên con đường này con phải giữ thần trí, và tri giác của con trong sạch hơn trước, sạch hết mọi hành động bại hoại.

 

249. Con phải thấm nhuần Alaya tinh khiết hợp làm một với Tư Tưởng Linh Hồn vạn vật, nếu con hợp một với nó, th́ không ǵ thắng được con, phân ly với nó, con sẽ là sân chơi của Samvritti (16) là nguồn gốc của tất cả ảo mộng của đời.

 

250. Tất cả đều vô thường nơi con người ngoại trừ cái tinh hoa trong sạch, sáng ngời của Alaya. Con người là một tia trong suốt của nó, một làn ánh sáng tinh khiết ở bên trong, một h́nh tướng bằng tro bụi ở bên ngoài. Tia sáng đó là người hướng đạo cuộc đời của con và là Chân Ngă của con, là Đấng Im Lặng Suy Nghĩ và Canh Chừng, nạn nhân của cái ta ty tiện của con. Linh Hồn con chỉ có thể bị thân h́nh vô minh của con làm tổn hại thôi, con hăy điều khiển và chế ngự cả hai, như thế con sẽ có thể vượt qua một cách b́nh an cái cửa “Thăng Bằng” sắp tới.

 

251. Hăy can đảm lên hỡi kẻ hành hương có đại chí muốn đến bờ bên kia, con chớ nghe những lời quyến rủ đường mật của lũ bộ hạ của Ma Vương thủ thỉ bên tai con, hăy tránh xa những tay cám dỗ đó và các hung thần, ác quỉ ganh gổ Lhamayin (17) trong không gian vô tận.

 

252. Hăy vững vàng, bây giờ con gần đến cửa giữa, cửa Đau Khổ có muôn ngàn cạm bẫy.

 

253. Hăy làm chủ tư tưởng của con, hỡi kẻ phấn đấu để tranh sự toàn thiện, nếu con muốn vượt qua cửa đó.

 

254. Hăy làm chủ hồn con, hỡi kẻ đi t́m những chân lư bất tử, nếu con muốn đạt đến mục đích.

 

255. Hăy tập trung con mắt của Linh Hồn vào Ánh Sáng Duy Nhất Tinh Khiết, cái Ánh Sáng không thứ ǵ kích thích được và đem ch́a khóa vàng của con ra mà dùng.

 

256. Công việc khó khăn đă xong, việc nhọc nhằn của con đă gần măn, cái hố rộng há miệng để nuốt con đă vượt qua khỏi.

 

257. Bây giờ con đă qua khỏi hào thành bao quanh cửa Nhân dục, bây giờ con đă thắng được Ma Vương và bộ hạ hung hăng của nó.

 

258. Con đă rửa tâm con sạch hết vết nhơ, và con đă nặn ra hết máu dục vọng ô trược. Nhưng mà hỡi kẻ chiến thắng vinh diệu, công việc con chưa hết đâu. Hăy xây cao vách tường chung quanh Thánh Đảo [21], cái đập giữ cho trí con khỏi tính kiêu căng và tự măn v́ cho rằng chiến công đă đạt được rồi.

 

259. Một ư niệm kiêu căng sẽ làm hư hại công tŕnh. Bởi thế hăy xây đắp cho thật chắc v́ e sợ những lượn sóng dữ dội từ biển cả của Ma Vương bao trùm vũ trụ, ào đến đập vào bờ của con, cuốn mất luôn kẻ hành hương và thánh đảo dầu khi đă thắng trận rồi cũng vậy

 

 260. Đảo của con là con nai, tư tưởng của con là bầy chó, cứ rượt nó măi trong khi nó chạy đến gịng sông của Sự Sống. Rất nguy cho nai nếu bầy chó quỉ theo kịp nó, trước khi nó đến nơi Trú ẩn gọi là “con đường hiểu biết trong sạch” Jnàna Màrga.

 

261. Trước khi con có thể ở trong Jnàna Màrga (18) và gọi nó là con đường của con, Linh Hồn con phải trở nên như trái xoài chín, phải ngọt dịu như thịt trái xoài vàng tươi đẹp đối với những đau khổ của kẻ khác, cũng phải cứng rắn như hột xoài đối với những nỗi sợ hăi, buồn khổ của chính con, hỡi kẻ chinh phục sự Sướng và sự Khổ.

 

262. Phải luyện cho Linh Hồn con cứng như đá để chống lại những cạm bẫy của bản ngă, phải làm cho nó xứng danh là “Linh Hồn Kim Cương”(19).

 

 263. Bởi v́, giống như viên kim cương chôn sâu trong ḷng đất không thể nào phản chiếu được ánh sáng trần gian, Linh Hồn và trí con khi đă ch́m sâu trong Jnàna Màrga cũng không thể phản chiếu được một ảo cảnh nào của Ma Vương.

 

264. Khi con đạt đến trạng thái đó, th́ những Cửa mà con phải vượt qua sẽ mở rộng cho con qua, và những uy quyền to tát của Thiên Nhiên cũng không ngăn cản con được. Con sẽ làm chủ con Đường bảy ngả, nhưng trước khi đạt đến địa vị đó th́ không thể được, hỡi cử tử của những cuộc thi khó khăn không thể nói.

 

265. Từ đây đến đó, một công việc quá sức khó khăn đang chờ con, con phải cảm biết chính con là Tất Cả Tư Tưởng, và đồng thời phải đuổi tất cả tư tưởng ra ngoài Linh Hồn con.

 

266. Con phải đạt đến trạng thái cố định trí con vào một nơi mà không một luồng gió mạnh nào có thể đưa một tư tưởng phàm tục vào tới được. Dọn sạch như thế, thánh đường phải thật trống rỗng không c̣n một hành vi, một âm thanh, một ánh sáng trần gian nào, cũng như con bươm bướm gặp phải gió lạnh té chết nơi ngưỡng cửa, tất cả tư tưởng phàm tục phải té chết trước thánh đường.

 

267.  Kinh Bhagavad Gita có nói:

 

“Trước khi ngọn lửa vàng có thể cháy sáng rực rỡ, cái đèn phải để trong một chỗ kín đáo không có gió thổi đến, đèn đặt nơi có gió thổi qua, th́ tia lửa rung rinh phản chiếu những h́nh sai lạc, đen tối, biến đổi măi trên thánh đường trong trắng của Linh Hồn.

 

268. Và khi đó, hỡi kẻ theo đuổi chân lư, hồn con sẽ trở nên điên cuồng như con voi hoảng kinh làm dữ trong rừng. Lầm tưởng cây rừng là kẻ nghịch nó, phải bỏ mạng trong khi đâm đầu chém giết những bóng cây lung lay dọi lên vách đá phơi ḿnh dưới bóng mặt trời.

 

269. Hăy đề pḥng, e rằng v́ quá lo lắng cho Chơn Ngă mà Linh Hồn con phải hụt chân trên mảnh đất tri thức của Deva.

 

270. Hăy đề pḥng, e rằng lăng quên Chơn Ngă hồn con sẽ mất quyền kiểm soát cái trí rung rẩy và như thế mất hưởng cái quả chính đáng của công lao chiến thắng.

 

271. Hăy đề pḥng sự thay đổi, bởi sự thay đổi là đại thù của con đó. Sự thay đổi sẽ tấn công con, sẽ đẩy con ra khỏi con Đường mà con đang sấn bước, sẽ hất con xuống đầm lầy của tính hoài nghi

 

272. Con hăy chuẩn bị và hăy nghe lời cảnh cáo, nếu con rán sức mà con thất bại th́ hỡi chiến sĩ dũng cảm con chớ ngă ḷng, hăy tiếp tục chiến đấu măi và trở lại xáp trận lần nữa và lần nữa.

 

273. Vị chiến sĩ can đảm dầu khi đă bị thương máu chảy cũng cứ tấn công kẻ nghịch, sẽ đuổi nó ra khỏi đồn lũy của ḿnh và thắng nó trước khi tắt hơi bỏ mạng. Hăy làm như vậy hỡi các đệ tử thất trận và đau khổ, hăy hành động giống như chiến sĩ đó, và hăy đuổi ra khỏi thành lũy của Linh Hồn ḿnh tất cả quân thù – tham-vọng, sân hận, thù oán và cho đến một bóng phớt qua của dục vọng – dầu khi các đệ tử đă thất trận.

 

274. Con hăy nhớ, hỡi kẻ đang chiến đấu để giải thoát nhân loại (20), mỗi sự thất bại là một sự thành công và với thời gian mỗi sự gắng sức thành thật sẽ được thưởng công. Những mầm thiêng nảy tược, đâm chồi một cách vô h́nh trong hồn người đệ tử, những chồi đó mỗi lần trải qua cuộc thử thách là mỗi lần được cứng cáp thêm, chúng cong ḿnh như cây sậy nhưng không găy mà cũng không chết. Nhưng khi ngày giờ đến, chúng sẽ trổ bông (21).

 

275. Nhưng nếu con đă chuẩn bị th́ bây giờ con chớ lo ngại ǵ cả.

 

276. Từ đây con đường của con đă quang đăng đi ngay đến cửa Virya, cửa thứ năm trong bảy cửa. Bây giờ con đang ở trên con đường dắt đến bến Dhyàna, cửa thứ sáu, Cửa Bồ Đề.

 

277. Cửa Dhyàna giống như một cái b́nh bằng bạch ngọc trắng tinh và trong suốt, trong đó một ngọn lửa vàng cháy mạnh mẽ, ngọn lửa Bát nhă dọi ánh Atman.

 

278. Con là cái b́nh đó.

 

279. Con đă đoạn tuyệt với những đối tượng của giác quan, đă trải qua “con Đường Nghe” và “con Đường Thấy” và con đứng vững trong ánh sáng Tri Thức. Bây giờ con đă đạt đến trạng thái Titiksha (22)

 

280. Hỡi Noljor, con đă được b́nh an.

 

281. Con hăy biết, hỡi kẻ chinh phục tội lỗi, một khi người Sowani (23) đă đi qua con đường thứ bảy, vạn vật run sợ một cách vui sướng và phục tùng. Ngôi sao bạc lấp lánh thông báo tin lành cho những đóa hoa nở ban đêm, suối chảy thông báo cho đá sỏi, lượng sóng âm u gầm thét thông báo cho những cụm đá to đầy những đá ngầm bao bọc, ngọn gió nồng nặc mùi hương thông báo cho những thung lũng nhỏ và những cây thông oai vệ ŕ rào bí mật: “một Đức Thầy đă tiến lên, một Đức Thầy của Ngày Nay” (24).

 

282. Bây giờ người đứng như một cây trụ trắng ở phương tây, trên mặt trụ ánh thái dương buổi b́nh minh của tư tưởng trường tồn rọi lên những luồng sáng rực rỡ đầu tiên. Trí của người giống như mặt biển yên tịnh không bờ bến mênh mông trong không gian vô tận. Người nắm quyền sinh, tử trong bàn tay mạnh mẽ của người.

 

283. Thật thế, người mạnh mẽ lắm, quyền lực sống động đă được biểu lộ nơi người, quyền lực ấy chính là người, có thể xây đài mộng huyễn cao vượt lên hơn cơi chư thiên, cơi Đại Phạm Thiên và Đế Thích. Bây giờ người sẽ chắc chắn chiếm được phần thưởng to tát.

 

284. Phải chăng người sẽ không dùng những phần thưởng đó cho sự yên nghỉ và hạnh phúc của người, cho sự sung sướng và vinh diệu của người, hỡi người chiến thắng đại Ảo Mộng ?

 

285.  Không, hỡi cử tử muốn t́m tri thức bí ẩn của Thiên Nhiên ! Nếu con người muốn nối gót Như Lai th́ những phần thưởng và quyền lực đó không phải để cho ḿnh hưởng.

 

286. Con muốn đắp đập để ngăn ḍng nước dưới núi Sumeru (25) lại chăng ? Con sẽ xoay chiều đổi hướng ḍng nước chảy về con chăng ? Hay là con sẽ cho ḍng nước chảy trở về nguồn của nó thuở ban đầu ?

 

287. Nếu con muốn cho con sông tri thức đă chiếm được một cách khó nhọc đó, con sông minh triết có nguồn nơi thượng giới c̣n là một gịng nước mát ngọt lưu thông th́ chớ để cho nó thành ra ao tù nước đọng.

 

288. Con nên biết nếu con muốn cộng tác với Phật A Di Đà vô luợng thọ th́ con phải rót ánh sáng đă thu thập được giống như hai vị Bồ Tát (26) cho khắp cả ba cơi (27).

 

289. Con nên biết rằng gịng tri thức phi phàm và Thiên triết mà con đă chiếm được phải tự nơi con chảy vào một ḷng sông khác, con chỉ làm con kinh của Alaya thôi.

 

290. Con hăy biết hỡi Noljor của con đường Bí Mật, ḍng nước tinh khiết và mát mẽ phải làm cho dịu bớt những lượn sóng đắng cay của Biển cả – biển khổ do nước mắt của loài người tạo ra.

 

291. Hỡi ôi ! Một khi con đă trở nên như một ngôi sao ở tận trời xanh, th́ ngọn đèn trời đó phải chiếu sáng cho tất cả trừ ra cho ḿnh con : ban ánh sáng cho tất cả mà đừng lấy của một ai.

 

292. Hỡi ôi ! Một khi con đă trở nên như tuyết sạch giá trong nơi các thung lũng của núi non, rờ th́ lạnh lẽo, vô t́nh nhưng ấm áp và che chở cho hột giống yên giấc trong ḷng của nó, chính bây giờ tuyết phải lănh lấy nước đông cắt thịt, gió bấc thấu xương để che chở cho đất khỏi nanh vuốt bạo tàn, đất đó có chứa mùa màng đầy hứa hẹn, mùa màng đó sẽ nuôi kẻ đói.

 

293. Tự buộc ḿnh sống qua những Kalpas [22] sắp tới, mà không được người biết ơn và nhận thấy, đứng trơ như một ḥn đá giữa vô số ḥn đá khác, hợp thành “Bức Tường Bảo Vệ” (28) đó là tương lai của con nếu con qua khỏi cửa thứ bảy. Tường đó tạo dựng do những bàn tay của rất nhiều Đức Thầy Từ Bi, xây đắp bởi những thống khổ, củng cố bởi xương máu của mấy Ngài, bức tường bao bọc nhân loại từ thuở con người thoát kiếp thú và che chở cho con người khỏi bị khốn khổ nhiều hơn nữa, và khỏi nhữïng đau đớn thống thiết hơn nữa.

 

294. Tuy nhiên, con người không thấy sự đó, con người sẽ không nhận thức sự đó và cũng không để ư đến lời sáng suốt, bởi v́ con người không biết điều đó.

 

295. Nhưng con đă nghe và biết tất cả, hỡi kẻ có tâm hồn nồng nhiệt và không quỉ quyệt, con phải chọn lấy. Đây con hăy nghe thêm:

 

296. Trên con đường Sowan, hỡi Srotàpatti [23], con đă được ổn định, thật thế trên Marga [24] này kẻ hành hương mệt mỏi chỉ gặp cảnh tối tăm, tay bị gai cào chảy máu, chân bị đá nhọn cắt đứt. Ma Vương tấn công với những khí giới quá lợi hại – bên kia con đường một phần thưởng lớn lao đang chờ sẵn.

 

297. B́nh tĩnh và không đổi chí, kẻ hành hương cố lướt tới, theo gịng sông đưa đến Niết Bàn. Người biết rằng chân càng chảy máu bao nhiêu th́ người sẽ càng gội sạch bấy nhiêu. Người biết rằng sau bảy kiếp luân hồi ngắn ngủi và mau lẹ, Niết Bàn sẽ ở trong tay ngươi.

 

298. Đó là con đường Dhyana, bờ bến của nhà Yogi, mục đích mà vị Srotàpatti mong mỏi.

 

299. Nhưng khi con đă đi qua con đường ấy và đến con đường của vị La Hán th́ mục đích không phải như thế đâu.

 

300. Nơi đó Klesha (29) đă hoàn toàn tiêu diệt gốc rễ của Tanhà (30) đă nhổ sạch, nhưng đệ tử, con hăy nghe thêm một lời nữa, con có thể nào diệt ḷng từ bi thiêng liêng không ? Từ bi không phải là một tánh phụ thuộc. Đó là Pháp của các Pháp luật điều ḥa vĩnh viễn của Alaya; một tính chất đại đồng không bờ bến, ánh sáng của Công lư trường tồn, thích đáng với mọi sự, mọi vật, luật bác ái vô thỉ vô chung.

 

301. Con càng hợp làm một với ḷng từ bi, con người của con càng tan trong Bản Thể của nó, Linh Hồn con càng hợp nhất với cái Hằng có th́ con sẽ càng trở nên Từ Bi Tuyệt Đối (31).

 

302. Đó là con đường Arya, con đường của Chư Phật trọn lành.

 

303. Tuy nhiên, ư nghĩa của lời lẽ trong kinh thánh như thế nào, khi trong đó bảo con nói ?

 

304. “Om ! Tôi tin rằng không phải tất cả các vị La Hán đều hưởng quả ngọt của Niết Bàn.”

 

305. Om ! “Tôi tin rằng không phải tất cả Chư Phật (32) đều nhập Niết Bàn Dharma”.

 

306. Thật thế, trên con đường Arya con không c̣n là Srotàpatti nữa, con là một vị Bồ Tát, con đă qua sông. Quả nhiên là con có quyền lănh áo Dharmakàya; nhưng kẻ lănh áo Sambhogakàya cao hơn vị sống trong Niết Bàn; và vị lănh áo Nirmanakàya, vị Phật Từ Bi lại c̣n cao thượng hơn nữa (34).

 

307. Bây giờ con hăy cúi đầu và nghe cho rơ hỡi vị Bồ Tát, ḷng Từ Bi thốt lên và nói: “Đâu có thể nào hưởng hạnh phúc được khi mà chúng sanh đương chịu đau khổ ? Người có đành giải thoát và nghe cả thế giới rên siết sao ?”

 

308. Bây giờ con đă nghe được điều đă nói.

 

309. Con sẽ tiến đến bước thứ bảy và con vượt qua cửa tri thức cuối cùng, nhưng chỉ là để lănh lấy sự đau khổ mà thôi, nếu con muốn thành Tathàgata th́ con hăy nối bước các đấng đă đi trước con, hăy giữ tấm ḷng không ích kỷ cho đến cùng.

 

310. Con đă giác ngộ, hăy chọn lấy con đường của con.

 

311.  Con hăy nh́n xem, ánh sáng dịu hiền tràn ngập trời Đông. Để tỏ dấu ca ngợi trời, đất cùng ḥa hợp với nhau. Và từ bốn Uy Quyền biểu hiện trổi lên một bài ca yêu thương của Lửa sáng, Nước trong, Đất thơm và Gió mạnh.

 

312. Con hăy nghe ! Từ trong chốn sâu thẳm vô tận của ánh kim quang bao bọc vị Chiến Thắng, tiếng không lời của Vạn Vật trổi lên trăm ngàn điệu để tung hô.

 

313. Hăy vui mừng lên, hỡi người trong cơi Myalba (35).

 

314. Một vị hành hương đă từ bỉ ngạn trở về.

 

315. Một vị La Hán (36) mới sanh.

 

316. Vạn Vật thái b́nh (37).

 

đầu sách cuối sách  phần1 phần 2  phần 3  giải ngữ phần 1 giải ngữ phần 2  giải ngữ phần 3

 

 

 

 

 

 

đầu sách cuối sách  phần1 phần 2  phần 3  giải ngữ phần 1 giải ngữ phần 2  giải ngữ phần 3

 

NGỮ GIẢI PHẦN THỨ BA

BẢY CỬA

 

1)      Upadhya là Sư Phụ, là Guru.

 

2)  Yana là cỗ xe, như thế Mahàyàna là cỗ xe lớn và H́nayàna, là cỗ xe nhỏ tên của hai môn phái tôn giáo và triết học của Phật giáo phương Bắc.

 

3)      Thinh văn, kẻ nghe.

 

4)    Samtan cũng giống tiếng Sanskrit Dhyàna hay là trạng thái thiền định có bốn bậc.

 

5)    Paramitàs: Lục độ, sáu đức hạnh, đối với các vị tu sĩ th́ có mười hạnh.

 

6)    Srotapatti theo tự nghĩa là “kẻ vào trong gịng nước”, “nhập lưu” chảy đến Niết Bàn. Đó là tên của con đường thứ nhất. Con đường thứ nh́ tên là Sakridagamin “kẻ chỉ c̣n luân hồi một kiếp nữa thôi”. Con đường thứ ba gọi là Anàgàmin “kẻ không c̣n luân hồi nữa” trừ phi người muốn luân hồi để giúp đời. Con đường thứ tư là con đường của vị La Hán. Đó là con đường cao nhất. Vị La Hán thấy Niết Bàn trong kiếp hiện tại. Đối với Ngài trong khi thiền định Tam Muội (Samadhi) Ngài biết tất cả ân huệ cơi Niết Bàn chớ không phải sau khi chết.

 

7)    Đối với tín đồ Phật giáo phương Bắc “đến bờ bên kia” có nghĩa là đạt được Niết Bàn bằng cách hành sáu và mười hạnh Pàramitas.

 

8)    Hồn mẹ là Alaya, hồn Vũ Trụ hay là Atman, mỗi người đều có nơi ḿnh một tia của nó và có thể đồng hóa ḿnh với tia đó, nhập vào tia đó.

 

9)      Anthakarana là hạ trí, con đường giao thông giữa phàm nhân và Thượng Trí hay Linh Hồn con người. Khi chết, đường giao thông này bị tiêu hủy và phần c̣n lại của hạ trí sống trong Kamarupa – cái vỏ.

 

10) Phật giáo đồ phương Bắc và thực ra tất cả người Trung Hoa đều cho là tiếng gầm thét của một vài sông thánh biểu lộ chủ âm của Thiên Nhiên. V́ đó mới có sự so sánh trên đây. Một điều được công nhận trong vật lư học cũng như trong huyền bí học là hợp thành lực của các tiếng tăm thiên nhiên theo như tai người ta nghe được, trong tiếng chảy ầm ầm của các đại giang, trong tiếng gió thổi đu đưa các ngọn cây trong rừng, hoặc tiếng tăm của một đô thị ở xa, hợp thành một thanh âm duy nhất và có một âm điệu riêng. Điều này được các nhà vật lư học và các nhạc sĩ chứng minh. Như giáo sư Rice (nhạc Trung Hoa) chỉ rơ người Trung Hoa đă nh́n nhận điều này cả ngàn năm trước khi họ nói “nước của Hoàng Hà chảy nghe có giọng Kung” gọi là “đại cung” trong nhạc Trung Hoa, và ông chỉ rơ cung này tương xứng với cung Fa, “được khoa Vật lư học kim thời xem như là chủ âm của thiên nhiên hiện giờ”. Giáo sư B. Silliman cũng có nói trong cuốn “Nguyên tắc vật lư” của ông “cung này là Fa trung b́nh của dương cầm mà người ta có thể xem là chủ âm của Tạo Vật”.

 

11) Những Bhons hay là Dugpas, phái “Mũ Đỏ” được xem như là rất giỏi về tà thuật. Họ ở miền Tây Tây Tạng, Tiểu Tây Tạng và Bhutan. Tất cả đều là Tantrikas. Một điều rất buồn cười là những nhà Đông phương học đă có viếng miền biên giới xứ Tây Tạng như Schlagintweit và nhiều kẻ khác đă lầm lộn những nghi lễ và những cách hành đạo gớm ghiếc của những kẻ nói trên đây với tín ngưỡng của các vị Lạt Ma đông phương, các vị “Mũ Vàng” và các valjors của các Ngài. Câu kế đây là một thí dụ.

 

12) Dorje, tiếng Sanskrit là Vajra là một bửu pháp trong tay của một số kiết thần (Dragshed của Tây Tạng, các Devas che chở loài người) có pháp khu trừ những ảnh hưởng xấu cùng tà khí cũng như chất Ozone trong hóa học. Đó cũng là một Mudrà, một tư thế (cách ngồi) để tham thiền. Tóm lại, tư thế hay phù phép đó là một biểu tượng của pháp lực đối với ảnh hưởng xấu vô h́nh. Tuy nhiên các Bhons hay Dugpas chiếm đoạt biểu tượng đó đem dùng về tà thuật. Đối với phái “Mũ Vàng” hay là Gelugpas th́ đó là một biểu tượng thần oai cũng như Thánh giá đối với tín đồ Cơ Đốc và không có ǵ là “mê tín” cả. Đối với phái Dugpas th́ cũng như hai h́nh tam giác ngược là dấu hiệu của tà thuật.

 

13) Viràga là tính lănh đạm tuyệt đối, đối với Vũ Trụ khách quan, đối với sự vui và sự khổ. Tiếng “chán” không đúng nghĩa nhưng cũng gần gần như thế.

 

14) Ahamkara, cái Tôi hay là sự cảm biết về cái Tôi, cái bản ngă.

 

15) “Kẻ đi theo dấu những người trước của ḿnh” hay là “những người đă đến trước ḿnh” đó là nghĩa đúng của chữ Tathàgata (Như Lai).

 

16) Samvritti là một trong hai Chân lư thuyết minh tính chất ảo mộng và trống rỗng của mọi vật. Đó là một chân lư tương đối. Phái Mahàyàna giảng dạy sự khác nhau giữa hai chân lư đó. Paramarthasatya và Samvrittisatya (Satya nghĩa là Chân lư). Đó là chỗ tranh chấp giữa phái Madhyamikas và phái Yogacharyas, phái thứ nhất phủ nhận và phái thứ nh́ xác nhận rằng mọi vật có ra là do một nguyên nhân đă có trước nữa tạo ra hay là do sự tiếp nối. Phái Madhyamikas là phái vô thần cho rằng tất cả đều là Parikalpita một ảo mộng và lầm lạc trong tâm giới cũng như ngoại giới. Phái Yogacharya là phái duy tâm. Thế th́ Samvritti về mặt chân lư tương đối là nguồn gốc của mọi ảo mộng.

 

17) Lhamayin là bọn ngũ hành và yêu quỉ thù nghịch với loài người.

 

18) Jnàna Màrga là “con đường Jnàna” hay là con đường tri thức thuần túy của Paramartha hay là (theo Sanskrit) Svasamvedanà “sự tự suy xét hay tự phân tích”.

 

19) Xem giải thích số 4 phần 2. “Linh Hồn Kim Cương” hay là Vajradhara chủ trị trên Dhyàni Buđhas.

 

20) Đây ám chỉ sự tin tưởng rằng mỗi khi có thêm được một vị Phật hoặc Thánh mới chứng quả tức là thêm được một chiến sĩ trong quân đội của những kẻ làm việc để giải thoát hay là cứu rỗi nhân loại. Trong những xứ Phật giáo phương Bắc có giảng dạy giáo lư về Nirmanakàyas – Những vị Bồ Tát khước từ chân phúc Niết Bàn mà các Ngài có quyền hưởng hoặc không khoác áo Dharmakàya (v́ hai lối đó làm cho các Ngài đoạn tuyệt với nhân thế) để giúp đỡ nhân loại trong chốn vô h́nh và cuối cùng đưa nhân loại đến Đại Niết Bàn. Mỗi vị Bồ Tát mới hoặc mỗi vị được điểm đạo cao cấp mới được gọi là “kẻ giải thoát nhân loại”.

 

21) Ám chỉ những sự ham muốn và tội lỗi của con người bị diệt trừ trong những cuộc thử ḷng của vị đệ tử và hóa thành miếng đất tốt cho mầm giống của những đức tính siêu việt nảy nở, những đức hạnh bẩm sinh, những tài năng và thiên tư là những thứ đă hoạch đắc trong một kiếp trước. Thiên tài luôn luôn là một tài năng của một kiếp trước đem lại.

 

 

22) Titikshà là trạng thái thứ năm trong Raja Yoga – một trạng thái lănh đạm tuyệt đối, phục tùng nếu cần, đối với cái mà người ta gọi là “vui và khổ cho tất cả” nhưng cũng không lấy sự phục tùng đó làm vui hoặc buồn, nói tóm lại là một trạng thái mà người ta trở nên vô t́nh và vô cảm đối với vui cũng như đối với khổ về cả ba mặt xác, trí và tâm.

 

23) Sowani là người thực hành Sowan, con đường thứ nhất trong Dhyàna, một Srotapatti.

 

24) Chữ “Ngày” đây có nghĩa là trọn một Manvantara, một kỳ gian lâu vô số.

 

25) Núi Mérou, núi thiêng của Chư Thiên.

 

26) Trong khoa tượng trưng của Phật giáo phương Bắc nơi Cực Lạc Quốc hay là “không gian vô tận” có hai vị Bồ Tát Quan Thế Âm và Đại Thế Chí, đời đời soi sáng khắp tam giới, dùng ánh sáng tri thức đó để khai hóa các nhà Yogi, để cho các vị này cứu độ lại người đời. Ngôi vị cao cả của hai Ngài trong Quốc độ A Di Đà là do nơi công đức phổ độ mà hai Ngài đă tạo khi c̣n làm nhà Yogi trần thế.

 

27) Tam giới là cơi phàm trần, cơi trung giới và thượng giới.

 

28) “Bức tượng bảo vệ” tiên thánh dạy rằng những gắng công chồng chất của các bậc Thánh, Tiên từ đời này sang đời khác nhất là của những vị Nirmànakàyas tạo ra một bức tường bảo vệ chung quanh nhân loại, che chở một cách vô h́nh cho loài người khỏi những tai nạn gớm ghê hơn nữa.

 

29) Klesha, là thích sự khoái lạc ở đời, tốt hay xấu.

 

30) Tanhà, ḷng ham sống gây ra sự luân hồi.

 

31) Không nên hiểu chữ từ bi này theo nghĩa “ḷng thương của Thượng Đế” của các nhà theo thuyết hữu thần, ở đây từ bi là một luật trừu tượng và vô ngă, bản chất của nó là sự Điều Ḥa tuyệt đối, bị sự bất ḥa, đau khổ và tội lỗi làm cho rối rắm.

 

32) Theo ngữ pháp của Phật giáo Bắc tôn, tất cả các vị Đại La Hán và các bực Tiên, Thánh đều được gọi là Phật.

 

33) Theo ngôi vị Thiên đ́nh th́ vị Bồ Tát kém hơn vị “Phật trọn lành”. Theo cách nói công khai th́ người ta hay lẫn lộn hai bực đó làm một. Tuy nhiên, tri giác thiên phú và chính lư của quần chúng đă có ư tôn kính vị Bồ Tát hơn vị Phật do sự hy sinh của vị Bồ Tát.

 

34) Cũng do ḷng tôn kính đó mà quần chúng gọi là “Phật Từ Bi” những vị Bồ Tát khi đạt đến quả vị La Hán (nghĩa là đă đi hết con đường thứ tư hay là thứ bảy) không chịu nhập Niết Bàn hay là lănh áo Dharmakàya và sang bờ bên kia, v́ làm như thế th́ các Ngài không thể nào giúp đỡ nhân loại được nữa. Các Ngài thích ở trong cảnh vô h́nh của thế giới và giúp vào sự cứu vớt nhân loại bằng cách cảm hóa con người để d́u dắt con người theo Luật Trời, theo Đường Chánh Lư. Trong Phật giáo công truyền phương Bắc có lệ tôn sùng những bậc đó như Thánh và đọc kinh cầu nguyện các Ngài cũng như người Hy Lạp và tín đồ Cơ Đốc giáo đối với các Thánh hộ mạng của họ vậy. Nhưng những giáo lư bí truyền không khuyến khích hành động như thế. Có một sự khác biệt nhau rất xa giữa hai giáo huấn. Cư sĩ theo giáo lư công truyền biết rất ít về nghĩa thật của chữ Nirmànakàya v́ đó mới có sự lầm lộn và những sự cắt nghĩa thiếu sót của các nhà Đông phương học, thí dụ Schlagintweit tưởng rằng Nirmànakàya có nghĩa là nhục thân của các Đức Phật khi mấy Ngài đầu thai xuống thế (xem quyển Buđhism in Tibet) và do đó sanh ra một kiến thức hoàn toàn sai lầm về vấn đề đó. Tuy nhiên giáo lư chân truyền như thế này:

 

Ba thân hay là h́nh thể mà bực Tiên, Phật có thể chọn lựa gọi là:

 

1. Nirmànakàya.

 

2. Sambhogakàya.

 

3. Dharmakàya. 

 

Cái thứ nhất là h́nh thể tinh vi mà người sẽ dùng khi bỏ xác thân, khi người hiện thân trong cái vía và đồng thời có tri thức đầy đủ của một vị Chơn Tiên. Vị Bồ Tát phát triển cái thể đó nơi người trong khi người tiến bước trên đường Đạo. Khi đă đạt mục đích, người khước từ kết quả và ở lại thế gian làm một vị Chơn Tiên. Và đến khi người bỏ xác trần thay v́ nhập Niết Bàn, người ở trong cái thân vinh diệu mà người đă tạo, người đời không nh́n thấy được, để trông nom và che chở cho nhân loại. Sambhogakàya cũng giống như thế nhưng có thêm ba sự hoàn thiện nữa, một trong sự hoàn thiện này là hoàn toàn tiêu ma mọi sự liên hệ với đời.

 

Dharmakàya là thân của vị Phật nghĩa là không có thân mà chỉ là một linh khí : Ư thức nhập trong Ư thức Vũ Trụ hay là Linh Hồn trống rỗng không c̣n biểu hiện ǵ cả. Khi đă nhận lấy Dharmakàya, vị Chơn Tiên hoặc Phật đoạn tuyệt mọi quan hệ cho đến mọi tư tưởng về trần thế. V́ đó muốn có thể giúp đỡ nhân loại, một vị Chơn Tiên được quyền hưởng Niết Bàn, “khước từ thân Dharmakàya” theo cách nói huyền bí chỉ giữ tri thức đầy đủ của Sambhogakàya và ở trong thân Nirmanakàya. Trường Bí Truyền dạy rằng: Phật Gô ta ma và nhiều đệ tử La Hán của Ngài thuộc về hạng Nirmànakàya này và do sự đại hy sinh cho nhân loại, trên Ngài không c̣n có ai nữa.

 

35) Myalba (Ta Bà) là quả đất của chúng ta, gọi một cách rất đúng là một “địa ngục” và theo trường bí giáo th́ là cái địa ngục to hơn tất cả các địa ngục. Giáo lư bí truyền không biết địa ngục hay là nơi h́nh phạt nào khác hơn là những hành tinh hay là địa cầu có loài người ở. Avitchi là một trạng thái chớ không phải một trường sở.

 

36) Nghĩa là một vị Cứu Thế đă sanh ra đời và sẽ d́u dắt loài người đến Niết Bàn cuối cùng khi đă liễu kết cuộc tuần hoàn sinh hóa.

 

37) Đây là một thể thức của các công thức để sau chót tất cả những kinh luận, cầu đảo hoặc huấn thị ,“Vạn Vật Thái B́nh”, “Phước lành cho tất cả sinh vật”.

 

 

 

 

H Ế T

 

 

 

Chú Thích

 

[1] Trường Phật Giáo Bí Truyền

 

[2] trong Ấn Độ Giáo

 

[3] Cái tạo tác và cái không tạo tác

 

[4] Xem câu số 179

 

[5] Một trong đó, xem câu 306 giải thích 34

 

[6] Xem câu 198, 206

 

[7] Bất tử

 

[8] Hạng người Bà la môn khổ hạnh

 

[9] Chân Minh Triết thiêng liêng

 

[10]  Đức Phật

 

[11] Giáo huấn của trường Prasanga

 

[12] Hỏa tinh

 

[13] Thủy tinh

 

[14] Mặt trời

 

[15] Xem câu số 198

 

[16] Xem câu số 297

 

[17] Minh triết, Hiểu biết

 

[18] Vị thánh, vị Chơn tiên

 

[19] Xem câu 298

 

[20] Kiên nhẫn

 

[21] Chơn nhơn, Thượng trí

 

[22] Những chu kỳ

 

[23] Sowan và Srotàpatti đồng nghĩa

 

[24] Đường

        The Voice of the Silence by H. P. Blavatsky

FRAGMENT I

THE VOICE OF THE SILENCE

1.THESE instructions are for those ignorant of the dangers of the lower IDDHI (1).

2. He who would hear the voice of Nada (2), "the Soundless Sound," and comprehend it, he has to learn the nature of Dharana (3).

3. Having become indifferent to objects of perception, the pupil must seek out the rajah of the senses, the Thought-Producer, he who awakes illusion.

4. The Mind is the great Slayer of the Real.

5. Let the Disciple slay the Slayer.

For: --

6. When to himself his form appears unreal, as do on waking all the forms he sees in dreams;

7. When he has ceased to hear the many, he may discern the ONE -- the inner sound which kills the outer.

8. Then only, not till then, shall he forsake the region of Asat, the false, to come unto the realm of Sat, the true.

9. Before the soul can see, the Harmony within must be attained, and fleshly eyes be rendered blind to all illusion.

10.  Before the Soul can hear, the image (man) has to become as deaf to roarings as to whispers, to cries of bellowing elephants as to the silvery buzzing of the golden fire-fly.

11.  Before the soul can comprehend and may remember, she must unto the Silent Speaker be united just as the form to which the clay is modelled, is first united with the potter's mind.

12. For then the soul will hear, and will remember.

13. And then to the inner ear will speak THE VOICE OF THE SILENCE  And say: --

14. If thy soul smiles while bathing in the Sunlight of thy Life; if thy soul sings within her chrysalis of flesh and matter; if thy soul weeps inside her castle of illusion; if thy soul struggles to break the silver thread that binds her to the MASTER (4); know, O Disciple, thy Soul is of the earth.

15.  When to the World's turmoil thy budding soul (5) lends ear; when to the roaring voice of the great illusion thy Soul responds (6) when frightened at the sight of the hot tears of pain, when deafened by the cries of distress, thy soul withdraws like the shy turtle within the carapace of SELFHOOD, learn, O Disciple, of her Silent "God," thy Soul is an unworthy shrine.

16. When waxing stronger, thy Soul glides forth from her secure retreat: and breaking loose from the protecting shrine, extends her silver thread and rushes onward; when beholding her image on the waves of Space she whispers, "This is I," -- declare, O Disciple, that thy soul is caught in the webs of delusion (7).

17. This Earth, Disciple, is the Hall of Sorrow, wherein are set along the Path of dire probations, traps to ensnare thy EGO by the delusion called "Great Heresy" (8).

18. This earth, O ignorant Disciple, is but the dismal entrance leading to the twilight that precedes the valley of true light -- that light which no wind can extinguish, that light which burns without a wick or fuel.

19.  Saith the Great Law: -- "In order to become the KNOWER of ALL SELF (9) thou hast first of SELF to be the knower." To reach the knowledge of that SELF, thou hast to give up Self to Non-Self, Being to Non-Being, and then thou canst repose between the wings of the GREAT BIRD. Aye, sweet is rest between the wings of that which is not born, nor dies, but is the AUM (10) throughout eternal ages (11).

20.   Bestride the Bird of Life, if thou would'st know (12).

21.   Give up thy life, if thou would'st live (13).

22.   Three Halls, O weary pilgrim, lead to the end of toils. Three Halls, O conqueror of Mara, will bring thee through three states (14) into the fourth (15) and thence into the seven worlds (16), the worlds of Rest Eternal.

23. If thou would'st learn their names, then hearken, and remember.

24. The name of the first Hall is IGNORANCE -- Avidya.

25. It is the Hall in which thou saw'st the light, in which thou livest and shalt die (17).

26. The name of Hall the second is the Hall of Learning.* In it thy Soul will find the blossoms of life, but under every flower a serpent coiled (18). [*The Hall of Probationary Learning.]

27. The name of the third Hall is Wisdom, beyond which stretch the shoreless waters of AKSHARA, the indestructible Fount of Omniscience (19).

28. If thou would'st cross the first Hall safely, let not thy mind mistake the fires of lust that burn therein for the Sunlight of life.

29. If thou would'st cross the second safely, stop not the fragrance of its stupefying blossoms to inhale. If freed thou would'st be from the Karmic chains, seek not for thy Guru in those Mayavic regions.

30. The WISE ONES tarry not in pleasure-grounds of senses.

31. The WISE ONES heed not the sweet-tongued voices of illusion.

32. Seek for him who is to give thee birth (20), in the Hall of Wisdom, the Hall which lies beyond, wherein all shadows are unknown, and where the light of truth shines with unfading glory.

33. That which is uncreate abides in thee, Disciple, as it abides in that Hall. If thou would'st reach it and blend the two, thou must divest thyself of thy dark garments of illusion. Stifle the voice of flesh, allow no image of the senses to get between its light and thine that thus the twain may blend in one. And having learnt thine own Agnyana (21), flee from the Hall of Learning. This Hall is dangerous in its perfidious beauty, is needed but for thy probation. Beware, Lanoo, lest dazzled by illusive radiance thy Soul should linger and be caught in its deceptive light.

34. This light shines from the jewel of the Great Ensnarer, (Mara) (22). The senses it bewitches, blinds the mind, and leaves the unwary an abandoned wreck.

35. The moth attracted to the dazzling flame of thy night-lamp is doomed to perish in the viscid oil. The unwary Soul that fails to grapple with the mocking demon of illusion, will return to earth the slave of Mara.

36. Behold the Hosts of Souls. Watch how they hover o'er the stormy sea of human life, and how exhausted, bleeding, broken-winged, they drop one after other on the swelling waves. Tossed by the fierce winds, chased by the gale, they drift into the eddies and disappear within the first great vortex.

37.  If through the Hall of Wisdom, thou would'st reach the Vale of Bliss, Disciple, close fast thy senses against the great dire heresy of separateness that weans thee from the rest.

38. Let not thy "Heaven-born," merged in the sea of Maya, break from the Universal Parent (SOUL), but let the fiery power retire into the inmost chamber, the chamber of the Heart (23) and the abode of the World's Mother (24).

39.  Then from the heart that Power shall rise into the sixth, the middle region, the place between thine eyes, when it becomes the breath of the ONE-SOUL, the voice which filleth all, thy Master's voice.

'40. Tis only then thou canst become a "Walker of the Sky" (25) who treads the winds above the waves, whose step touches not the waters.

41. Before thou set'st thy foot upon the ladder's upper rung, the ladder of the mystic sounds, thou hast to hear the voice of thy inner GOD* in seven manners.

[*The Higher SELF.]

42. The first is like the nightingale's sweet voice chanting a song of parting to its mate.

43. The second comes as the sound of a silver cymbal of the Dhyanis, awakening the twinkling stars.

44. The next is as the plaint melodious of the ocean-sprite imprisoned in its shell.

45.  And this is followed by the chant of Vina (26).

46. The fifth like sound of bamboo-flute shrills in thine ear.

47.  It changes next into a trumpet-blast.

48.  The last vibrates like the dull rumbling of a thunder-cloud.

49. The seventh swallows all the other sounds. They die, and then are heard no more.

50. When the six (27) are slain and at the Master's feet are laid, then is the pupil merged into the ONE (28), becomes that ONE and lives therein.

51. Before that path is entered, thou must destroy thy lunar body (29), cleanse thy mind-body (30) and make clean thy heart.

52. Eternal life's pure waters, clear and crystal, with the monsoon tempest's muddy torrents cannot mingle.

53.  Heaven's dew-drop glittering in the morn's first sun-beam within the bosom of the lotus, when dropped on earth becomes a piece of clay; behold, the pearl is now a speck of mire.

54.  Strive with thy thoughts unclean before they overpower thee. Use them as they will thee, for if thou sparest them and they take root and grow, know well, these thoughts will overpower and kill thee. Beware, Disciple, suffer not, e'en though it be their shadow, to approach. For it will grow, increase in size and power, and then this thing of darkness will absorb thy being before thou hast well realized the black foul monster's presence.

55. Before the "mystic Power" (31)* can make of thee a god, Lanoo, thou must have gained the faculty to slay thy lunar form at will.

[*Kundalini, the "Serpent Power" or mystic fire.]

56.  The Self of matter and the SELF of Spirit can never meet. One of the twain must disappear; there is no place for both.

57.  Ere thy Soul's mind can understand, the bud of personality must be crushed out, the worm of sense destroyed past resurrection.

58.  Thou canst not travel on the Path before thou hast become that Path itself (32).

59.  Let thy Soul lend its ear to every cry of pain like as the lotus bares its heart to drink the morning sun.

60.   Let not the fierce Sun dry one tear of pain before thyself hast wiped it from the sufferer's eye.

61. But let each burning human tear drop on thy heart and there remain, nor ever brush it off, until the pain that caused it is removed.

62, These tears, O thou of heart most merciful, these are the streams that irrigate the fields of charity immortal. 'Tis on such soil that grows the midnight blossom of Buddha (33) more difficult to find, more rare to view than is the flower of the Vogay tree. It is the seed of freedom from rebirth. It isolates the Arhat both from strife and lust, it leads him through the fields of Being unto the peace and bliss known only in the land of Silence and Non-Being.

63. Kill out desire; but if thou killest it take heed lest from the dead it should again arise.

64. Kill love of life, but if thou slayest tanha (34), let this not be for thirst of life eternal, but to replace the fleeting by the everlasting.

65. Desire nothing. Chafe not at Karma, nor at Nature's changeless laws. But struggle only with the personal, the transitory, the evanescent and the perishable.

66.   Help Nature and work on with her; and Nature will regard thee as one of her creators and make obeisance.

67.   And she will open wide before thee the portals of her secret chambers, lay bare before thy gaze the treasures hidden in the very depths of her pure virgin bosom. Unsullied by the hand of matter she shows her treasures only to the eye of Spirit -- the eye which never closes, the eye for which there is no veil in all her kingdoms.

68.  Then will she show thee the means and way, the first gate and the second, the third, up to the very seventh. And then, the goal -- beyond which lie, bathed in the sunlight of the Spirit, glories untold, unseen by any save the eye of Soul.

69.  There is but one road to the Path; at its very end alone the "Voice of the Silence" can be heard. The ladder by which the candidate ascends is formed of rungs of suffering and pain; these can be silenced only by the voice of virtue. Woe, then, to thee, Disciple, if there is one single vice thou hast not left behind. For then the ladder will give way and overthrow thee; its foot rests in the deep mire of thy sins and failings, and ere thou canst attempt to cross this wide abyss of matter thou hast to lave thy feet in Waters of Renunciation. Beware lest thou should'st set a foot still soiled upon the ladder's lowest rung. Woe unto him who dares pollute one rung with miry feet. The foul and viscous mud will dry, become tenacious, then glue his feet unto the spot, and like a bird caught in the wily fowler's lime, he will be stayed from further progress. His vices will take shape and drag him down. His sins will raise their voices like as the jackal's laugh and sob after the sun goes down; his thoughts become an army, and bear him off a captive slave.

70. Kill thy desires, Lanoo, make thy vices impotent, ere the first step is taken on the solemn journey.

71.  Strangle thy sins, and make them dumb for ever, before thou dost lift one foot to mount the ladder.

72.  Silence thy thoughts and fix thy whole attention on thy Master whom yet thou dost not see, but whom thou feelest.

73.  Merge into one sense thy senses, if thou would'st be secure against the foe. 'Tis by that sense alone which lies concealed within the hollow of thy brain, that the steep path which leadeth to thy Master may be disclosed before thy Soul's dim eyes.

74.  Long and weary is the way before thee, O Disciple. One single thought about the past that thou hast left behind, will drag thee down and thou wilt have to start the climb anew.

75.  Kill in thyself all memory of past experiences. Look not behind or thou art lost.

76.  Do not believe that lust can ever be killed out if gratified or satiated, for this is an abomination inspired by Mara. It is by feeding vice that it expands and waxes strong, like to the worm that fattens on the blossom's heart.

77.  The rose must re-become the bud born of its parent stem, before the parasite has eaten through its heart and drunk its life-sap.

78.  The golden tree puts forth its jewel-buds before its trunk is withered by the storm.

79.   The pupil must regain the child-state he has lost ere the first sound can fall upon his ear.

80.  The light from the ONE Master, the one unfading golden light of Spirit, shoots its effulgent beams on the disciple from the very first. Its rays thread through the thick dark clouds of matter.

81.  Now here, now there, these rays illumine it, like sun-sparks light the earth through the thick foliage of the jungle growth. But, O Disciple, unless the flesh is passive, head cool, the soul as firm and pure as flaming diamond, the radiance will not reach the chamber (23), its sunlight will not warm the heart, nor will the mystic sounds of the Akasic heights (35) reach the ear, however eager, at the initial stage.

82. Unless thou hearest, thou canst not see.

83. Unless thou seest thou canst not hear. To hear and see this is the second stage. . . . . . .

84.  When the disciple sees and hears, and when he smells and tastes, eyes closed, ears shut, with mouth and nostrils stopped; when the four senses blend and ready are to pass into the fifth, that of the inner touch -- then into stage the fourth he hath passed on.

85. And in the fifth, O slayer of thy thoughts, all these again have to be killed beyond reanimation (36).

86. Withhold thy mind from all external objects, all external sights. Withhold internal images, lest on thy Soul-light a dark shadow they should cast.

87.  Thou art now in DHARANA (37), the sixth stage.

88.   When thou hast passed into the seventh, O happy one, thou shalt perceive no more the sacred three (38), for thou shalt have become that three thyself. Thyself and mind, like twins upon a line, the star which is thy goal, burns overhead (39). The three that dwell in glory and in bliss ineffable, now in the world of Maya have lost their names. They have become one star, the fire that burns but scorches not, that fire which is the Upadhi (40) of the Flame.

89.  And this, O Yogi of success, is what men call Dhyana (41), the right precursor of Samadhi (42).

90.  And now thy Self is lost in SELF, thyself unto THYSELF, merged in THAT SELF from which thou first didst radiate.

91. Where is thy individuality, Lanoo, where the Lanoo himself? It is the spark lost in the fire, the drop within the ocean, the ever-present Ray become the all and the eternal radiance.

92. And now, Lanoo, thou art the doer and the witness, the radiator and the radiation, Light in the Sound, and the Sound in the Light.

93.  Thou art acquainted with the five impediments, O blessed one. Thou art their conqueror, the Master of the sixth, deliverer of the four modes of Truth (43). The light that falls upon them shines from thyself, O thou who wast disciple but art Teacher now.

And of these modes of Truth: --

94.  Hast thou not passed through knowledge of all misery -- Truth the first?

95.  Hast thou not conquered the Maras' King at Tsi, the portal of assembling -- truth the second? (44).

96.  Hast thou not sin at the third gate destroyed and truth the third attained?

97.  Hast not thou entered Tau, "the Path" that leads to knowledge -- the fourth truth? (45).

98.   And now, rest 'neath the Bodhi tree, which is perfection of all knowledge, for, know, thou art the Master of SAMADHI -- the state of faultless vision.

99.   Behold! thou hast become the light, thou hast become the Sound, thou art thy Master and thy God. Thou art THYSELF the object of thy search: the VOICE unbroken, that resounds throughout eternities, exempt from change, from sin exempt, the seven sounds in one, the VOICE OF THE SILENCE

100.  Om Tat Sat 

 

GLOSSARY TO PART I

The Voice of the Silence

(1). The Pali word Iddhi, is the synonym of the Sanskrit Siddhis, or psychic faculties, the abnormal powers in man. There are two kinds of Siddhis. One group which embraces the lower, coarse, psychic and mental energies; the other is one which exacts the highest training of Spiritual powers. Says Krishna in Shrimad Bhagavat: -- "He who is engaged in the performance of yoga, who has subdued his senses and who has concentrated his mind in me (Krishna), such yogis all the Siddhis stand ready to serve."

(2). The "Soundless Voice," or the "Voice of the Silence." Literally perhaps this would read "Voice in the Spiritual Sound," as Nada is the equivalent word in Sanskrit, for the Sen-sar term.

(3). Dharana, is the intense and perfect concentration of the mind upon some one interior object, accompanied by complete abstraction from everything pertaining to the external Universe, or the world of the senses.

(4). The "great Master" is the term used by lanoos or chelas to indicate-one's "Higher Self." It is the equivalent of Avalokiteswara, and the same as Adi-Budha with the Buddhist Occultists, ATMAN the "Self" (the Higher Self) with the Brahmins, and CHRISTOS with the ancient Gnostics.

(5). Soul is used here for the Human Ego or Manas, that which is referred to in our Occult Septenary division as the "Human Soul" (Vide the Secret Doctrine) in contradistinction to the Spiritual and Animal Souls.

(6). Maha Maya "Great Illusion," the objective Universe.

(7). Sakkayaditthi "delusion" of personality.

(8). Attavada, the heresy of the belief in Soul or rather in the separateness of Soul or Self from the One Universal, infinite SELF.

(9). The Tatwagyanee is the "knower" or discriminator of the principles in nature and in man; and Atmagyanee is the knower of ATMAN or the Universal, ONE SELF.

(10). Kala Hamsa, the "Bird" or Swan (Vide No. 11). Says the Nada-Bindu Upanishad (Rig Veda) translated by the Kumbakonam Theos. Society -- "The syllable A is considered to be its (the bird Hamsa's) right wing, u, its left, M, its tail, and the Ardha-matra (half metre) is said to be its head."

(11). Eternity with the Orientals has quite another signification than it has with us. It stands generally for the 100 years or "age" of Brahma, the duration of a Kalpa or a period of 4,320,000,000 years.

(12). Says the same Nada-Bindu, "A Yogi who bestrides the Hamsa (thus contemplates on Aum) is not affected by Karmic influences or crores of sins."

(13). Give up the life of physical personality if you would live in spirit.

(14). The three states of consciousness, which are Jagrat, the waking; Swapna, the dreaming; and Sushupti, the deep sleeping state. These three Yogi conditions, lead to the fourth, or --

(15). The Turya, that beyond the dreamless state, the one above all, a state of high spiritual consciousness.

(16). Some Sanskrit mystics locate seven planes of being, the seven spiritual lokas or worlds within the body of Kala Hamsa, the Swan out of Time and Space, convertible into the Swan in Time, when it becomes Brahma instead of Brahma (neuter).

(17). The phenomenal World of Senses and of terrestrial consciousness -- only.

(18). The astral region, the Psychic World of supersensuous perceptions and of deceptive sights -- the world of Mediums. It is the great "Astral Serpent" of Eliphas Levi. No blossom plucked in those regions has ever yet been brought down on earth without its serpent coiled around the stem. It is the world of the Great Illusion.

(19). The region of the full Spiritual Consciousness beyond which there is no longer danger for him who has reached it.

(20). The Initiate who leads the disciple through the Knowledge given to him to his spiritual, or second, birth is called the Father guru or Master.

(21). Agnyana is ignorance or non-wisdom the opposite of "Knowledge" gnyana.

(22). Mara is in exoteric religions a demon, an Asura, but in esoteric philosophy it is personified temptation through men's vices, and translated literally means "that which kills" the Soul. It is represented as a King (of the Maras) with a crown in which shines a jewel of such lustre that it blinds those who look at it, this lustre referring of course to the fascination exercised by vice upon certain natures.

(23). [(23) second] The inner chamber of the Heart, called in Sanskrit Brahma poori. The "fiery power" is Kundalini.

(24). The "Power" and the "World-mother" are names given to Kundalini -- one of the mystic "Yogi powers." It is Buddhi considered as an active instead of a passive principle (which it is generally, when regarded only as the vehicle, or casket of the Supreme Spirit ATMA). It is an electro-spiritual force, a creative power which when aroused into action can as easily kill as it can create.

(25). Keshara or "sky-walker" or "goer." As explained in the 6th. Adhyaya of that king of mystic works the Dhyaneswari -- the body of the Yogi becomes as one formed of the wind; as "a cloud from which limbs have sprouted out," after which -- "he (the Yogi) beholds the things beyond the seas and stars; he hears the language of the Devas and comprehends it, and perceives what is passing in the mind of the ant."

(26). Vina is an Indian stringed instrument like a lute.

(27). The six principles; meaning when the lower personality is destroyed and the inner individuality is merged into and lost in the Seventh or Spirit.

(28). The disciple is one with Brahma or the ATMAN.

(29). The astral form produced by the Kamic principle, the Kama rupa or body of desire.

(30). Manasa rupa. The first refers to the astral or personal Self; the second to the individuality or the reincarnating Ego whose consciousness on our plane or the lower Manas -- has to be paralyzed.

(31). Kundalini is called the "Serpentine" or the annular power on account on its spiral-like working or progress in the body of the ascetic developing the power in himself. It is an electric fiery occult or Fohatic power, the great pristine force, which underlies all organic and inorganic matter.

(32). This "Path" is mentioned in all the Mystic Works. As Krishna says in the Dhyaneswari: "When this Path is beheld . . . whether one sets out to the bloom of the east or to the chambers of the west, without moving, O holder of the bow, is the travelling in this road. In this path, to whatever place one would go, that place one's own self becomes." "Thou art the Path" is said to the adept guru and by the latter to the disciple, after initiation. "I am the way and the Path" says another MASTER.

(33). Adeptship -- the "blossom of Bodhisattva."

(34). Tanha -- "the will to live," the fear of death and love for life, that force or energy which causes the rebirths.

(35). These mystic sounds or the melody heard by the ascetic at the beginning of his cycle of meditation called Anahad-shabd by the Yogis.

(36). This means that in the sixth stage of development which, in the occult system is Dharana, every sense as an individual faculty has to be "killed" (or paralyzed) on this plane, passing into and merging with the Seventh sense, the most spiritual.

(37). See number 3.

(38). Every stage of development in Raja Yoga is symbolised by a geometrical figure. This one is the sacred Triangle and precedes Dharana. The [triangle] is the sign of the high chelas, while another kind of triangle is that of high Initiates. It is the symbol "I" discoursed upon by Buddha and used by him as a symbol of the embodied form of Tathagata when released from the three methods of the Prajna. Once the preliminary and lower stages passed, the disciple sees no more the [triangle] but the -- the abbreviation of the --, the full Septenary. Its true form is not given here, as it is almost sure to be pounced upon by some charlatans and -- desecrated in its use for fraudulent purposes.

(39). The star that burns overhead is the "the star of initiation." The caste-mark of Saivas, or devotees of the sect of Siva, the great patron of all Yogins, is a black round spot, the symbol of the Sun now, perhaps, but that of the star of initiation, in Occultism, in days of old.

(40). The basis (upadhi)of the ever unreachable FLAME," so long as the ascetic is still in this life.

(41). Dhyana is the last stage before the final on this Earth unless one becomes a full MAHATMA. As said already in this state the Raj Yogi is yet spiritually conscious of Self, and the working of his higher principles. One step more, and he will be on the plane beyond the Seventh (or fourth according to some schools). These, after the practice of Pratyehara -- a preliminary training, in order to control one's mind and thoughts -- count Dhasena, Dhyana and Samadhi and embraces the three under the generic name of SANNYAMA.

(42). Samadhi is the state in which the ascetic loses the consciousness of every individuality including his own. He becomes -- the ALL.

(43). The "four modes of truth" are, in Northern Buddhism, Ku "suffering or misery"; Tu the assembling of temptations; Mu "their destructions" and Tau, the "path." The "five impediments" are the knowledge of misery, truth about human frailty, oppressive restraints, and the absolute necessity of separation from all the ties of passion and even of desires. The "Path of Salvation" -- is the last one.

(44). At the portal of the "assembling" the King of the Maras the Maha Mara stands trying to blind the candidate by the radiance of his "Jewel."

(45). This is the fourth "Path" out of the five paths of rebirth which lead and toss all human beings into perpetual states of sorrow and joy. These "paths" are but sub-divisions of the One, the Path followed by Karma.

The Voice of the Silence by H. P. Blavatsky

FRAGMENT II

THE TWO PATHS

101. AND now, O Teacher of Compassion, point thou the way to other men. Behold, all those who knocking for admission, await in ignorance and darkness, to see the gate of the Sweet Law flung open!

The voice of the Candidates:

102. Shalt not thou, Master of thine own Mercy, reveal the Doctrine of the Heart? (1) Shalt thou refuse to lead thy Servants unto the Path of Liberation?

Quoth the Teacher:

103. The Paths are two; the great Perfections three; six are the Virtues that transform the body into the Tree of Knowledge (2).

104.   Who shall approach them?

105.   Who shall first enter them?

106. Who shall first hear the doctrine of two Paths in one, the truth unveiled about the Secret Heart? (3) The Law which, shunning learning, teaches Wisdom, reveals a tale of woe.

107. Alas, alas, that all men should possess Alaya, be one with the great Soul, and that possessing it, Alaya should so little avail them!

108. Behold how like the moon, reflected in the tranquil waves, Alaya is reflected by the small and by the great, is mirrored in the tiniest atoms, yet fails to reach the heart of all. Alas, that so few men should profit by the gift, the priceless boon of learning truth, the right perception of existing things, the Knowledge of the non-existent!

Saith the pupil:

109.  O Teacher, what shall I do to reach to Wisdom?

110. O Wise one, what, to gain perfection?

111. Search for the Paths. But, O Lanoo, be of clean heart before thou startest on thy journey. Before thou takest thy first step learn to discern the real from the false, the ever-fleeting from the everlasting. Learn above all to separate Head-learning from Soul-Wisdom, the "Eye" from the "Heart" doctrine.

112. Yea, ignorance is like unto a closed and airless vessel; the soul a bird shut up within. It warbles not, nor can it stir a feather; but the songster mute and torpid sits, and of exhaustion dies.

113. But even ignorance is better than Head-learning with no Soul-wisdom to illuminate and guide it.

114. The seeds of Wisdom cannot sprout and grow in airless space. To live and reap experience the mind needs breadth and depth and points to draw it towards the Diamond Soul (4). Seek not those points in Maya's realm; but soar beyond illusions, search the eternal and the changeless SAT (5), mistrusting fancy's false suggestions.

115. For mind is like a mirror; it gathers dust while it reflects (6). It needs the gentle breezes of Soul-Wisdom to brush away the dust of our illusions. Seek O Beginner, to blend thy Mind and Soul.

116. Shun ignorance, and likewise shun illusion. Avert thy face from world deceptions; mistrust thy senses, they are false. But within thy body -- the shrine of thy sensations -- seek in the Impersonal for the "eternal man" (7); and having sought him out, look inward: thou art Buddha (8).

117. Shun praise, O Devotee. Praise leads to self-delusion. Thy body is not self, thy SELF is in itself without a body, and either praise or blame affects it not.

118. Self-gratulation, O disciple, is like unto a lofty tower, up which a haughty fool has climbed. Thereon he sits in prideful solitude and unperceived by any but himself.

119. False learning is rejected by the Wise, and scattered to the Winds by the good Law. Its wheel revolves for all, the humble and the proud. The "Doctrine of the Eye" (9) is for the crowd, the "Doctrine of the Heart," for the elect. The first repeat in pride: "Behold, I know," the last, they who in humbleness have garnered, low confess, "thus have I heard" (10).

120. "Great Sifter" is the name of the "Heart Doctrine," O disciple.

121. The wheel of the good Law moves swiftly on. It grinds by night and day. The worthless husks it drives from out the golden grain, the refuse from the flour. The hand of Karma guides the wheel; the revolutions mark the beatings of the Karmic heart.

122. True knowledge is the flour, false learning is the husk. If thou would'st eat the bread of Wisdom, thy flour thou hast to knead with Amrita's* [*Immortality.]

clear waters. But if thou kneadest husks with Maya's dew, thou canst create but food for the black doves of death, the birds of birth, decay and sorrow.

123. If thou art told that to become Arhan thou hast to cease to love all beings -- tell them they lie.

124. If thou art told that to gain liberation thou hast to hate thy mother and disregard thy son; to disavow thy father and call him "householder" (11); for man and beast all pity to renounce -- tell them their tongue is false.

125. Thus teach the Tirthikas, the unbelievers.* [*Brahman ascetics.]

126. If thou art taught that sin is born of action and bliss of absolute inaction, then tell them that they err. Non-permanence of human action; deliverance of mind from thraldom by the cessation of sin and faults, are not for "Deva Egos."* Thus saith the "Doctrine of the Heart."

[*The reincarnating Ego.]

127. The Dharma of the "Eye" is the embodiment of the external, and the non-existing.

128. The Dharma of the "Heart" is the embodiment of Bodhi,* the Permanent and Everlasting. [*True, divine Wisdom.]

129. The Lamp burns bright when wick and oil are clean. To make them clean a cleaner is required. The flame feels not the process of the cleaning. "The branches of a tree are shaken by the wind; the trunk remains unmoved."

130. Both action and inaction may find room in thee; thy body agitated, thy mind tranquil, thy Soul as limpid as a mountain lake.

131. Wouldst thou become a Yogi of "Time's Circle"? Then, O Lanoo: --

132. Believe thou not that sitting in dark forests, in proud seclusion and apart from men; believe thou not that life on roots and plants, that thirst assuaged with snow from the great Range -- believe thou not, O Devotee, that this will lead thee to the goal of final liberation.

133. Think not that breaking bone, that rending flesh and muscle, unites thee to thy "silent Self" (12). Think not, that when the sins of thy gross form are conquered, O Victim of thy Shadows (13), thy duty is accomplished by nature and by man.

134. The blessed ones have scorned to do so. The Lion of the Law, the Lord of Mercy,* perceiving the true cause of human woe, immediately forsook the sweet but selfish rest of quiet wilds. From Aranyaka (14) He became the Teacher of mankind. After Julai (15) had entered the Nirvana, He preached on mount and plain, and held discourses in the cities, to Devas, men and gods (16).

[*Buddha.]

135. Sow kindly acts and thou shalt reap their fruition. Inaction in a deed of mercy becomes an action in a deadly sin.

Thus saith the Sage.

136. Shalt thou abstain from action? Not so shall gain thy soul her freedom. To reach Nirvana one must reach Self-Knowledge, and Self-Knowledge is of loving deeds the child.

137. Have patience, Candidate, as one who fears no failure, courts no success. Fix thy Soul's gaze upon the star whose ray thou art (17), the flaming star that shines within the lightless depths of ever-being, the boundless fields of the Unknown.

138. Have perseverance as one who doth for evermore endure. Thy shadows live and vanish (18); that which in thee shall live for ever, that which in thee knows, for it is knowledge (19), is not of fleeing life: it is the man that was, that is, and will be, for whom the hour shall never strike.

139. If thou would'st reap sweet peace and rest, Disciple, sow with the seeds of merit the fields of future harvests. Accept the woes of birth.

140. Step out from sunlight into shade, to make more room for others. The tears that water the parched soil of pain and sorrow, bring forth the blossoms and the fruits of Karmic retribution. Out of the furnace of man's life and its black smoke, winged flames arise, flames purified, that soaring onward, 'neath the Karmic eye, weave in the end the fabric glorified of the three vestures of the Path (20).

141. These vestures are: Nirmanakaya, Sambhoga-Kaya, and Dharmakaya, robe Sublime. (21).

142. The Shangna robe (22), 'tis true, can purchase light eternal. The Shangna robe alone gives the Nirvana of destruction; it stops rebirth, but, O Lanoo, it also kills -- compassion. No longer can the perfect Buddhas, who don the Dharmakaya glory, help man's salvation. Alas! shall SELVES be sacrificed to Self; mankind, unto the weal of Units?

143. Know, O beginner, this is the Open PATH, the way to selfish bliss, shunned by the Boddhisattvas of the "Secret Heart," the Buddhas of Compassion.

144. To live to benefit mankind is the first step. To practise the six glorious virtues (23) is the second.

145. To don Nirmanakaya's humble robe is to forego eternal bliss for Self, to help on man's salvation. To reach Nirvana's bliss, but to renounce it, is the supreme, the final step -- the highest on Renunciation's Path.

146. Know, O Disciple, this is the Secret PATH, selected by the Buddhas of Perfection, who sacrificed The SELF to weaker Selves.

147. Yet, if the "Doctrine of the Heart" is too high-winged for thee. If thou need'st help thyself and fearest to offer help to others, -- then, thou of timid heart, be warned in time: remain content with the "Eye Doctrine" of the Law. Hope still. For if the "Secret Path" is unattainable this "day," it is within thy reach "to-morrow." (24). Learn that no efforts, not the smallest -- whether in right or wrong direction -- can vanish from the world of causes. E'en wasted smoke remains not traceless. "A harsh word uttered in past lives, is not destroyed but ever comes again."* The pepper plant will not give birth to roses, nor the sweet jessamine's silver star to thorn or thistle turn.

[*Precepts of the Prasanga School.]

148. Thou canst create this "day" thy chances for thy "morrow." In the "Great Journey," (25) causes sown each hour bear each its harvest of effects, for rigid Justice rules the World. With mighty sweep of never erring action, it brings to mortals lives of weal or woe, the Karmic progeny of all our former thoughts and deeds.

149. Take then as much as merit hath in store for thee, O thou of patient heart. Be of good cheer and rest content with fate. Such is thy Karma, the Karma of the cycle of thy births, the destiny of those, who, in their pain and sorrow, are born along with thee, rejoice and weep from life to life, chained to thy previous actions.

150. Act thou for them “to day”,  and they will act for thee "to morrow."

151. 'Tis from the bud of Renunciation of the Self, that springeth the sweet fruit of final Liberation.

152. To perish doomed is he, who out of fear of Mara refrains from helping man, lest he should act for Self. The pilgrim who would cool his weary limbs in running waters, yet dares not plunge for terror of the stream, risks to succumb from heat. Inaction based on selfish fear can bear but evil fruit.

153. The Selfish devotee lives to no purpose. The man who does not go through his appointed work in life -- has lived in vain.

154. Follow the wheel of life; follow the wheel of duty to race and kin, to friend and foe, and close thy mind to pleasures as to pain. Exhaust the law of Karmic retribution. Gain Siddhis for thy future birth.

155. If Sun thou can'st not be, then be the humble planet. Aye, if thou art debarred from flaming like the noon-day Sun upon the snow-capped mount of purity eternal, then choose, O Neophyte, a humbler course.

156. Point out the "Way" -- however dimly, and lost among the host -- as does the evening star to those who tread their path in darkness.

157. Behold Migmar,* as in his crimson veils his "Eye" sweeps over slumbering Earth. Behold the fiery aura of the "Hand" of Lhagpa** extended in protecting love over the heads of his ascetics. Both are now servants to Nyima*** (26) left in his absence silent watchers in the night. Yet both in Kalpas past were bright Nyimas, and may in future "Days" again become two Suns. Such are the falls and rises of the Karmic Law in nature.

[*Mars.] [**Mercury.]

[***The Sun.]

158. Be, O Lanoo, like them. Give light and comfort to the toiling pilgrim, and seek out him who knows still less than thou; who in his wretched desolation sits starving for the bread of Wisdom and the bread which feeds the shadow, without a Teacher, hope or consolation, and -- let him hear the Law.

159. Tell him, O Candidate, that he who makes of pride and self-regard bond-maidens to devotion; that he, who cleaving to existence, still lays his patience and submission to the Law, as a sweet flower at the feet of Shakya-Thub-pa,* becomes a Srotapatti (27) in this birth. The Siddhis of perfection may loom far, far away; but the first step is taken, the stream is entered, and he may gain the eye-sight of the mountain eagle, the hearing of the timid doe.[*Buddha.]

160. Tell him, O Aspirant, that true devotion may bring him back the knowledge, that knowledge which was his in former births. The deva-sight and deva-hearing are not obtained in one short birth.

161. Be humble, if thou would'st attain to Wisdom.

162. Be humbler still, when Wisdom thou hast mastered.

163. Be like the Ocean which receives all streams and rivers. The Ocean's mighty calm remains unmoved; it feels them not.

164. Restrain by thy Divine thy lower Self.

165. Restrain by the Eternal the Divine.

166. Aye, great is he, who is the slayer of desire.

167. Still greater he, in whom the Self Divine has slain the very knowledge of desire.

168. Guard thou the Lower lest it soil the Higher.

169. The way to final freedom is within thy SELF.

170. That way begins and ends outside of Self (28).

171. Unpraised by men and humble is the mother of all Rivers, in Tirthika's proud sight; empty the human form though filled with Amrita's sweet waters, in the sight of fools. Withal, the birth-place of the sacred rivers is the sacred land (29), and he who Wisdom hath, is honoured by all men.

172. Arhans and Sages of the boundless Vision (30) are rare as is the blossom of the Udumbara tree. Arhans are born at midnight hour, together with the sacred plant of nine and seven stalks (31), the holy flower that opes and blooms in darkness, out of the pure dew and on the frozen bed of snow-capped heights, heights that are trodden by no sinful foot.

173. No Arhan, O Lanoo, becomes one in that birth when for the first the Soul begins to long for final liberation. Yet, O thou anxious one, no warrior volunteering fight in the fierce strife between the living and the dead (32), not one recruit can ever be refused the right to enter on the Path that leads toward the field of Battle.

174. For, either he shall win, or he shall fall.

175. Yea, if he conquers, Nirvana shall be his. Before he casts his shadow off his mortal coil, that pregnant cause of anguish and illimitable pain -- in him will men a great and holy Buddha honour.

176. And if he falls, e'en then he does not fall in vain; the enemies he slew in the last battle will not return to life in the next birth that will be his.

177. But if thou would'st Nirvana reach, or cast the prize away (33), let not the fruit of action and inaction be thy motive, thou of dauntless heart.

178. Know that the Bodhisattva who liberation changes for Renunciation to don the miseries of "Secret Life," (34) is called, "thrice Honoured," O thou candidate for woe throughout the cycles.

179. The PATH is one, Disciple, yet in the end, twofold. Marked are its stages by four and seven Portals. At one end -- bliss immediate, and at the other -- bliss deferred. Both are of merit the reward: the choice is thine.

180. The One becomes the two, the Open and the Secret (35). The first one leadeth to the goal, the second, to Self-Immolation.

181. When to the Permanent is sacrificed the Mutable, the prize is thine: the drop returneth whence it came. The Open PATH leads to the changeless change -- Nirvana, the glorious state of Absoluteness, the Bliss past human thought.

182. Thus, the first Path is LIBERATION.

183. But Path the Second is -- RENUNCIATION, and therefore called the "Path of Woe."

184. That Secret Path leads the Arhan to mental woe unspeakable; woe for the living Dead (36), and helpless pity for the men of Karmic sorrow, the fruit of Karma Sages dare not still.

185. For it is written: "teach to eschew all causes; the ripple of effect, as the great tidal wave, thou shalt let run its course."

186. The "Open Way," no sooner hast thou reached its goal, will lead thee to reject the Bodhisattvic body and make thee enter the thrice glorious state of Dharmakaya (37) which is oblivion of the World and men for ever.

187. The "Secret Way" leads also to Paranirvanic bliss -- but at the close of Kalpas without number; Nirvanas gained and lost from boundless pity and compassion for the world of deluded mortals.

188. But it is said "The last shall be the greatest," Samyak Sambuddha, the Teacher of Perfection, gave up his SELF for the salvation of the World, by stopping at the threshold of Nirvana -- the pure state. 

 

189. Thou hast the knowledge now concerning the two Ways. Thy time will come for choice, O thou of eager Soul, when thou hast reached the end and passed the seven Portals. Thy mind is clear. No more art thou entangled in delusive thoughts, for thou hast learned all. Unveiled stands truth and looks thee sternly in the face. She says:

190. "Sweet are the fruits of Rest and Liberation for the sake of Self; but sweeter still the fruits of long and bitter duty. Aye, Renunciation for the sake of others, of suffering fellow men."

191. He, who becomes Pratyeka-Buddha (38), makes his obeisance but to his Self. The Bodhisattva who has won the battle, who holds the prize within his palm, yet says in his divine compassion:

192. "For others' sake this great reward I yield" -- accomplishes the greater Renunciation.

193. A SAVIOUR OF THE WORLD is he. 

194. Behold! The goal of bliss and the long Path of Woe are at the furthest end. Thou canst choose either, O aspirant to Sorrow, throughout the coming cycles! . . . .

195. OM VAJRAPANI HUM.

 

 

 

GLOSSARY TO PART II

The Two Paths

(1). The two schools of Buddha's doctrine, the esoteric and the exoteric, are respectively called the "Heart" and the "Eye" Doctrine. Bodhidharma called them in China -- from whence the names reached Tibet -- the Tsung-men (esoteric) and Kiau-men (exoteric school). It is so named, because it is the teaching which emanated from Gautama Buddha's heart, whereas the "Eye" Doctrine was the work of his head or brain. The "Heart Doctrine" is also called "the seal of truth" or the "true seal," a symbol found on the heading of almost all esoteric works.

(2). The "tree of knowledge" is a title given by the followers of the Bodhidharma (Wisdom religion) to those who have attained the height of mystic knowledge -- adepts. Nagarjuna the founder of the Madhyamika School was called the "Dragon Tree," Dragon standing as a symbol of Wisdom and Knowledge. The tree is honoured because it is under the Bodhi (wisdom) Tree that Buddha received his birth and enlightenment, preached his first sermon and died.

(3). "Secret Heart" is the esoteric doctrine.

(4). "Diamond Soul" "Vajrasattva," a title of the supreme Buddha, the "Lord of all Mysteries," called Vajradhara and Adi-Buddha.

(5). SAT, the one eternal and Absolute Reality and Truth, all the rest being illusion.

(6). From Shin-Sien's Doctrine, who teaches that the human mind is like a mirror which attracts and reflects every atom of dust, and has to be, like that mirror, watched over and dusted every day. Shin-Sien was the sixth Patriarch of North China who taught the esoteric doctrine of Bodhidharma.

(7). The reincarnating EGO is called by the Northern Buddhists the "true man," who becomes in union with his Higher-Self -- a Buddha.

(8). "Buddha" means "Enlightened."

(9). See No. 1. The exoteric Buddhism of the masses.

(10). The usual formula that precedes the Buddhist Scriptures, meaning, that that which follows is what has been recorded by direct oral tradition from Buddha and the Arhats.

(11). Rathapala the great Arhat thus addresses his father in the legend called Rathapala Sutrasanne. But as all such legends are allegorical (e.g. Rathapala's father has a mansion with seven doors)hence the reproof, to those who accept them literally.

(12). The "Higher Self" the "seventh" principle.

(13). Our physical bodies are called "Shadows" in the mystic schools.

(14). A hermit who retires to the jungles and lives in a forest, when becoming a Yogi.

(15). Julai the Chinese name for Tathagata, a title applied to every Buddha.

(16). All the Northern and Southern traditions agree in showing Buddha quitting his solitude as soon as he had resolved the problem of life -- i. e., received the inner enlightenment -- and teaching mankind publicly.

(17). Every spiritual EGO is a ray of a "Planetary Spirit" according to esoteric teaching.

(18). "Personalities" or physical bodies called "shadows" are evanescent.

(19). Mind (Manas)the thinking Principle or EGO in man, is referred to "Knowledge" itself, because the human Egos are called Manasa-putras the sons of (universal) Mind.

(20). Vide Part III. Glossary, paragraph 34 et seq.

(21). Ibid.

(22). The Shangna robe, from Shangnavesu of Rajagriha the third great Arhat or "Patriarch" as the Orientalists call the hierarchy of the 33 Arhats who spread Buddhism. "Shangna robe" means metaphorically, the acquirement of Wisdom with which the Nirvana of destruction (of personality) is entered. Literally, the "initiation robe" of the Neophytes. Edkins states that this "grass cloth" was brought to China from Tibet in the Tong Dynasty. "When an Arhan is born this plant is found growing in a clean spot" says the Chinese as also the Tibetan legend.

(23). To "practise the Paramita Path" means to become a Yogi with a view of becoming an ascetic.

(24). "To-morrow" means the following rebirth or reincarnation.

(25). "Great journey" or the whole complete cycle of existences, in one "Round."

(26). Nyima, the Sun in Tibetan Astrology. Migmar or Mars is symbolized by an "Eye," and Shagpa or Mercury by a "Hand."

(27). Strotapatti or "he who enters in the stream" of Nirvana, unless he reaches the goal owing to some exceptional reasons, can rarely attain Nirvana in one birth. Usually a Chela is said to begin the ascending effort in one life and end or reach it only in his seventh succeeding birth.

(28). Meaning the personal lower "Self."

(29). Tirthikas are the Brahmanical Sectarians "beyond" the Himalayas called "infidels" by the Buddhists in the sacred land, Tibet, and vice versa.

(30). Boundless Vision or psychic, superhuman sight. An Arhan is credited with "seeing" and knowing all at a distance as well as on the spot.

(31). Vide supra 22: Shangna plant.

(32). The "living" is the immortal Higher Ego, and the "dead" -- the lower personal Ego.

(33). Vide infra Part III. par. 34.

(34). The "Secret Life" is life as a Nirmanakaya.

(35). The "Open" and the "Secret Path" -- or the one taught to the layman, the exoteric and the generally accepted, and the other the Secret Path -- the nature of which is explained at initiation.

(36). Men ignorant of the Esoteric truths and Wisdom are called "the living Dead."

(37). Vide infra, Part III. 34.

(38). Pratyeka Buddhas are those Bodhisattvas who strive after and often reach the Dharmakaya robe after a series of lives. Caring nothing for the woes of mankind or to help it, but only for their own bliss, they enter Nirvana and -- disappear from the sight and the hearts of men. In Northern Buddhism a "Pratyeka Buddha" is a synonym of spiritual Selfishness.

The Voice of the Silence by H. P. Blavatsky

FRAGMENT III

THE SEVEN PORTALS

196. "UPADYA (1), the choice is made, I thirst for Wisdom. Now hast thou rent the veil before the secret Path and taught the greater Yana (2). Thy servant here is ready for thy guidance."

197. 'Tis well, Sravaka (3). Prepare thyself, for thou wilt have to travel on alone. The Teacher can but point the way. The Path is one for all, the means to reach the goal must vary with the Pilgrims.

198. Which wilt thou choose, O thou of dauntless heart? The Samtan (4) of "eye Doctrine," four-fold Dhyana, or thread thy way through Paramitas (5), six in number, noble gates of virtue leading to Bodhi and to Prajna, seventh step of Wisdom?

199. The rugged Path of four-fold Dhyana winds on uphill. Thrice great is he who climbs the lofty top.

200. The Paramita heights are crossed by a still steeper path. Thou hast to fight thy way through portals seven, seven strongholds held by cruel crafty Powers -- passions incarnate.

201. Be of good cheer, Disciple; bear in mind the golden rule. Once thou hast passed the gate Srotapatti (6), "he who the stream hath entered"; once thy foot hath pressed the bed of the Nirvanic stream in this or any future life, thou hast but seven other births before thee, O thou of adamantine Will.

202. Look on. What see'st thou before thine eye, O aspirant to god-like Wisdom?

203. "The cloak of darkness is upon the deep of matter; within its folds I struggle. Beneath my gaze it deepens, Lord; it is dispelled beneath the waving of thy hand. A shadow moveth, creeping like the stretching serpent coils. . . . It grows, swells out and disappears in darkness."

204. It is the shadow of thyself outside the Path, cast on the darkness of thy sins.

205. "Yea, Lord; I see the PATH; its foot in mire, its summits lost in glorious light Nirvanic. And now I see the ever narrowing Portals on the hard and thorny way to Gnyana."*

[*Knowledge, Wisdom.]

206. Thou seest well, Lanoo. These Portals lead the aspirant across the waters on "to the other shore" (7). Each Portal hath a golden key that openeth its gate; and these keys are: --

207. 1. DANA, the key of charity and love immortal.

208. 2. SHILA, the key of Harmony in word and act, the key that counterbalances the cause and the effect, and leaves no further room for Karmic action.

209. 3. KSHANTI, patience sweet, that nought can ruffle.

210. 4. VIRAG, indifference to pleasure and to pain, illusion conquered, truth alone perceived.

211. 5. VIRYA, the dauntless energy that fights its way to the supernal TRUTH, out of the mire of lies terrestrial.

212. 6. DHYANA, whose golden gate once opened leads the Narjol* toward the realm of Sat eternal and its ceaseless contemplation. [*A saint, an adept.]

213. 7. PRAJNA, the key to which makes of a man a god, creating him a Bodhisattva, son of the Dhyanis.

214 . Such to the Portals are the golden keys.

215. Before thou canst approach the last, O weaver of thy freedom, thou hast to master these Paramitas of perfection -- the virtues transcendental six and ten in number -- along the weary Path.

216. For, O Disciple! Before thou wert made fit to meet thy Teacher face to face, thy MASTER light to light, what wert thou told?

217. Before thou canst approach the foremost gate thou hast to learn to part thy body from thy mind, to dissipate the shadow, and to live in the eternal. For this, thou hast to live and breathe in all, as all that thou perceivest breathes in thee; to feel thyself abiding in all things, all things in SELF.

218. Thou shalt not let thy senses make a playground of thy mind.

219. Thou shalt not separate thy being from BEING, and the rest, but merge the Ocean in the drop, the drop within the Ocean.

220. So shalt thou be in full accord with all that lives; bear love to men as though they were thy brother-pupils, disciples of one Teacher, the sons of one sweet mother.

221. Of teachers there are many; the MASTER-SOUL is one (8) Alaya, the Universal Soul. Live in that MASTER as ITS ray in thee. Live in thy fellows as they live in ITS.

222. Before thou standest on the threshold of the Path; before thou crossest the foremost Gate, thou hast to merge the two into the One and sacrifice the personal to SELF impersonal, and thus destroy the "path" between the two -- Antaskarana (9).

223. Thou hast to be prepared to answer Dharma, the stern law, whose voice will ask thee at thy first, at thy initial step:

224. "Hast thou complied with all the rules, O thou of lofty hopes?"

225. "Hast thou attuned thy heart and mind to the great mind and heart of all mankind? For as the sacred River's roaring voice whereby all Nature-sounds are echoed back (10), so must the heart of him 'who in the stream would enter,' thrill in response to every sigh and thought of all that lives and breathes."

226. Disciples may be likened to the strings of the soul-echoing Vina; mankind, unto its sounding board; the hand that sweeps it to the tuneful breath of the GREAT WORLD-SOUL. The string that fails to answer 'neath the Master's touch in dulcet harmony with all the others, breaks -- and is cast away. So the collective minds of Lanoo-Sravakas. They have to be attuned to the Upadya's mind -- one with the Over-Soul -- or, break away.

227. Thus do the "Brothers of the Shadow" -- the murderers of their Souls, the dread Dad-Dugpa clan (11).

228. Hast thou attuned thy being to Humanity's great pain, O candidate for light?

229. Thou hast? . . . Thou mayest enter. Yet, ere thou settest foot upon the dreary Path of sorrow, 'tis well thou should'st first learn the pitfalls on thy way.

230. Armed with the key of Charity, of love and tender mercy, thou art secure before the gate of Dana, the gate that standeth at the entrance of the PATH.

. . . . . .

231. Behold, O happy Pilgrim! The portal that faceth thee is high and wide, seems easy of access. The road that leads therethrough is straight and smooth and green. 'Tis like a sunny glade in the dark forest depths, a spot on earth mirrored from Amitabha's paradise. There, nightingales of hope and birds of radiant plumage sing perched in green bowers, chanting success to fearless Pilgrims. They sing of Bodhisattvas' virtues five, the fivefold source of Bodhi power, and of the seven steps in Knowledge.

232. Pass on! For thou hast brought the key; thou art secure.

233. And to the second gate the way is verdant too. But it is steep and winds up hill; yea, to its rocky top. Grey mists will over-hang its rough and stony height, and all be dark beyond. As on he goes, the song of hope soundeth more feeble in the pilgrim's heart. The thrill of doubt is now upon him; his step less steady grows.

234. Beware of this, O candidate! Beware of fear that spreadeth, like the black and soundless wings of midnight bat, between the moonlight of thy Soul and thy great goal that loometh in the distance far away.

235. Fear, O disciple, kills the will and stays all action. If lacking in the Shila virtue, -- the pilgrim trips, and Karmic pebbles bruise his feet along the rocky path.

236. Be of sure foot, O candidate. In Kshanti's* essence bathe thy Soul; for now thou dost approach the portal of that name, the gate of fortitude and patience. [*Kshanti, "patience," vide supra the enumeration of the golden keys.]

237. Close not thine eyes, nor lose thy sight of Dorje (12); Mara's arrows ever smite the man who has not reached Viraga* (13). [*Ibid.]

238. Beware of trembling. 'Neath the breath of fear the key of Kshanti rusty grows: the rusty key refuseth to unlock.

239. The more thou dost advance, the more thy feet pitfalls will meet. The path that leadeth on, is lighted by one fire -- the light of daring, burning in the heart. The more one dares, the more he shall obtain. The more he fears, the more that light shall pale -- and that alone can guide. For as the lingering sunbeam, that on the top of some tall mountain shines, is followed by black night when out it fades, so is heart-light. When out it goes, a dark and threatening shade will fall from thine own heart upon the path, and root thy feet in terror to the spot.

240. Beware, disciple, of that lethal shade. No light that shines from Spirit can dispel the darkness of the nether Soul, unless all selfish thought has fled therefrom, and that the pilgrim saith: "I have renounced this passing frame; I have destroyed the cause: the shadows cast can, as effects, no longer be."

For now the last great fight, the final war between the Higher and the Lower Self, hath taken place. Behold, the very battlefield is now engulphed in the great war, and is no more.

241. But once that thou hast passed the gate of Kshanti, step the third is taken. Thy body is thy slave. Now, for the fourth prepare, the Portal of temptations which do ensnare the inner man.

242. Ere thou canst near that goal, before thine hand is lifted to upraise the fourth gate's latch, thou must have mustered all the mental changes in thy Self and slain the army of the thought sensations that, subtle and insidious, creep unasked within the Soul's bright shrine.

243. If thou would'st not be slain by them, then must thou harmless make thy own creations, the children of thy thoughts, unseen, impalpable, that swarm round humankind, the progeny and heirs to man and his terrestrial spoils. Thou hast to study the voidness of the seeming full, the fulness of the seeming void. O fearless Aspirant, look deep within the well of thine own heart, and answer. Knowest thou of Self the powers, O thou perceiver of external shadows?

244. If thou dost not -- then art thou lost.

245. For, on Path fourth, the lightest breeze of passion or desire will stir the steady light upon the pure white walls of Soul. The smallest wave of longing or regret for Maya's gifts illusive, along Antaskarana -- the path that lies between thy Spirit and thy self, the highway of sensations, the rude arousers of Ahankara (14) -- a thought as fleeting as the lightning flash will make thee thy three prizes forfeit -- the prizes thou hast won.

246. For know, that the ETERNAL knows no change.

"The eight dire miseries forsake for evermore. If not, to wisdom, sure, thou can'st not come, nor yet to liberation," saith the great Lord, the Tathagata of perfection, "he who has followed in the footsteps of his predecessors." (15).

248. Stern and exacting is the virtue of Viraga. If thou its path would'st master, thou must keep thy mind and thy perceptions far freer than before from killing action.

249. Thou hast to saturate thyself with pure Alaya, become as one with Nature's Soul-Thought. At one with it thou art invincible; in separation, thou becomest the playground of Samvriti (16), origin of all the world's delusions.

250. All is impermanent in man except the pure bright essence of Alaya. Man is its crystal ray; a beam of light immaculate within, a form of clay material upon the lower surface. That beam is thy life-guide and thy true Self, the Watcher and the silent Thinker, the victim of thy lower Self. Thy Soul cannot be hurt but through thy erring body; control and master both, and thou art safe when crossing to the nearing "Gate of Balance."

251. Be of good cheer, O daring pilgrim "to the other shore." Heed not the whisperings of Mara's hosts; wave off the tempters, those ill-natured Sprites, the jealous Lhamayin (17) in endless space.

252. Hold firm! Thou nearest now the middle portal, the gate of Woe, with its ten thousand snares.

253. Have mastery o'er thy thoughts, O striver for perfection, if thou would'st cross its threshold.

254. Have mastery o'er thy Soul, O seeker after truths undying, if thou would'st reach the goal.

255. Thy Soul-gaze centre on the One Pure Light, the Light that is free from affection, and use thy golden Key. . .

. . . . . . . . . . .

256. The dreary task is done, thy labour well-nigh o'er. The wide abyss that gaped to swallow thee is almost spanned. . 

257. Thou hast now crossed the moat that circles round the gate of human passions. Thou hast now conquered Mara and his furious host.

258. Thou hast removed pollution from thine heart and bled it from impure desire. But, O thou glorious combatant, thy task is not yet done. Build high, Lanoo, the wall that shall hedge in the Holy Isle,* the dam that will protect thy mind from pride and satisfaction at thoughts of the great feat achieved.[*The Higher Ego, or Thinking Self.]

259. A sense of pride would mar the work. Aye, build it strong, lest the fierce rush of battling waves, that mount and beat its shore from out the great World Maya's Ocean, swallow up the pilgrim and the isle -- yea, even when the victory's achieved.

260. Thine "Isle" is the deer, thy thoughts the hounds that weary and pursue his progress to the stream of Life. Woe to the deer that is o'ertaken by the barking fiends before he reach the Vale of Refuge -- Dnyan Marga, "path of pure knowledge" named.

261. Ere thou canst settle in Dnyan Marga (18) and call it thine, thy Soul has to become as the ripe mango fruit: as soft and sweet as its bright golden pulp for others' woes, as hard as that fruit's stone for thine own throes and sorrows, O Conqueror of Weal and Woe.

262. Make hard thy Soul against the snares of Self; deserve for it the name of "Diamond-Soul." (19).

263. For, as the diamond buried deep within the throbbing heart of earth can never mirror back the earthly lights; so are thy mind and Soul; plunged in Dnyan Marga, these must mirror nought of Maya's realm illusive.

264. When thou hast reached that state, the Portals that thou hast to conquer on the Path fling open wide their gates to let thee pass, and Nature's strongest mights possess no power to stay thy course. Thou wilt be master of the sevenfold Path: but not till then, O candidate for trials passing speech.

265. Till then, a task far harder still awaits thee: thou hast to feel thyself ALL-THOUGHT, and yet exile all thoughts from out thy Soul.

266. Thou hast to reach that fixity of mind in which no breeze, however strong, can waft an earthly thought within. Thus purified, the shrine must of all action, sound, or earthly light be void; e'en as the butterfly, o'ertaken by the frost, falls lifeless at the threshold -- so must all earthly thoughts fall dead before the fane.

267.  Behold it written:

"Ere the gold flame can burn with steady light, the lamp must stand well guarded in a spot free from all wind."* Exposed to shifting breeze, the jet will flicker and the quivering flame cast shades deceptive, dark and ever-changing, on the Soul's white shrine.

[*Bhagavatgita.]

268. And then, O thou pursuer of the truth, thy Mind-Soul will become as a mad elephant, that rages in the jungle. Mistaking forest trees for living foes, he perishes in his attempts to kill the ever-shifting shadows dancing on the wall of sunlit rocks.

269. Beware, lest in the care of Self thy Soul should lose her foothold on the soil of Deva-knowledge.

270. Beware, lest in forgetting SELF, thy Soul lose o'er its trembling mind control, and forfeit thus the due fruition of its conquests.

271. Beware of change! For change is thy great foe. This change will fight thee off, and throw thee back, out of the Path thou treadest, deep into viscous swamps of doubt.

272. Prepare, and be forewarned in time. If thou hast tried and failed, O dauntless fighter, yet lose not courage: fight on and to the charge return again, and yet again.

273. The fearless warrior, his precious life-blood oozing from his wide and gaping wounds, will still attack the foe, drive him from out his stronghold, vanquish him, ere he himself expires. Act then, all ye who fail and suffer, act like him; and from the stronghold of your Soul, chase all your foes away -- ambition, anger, hatred, e'en to the shadow of desire -- when even you have failed. . .

274. Remember, thou that fightest for man's liberation (20), each failure is success, and each sincere attempt wins its reward in time. The holy germs that sprout and grow unseen in the disciple's soul, their stalks wax strong at each new trial, they bend like reeds but never break, nor can they e'er be lost. But when the hour has struck they blossom forth (21). . . 

275. But if thou cam'st prepare, then have no fear. 

276. Henceforth thy way is clear right through the Virya gate, the fifth one of the Seven Portals. Thou art now on the way that leadeth to the Dhyana haven, the sixth, the Bodhi Portal.

277. The Dhyana gate is like an alabaster vase, white and transparent; within there burns a steady golden fire, the flame of Prajna that radiates from Atman.

278. Thou art that vase.

279. Thou hast estranged thyself from objects of the senses, travelled on the "Path of seeing," on the "Path of hearing," and standest in the light of Knowledge. Thou hast now reached Titiksha state (22).

280. O Narjol thou art safe. 

Know, Conqueror of Sins, once that a Sowanee (23) hath cross'd the seventh Path, all Nature thrills with joyous awe and feels subdued. The silver star now twinkles out the news to the night-blossoms, the streamlet to the pebbles ripples out the tale; dark ocean-waves will roar it to the rocks surf-bound, scent-laden breezes sing it to the vales, and stately pines mysteriously whisper: "A Master has arisen, a MASTER OF THE DAY" (24).

He standeth now like a white pillar to the west, upon whose face the rising Sun of thought eternal poureth forth its first most glorious waves. His mind, like a becalmed and boundless ocean, spreadeth out in shoreless space. He holdeth life and death in his strong hand.

Yea, He is mighty. The living power made free in him, that power which is HIMSELF, can raise the tabernacle of illusion high above the gods, above great Brahm and Indra. Now he shall surely reach his great reward!

Shall he not use the gifts which it confers for his own rest and bliss, his well-earn'd weal and glory -- he, the subduer of the great Delusion?

Nay, O thou candidate for Nature's hidden lore! If one would follow in the steps of holy Tathagata, those gifts and powers are not for Self.

Would'st thou thus dam the waters born on Sumeru? (25) Shalt thou divert the stream for thine own sake, or send it back to its prime source along the crests of cycles?

If thou would'st have that stream of hard-earn'd knowledge, of Wisdom heaven-born, remain sweet running waters, thou should'st not leave it to become a stagnant pond.

Know, if of Amitabha, the "Boundless Age," thou would'st become co-worker, then must thou shed the light acquired, like to the Bodhisattvas twain (26), upon the span of all three worlds (27).

Know that the stream of superhuman knowledge and the Deva-Wisdom thou hast won, must, from thyself, the channel of Alaya, be poured forth into another bed.

Know, O Narjol, thou of the Secret Path, its pure fresh waters must be used to sweeter make the Ocean's bitter waves -- that mighty sea of sorrow formed of the tears of men.

Alas! when once thou hast become like the fix'd star in highest heaven, that bright celestial orb must shine from out the spatial depths for all -- save for itself; give light to all, but take from none.

Alas! when once thou hast become like the pure snow in mountain vales, cold and unfeeling to the touch, warm and protective to the seed that sleepeth deep beneath its bosom -- 'tis now that snow which must receive the biting frost, the northern blasts, thus shielding from their sharp and cruel tooth the earth that holds the promised harvest, the harvest that will feed the hungry.

Self-doomed to live through future Kalpas,* unthanked and unperceived by man; wedged as a stone with countless other stones which form the "Guardian Wall" (28), such is thy future if the seventh gate thou passest. Built by the hands of many Masters of Compassion, raised by their tortures, by their blood cemented, it shields mankind, since man is man, protecting it from further and far greater misery and sorrow.

[*Cycles of ages.]

Withal man sees it not, will not perceive it, nor will he heed the word of Wisdom . . . for he knows it not.

But thou hast heard it, thou knowest all, O thou of eager guileless Soul. . . . . and thou must choose. Then hearken yet again.

On Sowan's Path, O Srotapatti,* thou art secure. Aye, on that Marga,** where nought but darkness meets the weary pilgrim, where torn by thorns the hands drip blood, the feet are cut by sharp unyielding flints, and Mara wields his strongest arms -- there lies a great reward immediately beyond.

[*Sowan and Srotapatti are synonymous terms.]

[**Marga -- "Path." ]

Calm and unmoved the Pilgrim glideth up the stream that to Nirvana leads. He knoweth that the more his feet will bleed, the whiter will himself be washed. He knoweth well that after seven short and fleeting births Nirvana will be his. . . .

Such is the Dhyana Path, the haven of the Yogi, the blessed goal that Srotapattis crave.

Not so when he hath crossed and won the Aryahata Path.*

[*From the Sanscrit Arhat or Arhan.]

There Klesha (29) is destroyed for ever, Tanha's (30) roots torn out. But stay, Disciple . . . Yet, one word. Canst thou destroy divine COMPASSION? Compassion is no attribute. It is the LAW of LAWS -- eternal Harmony, Alaya's SELF; a shoreless universal essence, the light of everlasting Right, an fitness of all things, the law of love eternal.

The more thou dost become at one with it, thy being melted in its BEING, the more thy Soul unites with that which IS, the more thou wilt become COMPASSION ABSOLUTE (31).

Such is the Arya Path, Path of the Buddhas of perfection.

Withal, what mean the sacred scrolls which make thee say?

"Om! I believe it is not all the Arhats that get of the Nirvanic Path the sweet fruition."

"Om! I believe that the Nirvana-Dharma is entered not by all the Buddhas"* (32).

[*Thegpa Chenpoido, "Mahayana Sutra," Invocations to the Buddhas of Confession," Part I., iv.]

"Yea; on the Arya Path thou art no more Srotapatti, thou art a Bodhisattva (33). The stream is cross'd. 'Tis true thou hast a right to Dharmakaya vesture; but Sambogakaya is greater than a Nirvanee, and greater still is a Nirmanakaya -- the Buddha of Compassion (34).

Now bend thy head and listen well, O Bodhisattva -- Compassion speaks and saith: "Can there be bliss when all that lives must suffer? Shalt thou be saved and hear the whole world cry?"

Now thou hast heard that which was said.

Thou shalt attain the seventh step and cross the gate of final knowledge but only to wed woe -- if thou would'st be Tathagata, follow upon thy predecessor's steps, remain unselfish till the endless end.

Thou art enlightened -- Choose thy way.

. . . . . .

Behold, the mellow light that floods the Eastern sky. In signs of praise both heaven and earth unite. And from the four-fold manifested Powers a chant of love ariseth, both from the flaming Fire and flowing Water, and from sweet-smelling Earth and rushing Wind.

Hark! . . . from the deep unfathomable vortex of that golden light in which the Victor bathes, ALL NATURE'S wordless voice in thousand tones ariseth to proclaim:

JOY UNTO YE, O MEN OF MYALBA (35).

A PILGRIM HATH RETURNED BACK "FROM THE OTHER SHORE."

A NEW ARHAN (36) IS BORN. . . .

Peace to all beings (37).

 

Table of Contents

 

GLOSSARY TO PART III

The Seven Portals

(1). Upadya is a spiritual preceptor, a Guru. The Northern Buddhists choose these generally among the "Narjol," saintly men, learned in gotrabhu-gnyana and gnyana-dassana-suddhi teachers of the Secret Wisdom.

(2). Yana -- vehicle: thus Mahayana is the "Great Vehicle," and Hinayana, the "Lesser Vehicle," the names for two schools of religious and philosophical learning in Northern Buddhism.

(3). Sravaka -- a listener, or student who attends to the religious instructions. From the root "Sru." When from theory they go into practice or performance of asceticism, they become Sramanas, "exercisers," from Srama, action. As Hardy shows, the two appellations answer to the words akoustikoi and asketai of the Greeks.

(4). Samtan (Tibetan), the same as the Sanskrit Dhyana, or the state of meditation, of which there are four degrees.

(5). Paramitas, the six transcendental virtues; for the priests there are ten.

(6). Srotapatti -- (lit.) "he who has entered the stream" that leads to the Nirvanic ocean. This name indicates the first Path. The name of the second is the Path of Sakridagamin, "he who will receive birth (only) once more." The third is called Anagamin, "he who will be reincarnated no more," unless he so desires in order to help mankind. The fourth Path is known as that of Rahat or Arhat. This is the highest. An Arhat sees Nirvana during his life. For him it is no post-mortem state, but Samadhi, during which he experiences all Nirvanic bliss.*

[*How little one can rely upon the Orientalists for the exact words and meaning, is instanced in the case of three "alleged" authorities. Thus the four names just explained are given by R. Spence Hardy as: 1. Sowan; 2. Sakradagami; 3. Anagami, and 4. Arya. By the Rev. J. Edkins they are given as: 1. Srotapanna; 2. Sagardagam; 3. Anaganim, and 4. Arhan. Schlagintweit again spells them differently, each, moreover, giving another and a new variation in the meaning of the terms.]

(7). "Arrival at the shore" is with the Northern Buddhists synonymous with reaching Nirvana through the exercise of the six and the ten Paramitas (virtues).

(8). The "MASTER-SOUL" is Alaya, the Universal Soul or Atman, each man having a ray of it in him and being supposed to be able to identify himself with and to merge himself into it.

(9). Antaskarana is the lower Manas, the Path of communication or communion between the personality and the higher Manas or human Soul. At death it is destroyed as a Path or medium of communication, and its remains survive in a form as the Kamarupa -- the "shell."

(10). The Northern Buddhists, and all Chinamen, in fact, find in the deep roar of some of the great and sacred rivers the key-note of Nature. Hence the simile. It is a well-known fact in Physical Science, as well as in Occultism, that the aggregate sound of Nature-such as heard in the roar of great rivers, the noise produced by the waving tops of trees in large forests, or that of a city heard at a distance -- is a definite single tone of quite an appreciable pitch. This is shown by physicists and musicians. Thus Prof. Rice (Chinese Music) shows that the Chinese recognized the fact thousands of years ago by saying that "the waters of the Hoang-ho rushing by, intoned the kung" called "the great tone" in Chinese music; and he shows this tone corresponding with the F, "considered by modern physicists to be the actual tonic of Nature." Professor B. Silliman mentions it, too, in his Principles of Physics, saying that "this tone is held to be the middle F of the piano; which may, therefore, be considered the key-note of Nature."

(11). The Bhons or Dugpas, the sect of the "Red Caps," are regarded as the most versed in sorcery. They inhabit Western and little Tibet and Bhutan. They are all Tantrikas. It is quite ridiculous to find Orientalists who have visited the borderlands of Tibet, such as Schlagintweit and others, confusing the rites and disgusting practices of these with the religious beliefs of the Eastern Lamas, the "Yellow Caps," and their Narjols or holy men. The following is an instance.

(12). Dorje is the Sanskrit Vajra, a weapon or instrument in the hands of some gods (the Tibetan Dragshed, the Devas who protect men), and is regarded as having the same occult power of repelling evil influences by purifying the air as Ozone in chemistry. It is also a Mudra a gesture and posture used in sitting for meditation. It is, in short, a symbol of power over invisible evil influences, whether as a posture or a talisman. The Bhons or Dugpas, however, having appropriated the symbol, misuse it for purposes of Black Magic. With the "Yellow Caps," or Gelugpas, it is a symbol of power, as the Cross is with the Christians, while it is in no way more "superstitious." With the Dugpas, it is like the double triangle reversed, the sign of sorcery.

(13). Viraga is that feeling of absolute indifference to the objective universe, to pleasure and to pain. "Disgust" does not express its meaning, yet it is akin to it.

(14). Ahankara -- the "I" or feeling of one's personality, the "I-am-ness."

(15). "One who walks in the steps of his predecessors" or "those who came before him," is the true meaning of the name Tathagata.

(16). Samvriti is that one of the two truths which demonstrates the illusive character or emptiness of all things. It is relative truth in this case. The Mahayana school teaches the difference between these two truths -- Paramarthasatya and Samvritisatya (Satya "truth"). This is the bone of contention between the Madhyamikas and the Yogacharyas, the former denying and the latter affirming that every object exists owing to a previous cause or by a concatenation. The Madhyamikas are the great Nihilists and Deniers, for whom everything is parikalpita, an illusion and an error in the world of thought and the subjective, as much as in the objective universe. The Yogacharyas are the great spiritualists. Samvriti, therefore, as only relative truth, is the origin of all illusion.

(17). Lhamayin are elementals and evil spirits adverse to men and their enemies.

(18). Dhyan-Marga is the "Path of Dhyana," literally; or the Path of pure knowledge, of Paramartha or (Sanscrit) Svasamvedana "the self-evident or self-analysing reflection."

(19). Vide Glossary of Part II., Number 4. "Diamond-Soul" or Vajradhara presides over the Dhyani-Buddhas.

(20). This is an allusion to a well-known belief in the East (as in the West, too, for the matter of that) that every additional Buddha or Saint is a new soldier in the army of those who work for the liberation or salvation of mankind. In Northern Buddhist countries, where the doctrine of Nirmanakayas -- those Bodhisattvas who renounce well-earned Nirvana or the Dharmakaya vesture (both of which shut them out for ever from the world of men) in order to invisibly assist mankind and lead it finally to Paranirvana -- is taught, every new Bodhisattva or initiated great Adept is called the "liberator of mankind." The statement made by Schlagintweit in his "Buddhism in Tibet" to the effect that Prulpai Ku or "Nirmanakaya" is "the body in which the Buddhas or Bodhisattvas appear upon earth to teach men" -- is absurdly inaccurate and explains nothing.

(21). A reference to human passions and sins which are slaughtered during the trials of the novitiate, and serve as well-fertilized soil in which "holy germs" or seeds of transcendental virtues may germinate. Pre-existing or innate virtues, talents or gifts are regarded as having been acquired in a previous birth. Genius is without exception a talent or aptitude brought from another birth.

(22). Titiksha is the fifth state of Raja Yoga -- one of supreme indifference; submission, if necessary, to what is called "pleasures and pains for all," but deriving neither pleasure nor pain from such submission -- in short, the becoming physically, mentally, and morally indifferent and insensible to either pleasure or pain.

(23). Sowanee is one who practices Sowan, the first path in Dhyan, a Srotapatti.

(24). "Day" means here a whole Manvantara, a period of incalculable duration.

(25). Mount Meru, the sacred mountain of the Gods.

(26). In the Northern Buddhist symbology, Amitabha or "Boundless Space" (Parabrahm) is said to have in his paradise two Bodhisattvas -- Kwan-shi-yin and Tashishi -- who ever radiate light over the three worlds where they lived, including our own (vide 27), in order to help with this light (of knowledge) in the instruction of Yogis, who will, in their turn, save men. Their exalted position in Amitabha's realm is due to deeds of mercy performed by the two, as such Yogis, when on earth, says the allegory.

(27). These three worlds are the three planes of being, the terrestrial, astral and the spiritual.

(28). The "Guardian Wall" or the "Wall of Protection." It is taught that the accumulated efforts of long generations of Yogis, Saints and Adepts, especially of the Nirmanakayas -- have created, so to say, a wall of protection around mankind, which wall shields mankind invisibly from still worse evils.

(29). Klesha is the love of pleasure or of worldly enjoyment, evil or good.

(30). Tanha, the will to live, that which causes rebirth.

(31). This "compassion" must not be regarded in the same light as "God, the divine love" of the Theists. Compassion stands here as an abstract, impersonal law whose nature, being absolute Harmony, is thrown into confusion by discord, suffering and sin.

(32). In the Northern Buddhist phraseology all the great Arhats, Adepts and Saints are called Buddhas.

(33). A Bodhisattva is, in the hierarchy, less than a "perfect Buddha." In the exoteric parlance these two are very much confused. Yet the innate and right popular perception, owing to that self-sacrifice, has placed a Bodhisattva higher in its reverence than a Buddha.

(34). This same popular reverence calls "Buddhas of Compassion" those Bodhisattvas who, having reached the rank of an Arhat (i.e., having completed the fourth or seventh Path), refuse to pass into the Nirvanic state or "don the Dharmakaya robe and cross to the other shore," as it would then become beyond their power to assist men even so little as Karma permits. They prefer to remain invisibly (in Spirit, so to speak) in the world, and contribute toward man's salvation by influencing them to follow the Good Law, i.e., lead them on the Path of Righteousness. It is part of the exoteric Northern Buddhism to honour all such great characters as Saints, and to offer even prayers to them, as the Greeks and Catholics do to their Saints and Patrons; on the other hand, the esoteric teachings countenance no such thing. There is a great difference between the two teachings. The exoteric layman hardly knows the real meaning of the word Nirmanakaya -- hence the confusion and inadequate explanations of the Orientalists. For example Schlagintweit believes that Nirmanakaya-body, means the physical form assumed by the Buddhas when they incarnate on earth -- "the least sublime of their earthly encumbrances" (vide "Buddhism in Tibet") -- and he proceeds to give an entirely false view on the subject. The real teaching is, however, this: --

The three Buddhic bodies or forms are styled: --

1. Nirmanakaya.

2. Sambhogakaya.

3. Dharmakaya.

The first is that ethereal form which one would assume when leaving his physical he would appear in his astral body -- having in addition all the knowledge of an Adept. The Bodhisattva develops it in himself as he proceeds on the Path. Having reached the goal and refused its fruition, he remains on Earth, as an Adept; and when he dies, instead of going into Nirvana, he remains in that glorious body he has woven for himself, invisible to uninitiated mankind, to watch over and protect it.

Sambhogakaya is the same, but with the additional lustre of "three perfections," one of which is entire obliteration of all earthly concerns.

The Dharmakaya body is that of a complete Buddha, i.e., no body at all, but an ideal breath: Consciousness merged in the Universal Consciousness, or Soul devoid of every attribute. Once a Dharmakaya, an Adept or Buddha leaves behind every possible relation with, or thought for this earth. Thus, to be enabled to help humanity, an Adept who has won the right to Nirvana, "renounces the Dharmakaya body" in mystic parlance; keeps, of the Sambhogakaya, only the great and complete knowledge, and remains in his Nirmanakaya body. The esoteric school teaches that Gautama Buddha with several of his Arhats is such a Nirmanakaya, higher than whom, on account of the great renunciation and sacrifice to mankind there is none known.

(35). Myalba is our earth -- pertinently called "Hell," and the greatest of all Hells, by the esoteric school. The esoteric doctrine knows of no hell or place of punishment other than on a man-bearing planet or earth. Avitchi is a state and not a locality.

(36). Meaning that a new and additional Saviour of mankind is born, who will lead men to final Nirvana i.e., after the end of the life-cycle.

(37). This is one of the variations of the formula that invariably follows every treatise, invocation or Instruction. "Peace to all beings," "Blessings on all that Lives," &c., &c.