BẠCH  LIÊN

HỌC    TIẾN  HÓA 

THEO  KHOA 

MINH  TRIẾT  THIÊNG  LIÊNG


Nhóm Hội Viên Thông Thiên Học Hải Ngoại                                                 
 hiệu đính và xuất bản tại Hoa Kỳ

KROTONA

2005

 

 


MỤC LỤC

 

MỤC LỤC.. i

VÀI  LỜI  NÓI  ĐẦU.. 1

QUYỂN   NHỨT.. 4

HỌC    TIẾN  HÓA.. 5

I- CON  NGƯỜI 5

A- CON  NGƯỜI    AI ?. 5

B- CON  NGƯỜI  TỪ  ĐÂU  ĐẾN?. 5

C- CON  NGƯỜI  SANH  RA  CÕI  TRẦN  LÀM  CHI ?. 6

II- SỰ  TIẾN  HOÁ  CỦA  CON  NGƯỜI 6

A- SỰ  TIẾN  HÓA  CHẤM  DỨT    ĐÂY  SAO ?. 6

B- MUỐN  HỌC    TIẾN  HÓA     PHẢI  LÀM  SAO ?. 7

III- THÁI  DƯƠNG  HỆ. 7

A- HIỂU  BIẾT  VỀ  THÁI  DƯƠNG  HỆ. 7

1- THÁI  DƯƠNG  HỆ    GÌ ?. 7

  BAO  NHIÊU  THÁI  DƯƠNG  HỆ   TRÊN  KHÔNG  GIAN ?  8

2- AI  SANH  RA  MỘT  THÁI  DƯƠNG  HỆ ?. 8

3- THÁI  DƯƠNG  THƯỢNG  ĐẾ  KHÁC  VỚI   ĐẤNG  CHÍ  TÔN  (GỌI    ÔNG  TRỜI) 8

4- ĐỨC  THÁI  DƯƠNG  THƯỢNG  ĐẾ   CỦA  CHÚNG  TA  TỪ  ĐÂU  ĐẾN ?. 9

5- BẢY  CÕI  CỦA  THÁI  DƯƠNG  HỆ  CHÚNG  TA  10

6- BẢY  CẢNH  CỦA  CÕI  TRẦN.. 11

7- CÁC  THỨ  KHÍ 11

a- TÊN  CỦA  MỖI  THỨ  KHÍ 11

b- ĐẶC  SẮC  CỦA  MỖI  THỨ  KHÍ 12

B- MƯỜI  HỆ  THỐNG  HÀNH  TINH.. 13

1- BẢY  HỆ  THỐNG  HỮU  HÌNH.. 13

2- NHỮNG  BẦU  HÀNH  TINH  THẤY  ĐƯỢC. 14

3- THỜI  ĐIỂM  SANH  RA  7  DÃY  HÀNH  TINH.. 15

KHÔNG  PHẢI  7  DÃY  HÀNH  TINH  CỦA  MỘT  HỆ  THỐNG  SANH  RA  MỘT  LƯỢT  VỚI  NHAU.. 15

4- SỰ  TAN    CỦA  THÁI  DƯƠNG  HỆ  CHÚNG  TA.. 15

QUYỂN   NHÌ 17

SỰ  LIÊN  QUAN  GIỮA   CON  NGƯỜI      TRỤ.. 18

I- BA  NGÔI  CỦA  ĐỨC  THÁI  DƯƠNG  THƯỢNG  ĐẾ. 18

A- TÊN  CỦA  BA  NGÔI 18

B- TRẠNG  THÁI  CỦA  BA  NGÔI 19

C- CÔNG  VIỆC  CỦA  BA  NGÔI 19

II- MỤC  ĐÍCH  SANH  HÓA  THÁI  DƯƠNG  HỆ  NẦY.. 19

A- BẢY  LOÀI  TRÊN  DÃY  ĐỊA  CẦU  CHÚNG  TA.. 19

B- BA  NGÔI  CỦA  CON  NGƯỜI 20

C- CHƠN  NHƠN.. 21

1- BA  NGÔI  CỦA  CHƠN  NHƠN.. 21

2- TRẠNG  THÁI  CỦA  BA  NGÔI  CỦA  CHƠN  NHƠN.. 21

D-  NHỮNG  THỂ  CỦA  CON  NGƯỜI 22

* TÊN  CỦA  7  THỂ  CỦA  CON  NGƯỜI 22

* BA  THỂ  TRƯỜNG  TỒN BỐN  THỂ    HOẠI 22

* 7  THỂ  CỦA  CON  NGƯỜI  ĐỂ  DÙNG   TẠI  5  CÕI    THÔI 23

1- XÁC  THÂN.. 24

a- GIẢI  THÍCH  VỀ  XÁC  THÂN.. 24

b- PHƯƠNG  PHÁP  LUYỆN  TẬP  XÁC  THÂN.. 25

2- CÁI  PHÁCH   (Double  Éthérique) 26

a- GIẢI  THÍCH  VỀ  CÁI  PHÁCH.. 26

b- CÁI  CHI    ẢNH  HƯỞNG  TỚI  CÁI  PHÁCH.. 26

c- SANH  LỰC    GÌ ?. 26

d- SỰ  TINH  KHIẾT  CỦA  CÁI  PHÁCH.. 27

3- CÁI  VÍA.. 29

a- GIẢI  THÍCH  VỀ  CÁI  VÍA.. 29

b- MÀU  SẮC  CÁI  VÍA.. 29

c- LÀM  SAO  THẤY  ĐƯỢC  MẤY  MÀU  NẦY ?. 30

d- PHẬN  SỰ  CỦA  CÁI  VÍA.. 30

* 3  PHẬN  SỰ  CỦA  CÁI  VÍA.. 30

* LÀM  MỘT  THỂ  ĐỘC  LẬP. 31

* CHIÊM  BAO  LINH.. 31

e- HỌC  PHÉP  XUẤT  VÍA.. 32

f- TÁNH  NẾT  CÁI  VÍA.. 32

g- PHƯƠNG  PHÁP  SỬA  TRỊ  CÁI  VÍA.. 33

4- HẠ  TRÍ 34

a- GIẢI  THÍCH  VỀ  HẠ  TRÍ 34

b- PHẬN  SỰ  CỦA  CÁI  TRÍ 34

c- HIỆU  QUẢ  CỦA    TƯỞNG.. 35

* NHỮNG  LÀN  SÓNG    TƯỞNG.. 35

* TÁNH  CÁCH  ĐẶC  BIỆT  CỦA  LÀN  SÓNG    TƯỞNG   36

* HÌNH    TƯỞNG.. 36

GIẢI  THÍCH.. 36

MÀU  SẮC  CỦA  NHỮNG  HÌNH    TƯỞNG.. 37

d- SỰ  CHỌN  LỰA    TƯỞNG.. 37

e- ẢNH  HƯỞNG  CỦA    TƯỞNG  XẤU.. 38

* TA  HẠI  TA  TRƯỚC  HẾT.. 38

* TA  HẠI  NHỮNG  NGƯỜI     CHUNG  QUANH  TA.. 38

* TA  THÊM  NHỮNG  SỰ  ĐAU  KHỔ  CHO  ĐỜI 39

f- ẢNH  HƯỞNG  CỦA    TƯỞNG  TỐT  ĐẸP. 39

* TA  LÀM  CHO  CÁI  TRÍ  TA  TRỞ  NÊN  TỐT  ĐẸP. 40

* TA  GIÚP  ÍCH  NHỮNG  NGƯỜI    CHUNG  QUANH  TA   40

* TA  GIÚP  ÍCH  CHO  ĐỜI 40

g- TƯ  TƯỞNG  BIẾN  THÀNH  HÀNH  ĐỘNG.. 41

h- TÁNH  NẾT  HẠ  TRÍ 41

i- SỬA  TRỊ  CÁI  TRÍ 42

QUYỂN  BA.. 43

SỰ  ĐÀO  TẠO  NHỮNG  QUAN  NĂNG.. 44

* SỰ  HOẠT  ĐỘNG  CỦA  CÁI  TRÍ 44

* NHỮNG  ĐIỀU  NÊN  BIẾT  VỀ  SỰ  MỞ  MANG  CÁI  TRÍ 45

*TINH  LUYỆN  CÁI  TRÍ 46

* KIỂM  SOÁT    TƯỞNG.. 46

I- ĐỊNH  TRÍ 47

A- PHƯƠNG  PHÁP  ĐỊNH  TRÍ 47

B- HUỜN  .. 48

1- PHƯƠNG  PHÁP  HUỜN HƯ.. 48

2- ĐỪNG  PHUNG  PHÍ  SỨC  MẠNH  CỦA    TƯỞNG.. 49

II- THAM  THIỀN.. 50

A- ĐỊNH  NGHĨA  THAM  THIỀN.. 50

B- HAI  CÁCH  THAM  THIỀN.. 51

1- THAM  THIỀN    TÁNH  CÁCH   MỞ  MANG  TRÍ  THỨC  51

a-  SỰ  PHÁT  MINH  CỦA  ÔNG  ARCHIMÈDE   (287-212)  B.C. 52

b-  SỰ  PHÁT  MINH  CỦA  ÔNG  THOMAS  EDISON  (1847-1931) 52

2- THAM  THIỀN    TÁNH  CÁCH  SÙNG  BÁI 53

C- PHƯƠNG PHÁP TẬP LUYỆN.. 54

1- THAM  THIỀN  VỀ  MỘT  ĐỨC  TÁNH.. 57

2- THAM  THIỀN  VỀ  BA  THỂ :  THÂN,  VÍA,  TRÍ 57

a- XEM  XÉT  XÁC  THÂN.. 57

b- XEM  XÉT  CÁI  VÍA.. 58

c- XEM  XÉT  CÁI  TRÍ 58

3- LỜI  DẶN  TỔNG  QUÁT VÀ  NHỮNG  ĐIỀU   CẦN  GHI  NHỚ   58

a- HAI  CÂU  CHUYỆN    THÚ  VỀ  SỰ  THAM  THIỀN.. 60

b- GIẢI  QUYẾT  MỘT  VẤN  ĐỀ  TRONG  LÚC  NGỦ.. 60

c- GIÚP  ĐỠ  NGƯỜI  TRONG  LÚC  NGỦ.. 61

4- MỘT  PHƯƠNG  PHÁP  CHẮC  CHẮN  ĐỂ  THÍ  NGHIỆM  SỰ  TIẾN  HÓA  CỦA  MÌNH.. 62

5- TẠI  SAO  PHẢI  THAM  THIỀN  ĐÚNG   GIỜ  KHẮC    LIÊN  TỤC ?  62

6- CÁCH  NGỒI  THIỀN.. 63

7- GIỜ  THAM  THIỀN.. 63

8- KHẮC  KỶ.. 64

III- TOÁT  YẾU  VỀ  PHƯƠNG  PHÁP   MỞ  MANG  TRÍ  THỨC   64

A- TẠI  SAO  KINH  SÁCH  ĐẠO  ĐỨC  GỌI   CON  NGƯỜI    TIỂU  THIÊN  ĐỊA ?. 65

B- MỘT  PHƯƠNG  PHÁP  GIÚP  QUÝ  BẠN  TIẾN  TỚI  MẶC  DẦU  CHƯA  THAM  THIỀN  ĐƯỢC.. 65

C- MÀ  TU    GÌ ?. 67

D- MỘT  SỰ  THÍ  NGHIỆM  ĐỂ  CHỨNG  MINH  Ý  MUỐN      TƯỞNG  KHÔNG  PHẢI   THẬT    CON  NGƯỜI 68

QUYỂN   .. 69

CHƯƠNG  NHẤT. 69

BA  THỂ  TRƯỜNG  TỒN :  THƯỢNG  TRÍ,  KIM  THÂN,  TIÊN  THỂ  69

CHƯƠNG  NHÌ 69

LẬP  HẠNH.. 69

CHƯƠNG  NHẤT.. 70

I- BA  THỂ  TRƯỜNG  TỒN.. 70

A- THƯỢNG  TRÍ  HAY    NHÂN  THỂ. 70

1- KHÁI  NIỆM  VỀ  THƯỢNG  TRÍ 70

2- CÁCH  CẤU  TẠO  THƯỢNG  TRÍ 70

3- MÀU  SẮC  CỦA  THƯỢNG  TRÍ 71

4- SỰ  DÙNG  THƯỢNG  TRÍ  LÀM   MỘT  THỂ  ĐỘC  LẬP  71

B- KIM  THÂN.. 72

C- TIÊN  THỂ. 72

II- SỰ  LIÊN  LẠC  GIỮA  NHỮNG  THỂ   CỦA  CON  NGƯỜI 72

CHƯƠNG  NHÌ 75

LẬP  HẠNH  HAY    LUYỆN  TẬP  TÁNH  TÌNH.. 75

I- NHỮNG  ĐỨC  TÁNH  CẦN  THIẾT  ĐỂ  TẠO  LẬP   MỘT  TÁNH  TÌNH  SIÊU  PHÀM... 75

II- BA  YẾU  TỐ  QUAN  TRỌNG  CỦA  SỰ  LẬP  HẠNH.. 77

A- TƯ  TƯỞNG  CHƠN  CHÁNH.. 77

1- KHÁI  NIỆM  VỀ    TƯỞNG  CHƠN  CHÁNH.. 77

2- CÁCH  XUA  ĐUỔI  MỘT    TƯỞNG  XẤU.. 78

3- ĐỀ  PHÒNG  NHỮNG  SỰ  CÁM  DỖ    NHỮNG   SỰ  TẤN  CÔNG  CỦA  KẺ  NGHỊCH.. 79

B- LỜI  NÓI  CHƠN  CHÁNH.. 80

1- BA  ĐỨC  TÁNH  CỦA  LỜI  NÓI  CHƠN  CHÁNH.. 80

b- CÓ  ĐÚNG  SỰ  THẬT  KHÔNG ?. 81

c- CÓ  TỪ  THIỆN  KHÔNG ?. 83

2- SỰ  KHÁC  NHAU  GIỮA  LỜI  NÓI  THẬT  ĐÚNG     SỰ  NÓI  HÀNH   83

C- VIỆC  LÀM  CHƠN  CHÁNH.. 84

1- KHÁI  NIỆM  VỀ  VIỆC  LÀM  CHƠN  CHÁNH.. 84

2- NHỮNG  ĐỨC  TÁNH  PHẢI  TẬP. 85

III- LÃNH  ĐẠM... 86

IV- OAI  LỰC  CỦA  LÒNG  TỪ  BI 87

A- CHUYỆN  THỨ  NHỨT    VUỐT  VE  RẮN  HỔ  MANG.. 87

B- CHUYỆN  THỨ  NHÌ    MỘT  CHUYỆN  PHI  THƯỜNG.. 88

QUYỂN  NĂM... 90

I- SỰ  CHIẾN  ĐẤU  CUỐI  CÙNG.. 91

II- LINH  HỒN  KIM  CƯƠNG.. 91

III- TINH  THẦN  HÓA  HAY    KHOA   LUYỆN  KIM  TINH  THẦN   92

A- KHÁI  NIỆM... 92

B- MỤC  ĐÍCH  THỨ  NHÌ  CỦA  SỰ   LUYỆN  KIM  TINH  THẦN   93

C- PHẢI  LÀM  THẾ  NÀO  ĐỂ  CHO  SỰ  HÀNH  ĐỘNG  CỨ  THỰC  HIỆN    CON  NGƯỜI   VẪN  ĐƯỢC  TỰ  DO ?. 94

1- SỰ  HY  SINH.. 94

2- QUAN  ĐIỂM  CAO  SIÊU  CỦA  ĐỊNH  LUẬT   HY  SINH   96

3- SỰ  HY  SINH  CỦA  TIÊN  THÁNH     CÁC  VỊ  ĐỆ  TỬ   97

4- TẠI  SAO  NGƯỜI  ĐỆ  TỬ  PHẢI    MỘT  HẠNH  KIỂM  VƯỢT  BỰC  HƠN  NGƯỜI  THƯỜNG ?. 98

IV- ĐOẠN  KẾT. 99

QUYỂN   SÁU.. 101

SỰ  TRONG  SẠCH  CỦA  XÁC  THÂN.. 101

LÒNG  SÙNG  ĐẠO.. 101

CHƯƠNG  NHẤT.. 102

SỰ  TRONG  SẠCH  CỦA  XÁC  THÂN.. 102

I- MỤC  ĐÍCH  CỦA  PHÁP  MÔN  RAJA  YOGA  (DU  GIÀ  VƯƠNG  GIẢ) 102

II- XÁC  THÂN.. 102

A- SỰ  TINH  LUYỆN  THỂ  XÁC.. 103

1- SỰ  CHỌN  LỰA  THỨC  ĂN.. 103

2- CÓ  ĐIỀU  ĐỘ  TRONG  MỌI  SỰ  VIỆC.. 104

a- VỀ  BỮA  ĂN.. 105

b- VỀ  GIẤC  NGỦ.. 105

c- VỀ  MẤY  VIỆC  KHÁC.. 105

d- PHẢI  TIẾT  DỤC.. 106

3- SẠCH  SẼ  TỪ  Y  PHỤC  CHO  TỚI  THÂN  MÌNH.. 107

B- XÁC  THÂN  TRỰC  TIẾP   LIÊN  HỆ   TỚI  TIÊN  THỂ  (Corps Atmique) 107

C- NHỮNG  LỜI  KHUYÊN  NHỦ  CỦA   ĐỨC    A.  BESANT  109

CHƯƠNG  NHÌ 111

LÒNG  SÙNG  ĐẠO  HAY    SÙNG  TÍN.. 111

I- KHÁI  NI ỆM... 111

II- PHƯƠNG  PHÁP  LUYỆN  TẬP. 112

III- MỘT  PHƯƠNG  PHÁP  CHẮC  CHẮN  NHẤT. 113

IV- HAI  MẪU  NGƯỜI  SÙNG  TÍN.. 114

A- MẪU  NGƯỜI  SÙNG  TÍN  THỤ  ĐỘNG.. 115

B- MẪU  NGƯỜI  SÙNG  TÍN  HOẠT  ĐỘNG.. 115

V- LÚC  ĐẦU  TIÊN  HỌ    NHỮNG   NGƯỜI  THẾ  NÀO ?  116

VI- CÁCH  HÀNH  ĐỘNG  CỦA  HỌ.. 117

VII- CON  ĐƯỜNG  SÙNG  TÍN  DẮT  ĐI  ĐẾN  ĐÂU ?. 118

QUYỂN  BẢY.. 119

I- TINH  THẦN  AN  PHẬN.. 120

A- KHÁI  NIỆM... 120

B- SỰ  AN  PHẬN  CẮT  NGHĨA  THEO  HUYỀN    HỌC.. 120

C- PHẢI  CẢI  TẠO  HOÀN  CẢNH.. 122

D- SỰ  AN  PHẬN  CỦA  CÁC  SINH  VIÊN   HUYỀN    HỌC   122

E- BỀN  CHÍ 123

II- TÁNH  KÍN  ĐÁO.. 125

III- TÁNH  ĐÚNG  ĐẮN.. 127

IV- PHỤNG  SỰ.. 127

V- LỜI  CẦU  CHÚC  CỦA    A.  BESANT. 129

QUYỂN  TÁM... 130

DÃY  ĐỊA  CẦU  CHÚNG  TA.. 130

CÁC  GIỐNG  DÂN.. 130

CÁC  CHÂU  THẾ  GIỚI 130

I- DÃY  ĐỊA  CẦU  CHÚNG  TA.. 131

A- BẢY  BẦU  HÀNH  TINH  CỦA  DÃY  ĐỊA  CẦU.. 131

B- BẢY  BẦU  NẦY    CÕI  NÀO ?. 131

C- DÃY  TRÁI  ĐẤT  CỦA  CHÚNG  TA  HIỆN  GIỜ     DÃY  THỨ  MẤY?  132

D- NHÂN  VẬT  TRÊN  DÃY  ĐỊA  CẦU  CHÚNG  TA.. 133

E- BẢY  GIỐNG  DÂN  TRÊN  DÃY  ĐỊA  CẦU.. 134

F- XIN  NHỚ  NHỮNG  NGUYÊN  TẮC   TỔNG  QUÁT  NHƯ  SAU  ĐÂY   134

G- NHÂN  VẬT  TẠI  BẦU  TRÁI  ĐẤT   CỦA  CHÚNG  TA  HIỆN  GIỜ   135

II- CÁC  GIỐNG  DÂN  TẠI  ĐỊA  CẦU  CHÚNG  TA.. 136

A- GIỐNG  THỨ  NHỨT. 136

B- GIỐNG  THỨ  NHÌ 136

C- GIỐNG  THỨ  BA.. 137

1- KHÁI  NIỆM... 137

2- BA  GIAI  ĐOẠN  SANH  SẢN.. 137

NOÃN  SANH  -  GIAI  ĐOẠN  THỨ  NHỨT. 138

GIAI  ĐOẠN  THỨ  NHÌ 138

GIAI  ĐOẠN  THỨ  BA.. 138

D- GIỐNG  THỨ  .. 139

1- KHÁI  NIỆM... 139

2- BẢY  NHÁNH  CỦA  GIỐNG  DÂN  THỨ  .. 139

E- GIỐNG  DÂN  THỨ  NĂM... 140

I- KHÁI  NIỆM... 140

2- BẢY  NHÁNH  CỦA  GIỐNG  DÂN  THỨ  NĂM... 140

F- GIỐNG  DÂN  THỨ  SÁU.. 141

G- GIỐNG  DÂN  THỨ  BẢY.. 141

H- ĐẶC  TÁNH  CỦA  MỖI  GIỐNG  DÂN.. 141

i- BỀ  CAO  CỦA  NĂM  GIỐNG  DÂN  CHÁNH.. 142

J- TẠO  VẬT  ÔN  LẠI 142

K- VÀI  MẪU  CHUYỆN  THAY  HÌNH  ĐỔI  DẠNG.. 143

MỘT  NỮ  GIÁO    DẦN  DẦN  BIẾN  THÀNH   ĐÀN  ÔNG  RỒI    QUẾN  MỘT    GIÁO     CHỒNG  NĂM  CON.. 143

MỘT  HỒI    ĐỘC  ĐÁO  CỦA  MỘT  NGƯỜI   19  TUỔI :  LẤY  CHỒNG   29 TUỔI :  LẤY  VỢ.. 143

ĐÀN  ÔNG  HÓA  GÁI 144

III- NHỮNG  CHÂU  THẾ  GIỚI 144

1- CHÂU  THỨ  NHỨT. 145

2- CHÂU  THỨ  NHÌ 145

MỘT  BẰNG  CHỨNG  CỤ  THỂ  CHỨNG  MINH  RẰNG  KHI  XƯA    BẮC  CỰC  KHÍ  HẬU  MIỀN  NHIỆT  ĐỚI 145

HÃY  PHÁ  VỠ  NHỮNG  THÀNH  KIẾN  SAI  LẦM... 145

3- CHÂU  THỨ  BA.. 146

4- CHÂU  THỨ  .. 146

5- CHÂU  THỨ  NĂM... 147

6- CHÂU  THỨ  SÁU.. 147

7- CHÂU  THỨ  BẢY.. 148

QUYỂN  CHÍN.. 150

CHƯƠNG  NHẤT.. 150

NHỮNG  CUỘC  TUẦN  HOÀN.. 150

CHƯƠNG  NHÌ 150

SỰ  PHÁN  XÉT  CUỐI  CÙNG  CỦA : 150

- MỘT  BẦU  HÀNH  TINH.. 150

- MỘT  DÃY  HÀNH  TINH.. 150

CHƯƠNG  NHẤT.. 151

NHỮNG  CUỘC  TUẦN  HUỜN.. 151

I- SỰ  TIẾN  HÓA  ĐI  THEO  VÒNG  TRÒN.. 151

II- BẢY  CUỘC  TUẦN  HOÀN (Les 7 Rondes) 151

A- CUỘC  TUẦN  HOÀN  THỨ  NHỨT. 152

B- CUỘC  TUẦN  HOÀN  THỨ  NHÌ 153

C- CUỘC  TUẦN  HOÀN  THỨ  BA.. 153

D- SỐ  PHẦN  CỦA  CON  NGƯỜI    CÁC  LOÀI  VẬT. 153

E- DÃY  ĐỊA  CẦU  TAN  .. 154

F- NHÂN  VẬT  CỦA  DÃY  HÀNH  TINH  THỨ  NĂM... 154

CHƯƠNG  NHÌ 156

SỰ  PHÁN  XÉT  CUỐI  CÙNG.. 156

I- SỰ  PHÁN  XÉT  CUỐI  CÙNG  CỦA   MỘT  BẦU  HÀNH  TINH   156

A- KHÁI  NIỆM... 156

B- NỘI  CẢNH  TUẦN  HOÀN.. 157

C- HỌ    LẠI  BẦU  HÀNH  TINH    BAO  LÂU ?. 157

D- SỰ  HỮU  ÍCH  CỦA  NỘI  CẢNH  TUẦN  HOÀN.. 158

II- SỰ  PHÁN  XÉT  CUỐI  CÙNG  CỦA   MỘT  DÃY  HÀNH  TINH   159

A- KHÁI  NIỆM... 159

B- SỰ PHÁN  XÉT  CUỐI  CÙNG  CỦA   DÃY  ĐỊA  CẦU  CHÚNG  TA   159

C- SỰ  PHÁN  XÉT  CUỐI  CÙNG  CỦA   BA  DÃY  HÀNH  TINH TRƯỚC   160

III- DÂN  SỐ  TRÊN  ĐỊA  CẦU.. 161

IV- SỐ  NGƯỜI  ĐƯỢC  GIẢI  THOÁT   SẼ    BAO  NHIÊU ?  161

V- NHỮNG  ĐIỀU  NÊN  BIẾT : 162

A- TẠI  SAO  THÂN  HÌNH  GIỐNG  DÂN  THỨ  NHỨT  LẠI  IN  NHƯ  NGUYÊN  SANH  CHẤT ?. 162

B- CHỪNG  NÀO  CỬA  ĐẠO  MỚI  MỞ   CHO  CON  NGƯỜI ?  163

C- DANH  HIỆU  CỦA  CÁC  VỊ  ĐẮC  ĐẠO  THÀNH  CHÁNH  QUẢ  TRONG  4  DÃY  HÀNH  TINH.. 163

XIN  ĐỪNG  LẦM  LỘN  HAI  DANH  TỪ   ASURA  (A-TU-LA) 164

D- Ở  BA  DÃY  HÀNH  TINH  TRƯỚC  ĐƯỢC  MẤY  LẦN  ĐIỂM  ĐẠO  MỚI  THÀNH  CHÁNH  QUẢ,   THOÁT  ĐỌA  LUÂN  HỒI ?  164

KẾT  LUẬN.. 166

CHÂN  THÀNH  TRI  ÂN.. 168

 


VÀI  LỜI  NÓI  ĐẦU

 

          Nếu chúng ta tự hỏi: Tại sao có Mặt Trời, Mặt Trăng và các Ngôi Sao trên Trời? Tại sao Con Người sanh ra tại Cõi Trần? Chúng ta rất thắc mắc và muốn tìm hiểu nguyên nhân của mấy điều đó!

          Nhưng tìm ở đâu? Tôi xin nói trắng ra: Chúng ta phải nhờ đến Khoa Bí Truyền của các Tôn Giáo lớn, cũng gọi là Khoa Mật hay Khoa Huyền Bí Học, bởi vì Khoa ấy vốn do các Đấng Thiên Tôn đã dự phần vào sự tạo lập Thái Dương Hệ nầy và sự sanh hóa Con Người và Loài Vật, truyền lại từ Thế Hệ nầy qua Thế Hệ kia. Nó chuyên đào tạo những vị Đệ Tử thành Tiên Thánh, Phụ Tá Thiên Cơ. Nó chỉ Con Đường Tắt cho Con Người đi theo để mau tới mục đích đã định sẵn cho Nhân Loại trong Thái Dương Hệ nầy; nói một cách khác thành những vị Siêu Phàm trong một thời gian ngắn, tính ra lối Vài Chục Kiếp, thay vì nếu theo con đường tiến hóa bình thường, Con Người phải trải qua muôn kiếp Luân Hồi vẫn chưa ắt được hoàn toàn Thành Công.

          Những điểm trình bày trong mấy quyển nhỏ nầy hay là những sách cùng chung một loại do tôi soạn ra, vốn là những mẫu tự A,B,C của Huyền Bí Học mà thôi. Ấy là những đại cương của Chơn Lý, cũng có thể gọi là Cơ Tiến Hóa lược giải, chớ chưa phải là toàn thể Chơn Lý.

          Muốn rõ những chi tiết, xin quý bạn đọc những sách giải về Minh Triết Thiêng Liêng viết bằng tiếng Pháp mà nhất là những quyển viết bằng tiếng Anh đầy đủ hơn.

          Tôi tưởng cũng phải nói thêm rằng: Huyền Bí Học khác hẳn Khoa Học ở ngoài đời. Nó giải thích Sự Sống ở trong những Hình Thể; nó chú trọng về Phần Tinh Thần hơn là sự tìm kiếm những quyền năng của Vật Chất. Vì thế có nhiều điều của Huyền Bí Học tiết lộ không giống những sự khảo cứu của Khoa Học hiện nay. Khi gặp mấy đoạn đó xin các bạn chớ lấy làm lạ và miễn nghị, bởi vì chúng tôi giải theo Khoa Minh Triết Cổ Truyền. Khoa Nầy từ ngàn xưa để dạy một cách kín đáo trong những Tu Viện, Đạo Viện ở Trung Hoa, Ấn Độ, Tây Tạng, Kal-đê (Chaldée), Ba Tư, Ai Cập, Hi Lạp cho những vị Đệ Tử đã được chọn lựa rất kỹ lưỡng về Hạnh Kiểm.

          Vài Thiên Đầu mới được phép đem ra phổ biến trong Quần Chúng từ năm 1875.

          Thế nên chúng rất lạ tai với những người mới nghe qua và khác hẳn những điều đã được trình bày trong những sách Công Truyền của các Tôn Giáo.

          Cho nên, mặc dầu Khoa Học ngày nay tiến bộ rất nhiều, nhưng nó đang tìm kiếm trong Vòng Vật Chất. Luôn luôn có những Giả Thuyết mới đưa ra để thay thế những Giả Thuyết cũ khi người ta khám phá thêm một sự Bí Mật mới của Tạo Công. Mới, đây là mới với Con Người chớ thật ra nó rất cũ và xưa như Trái Đất, bởi vì nó đã có sẵn từ Thuở Khai Thiên Tịch Địa kia mà. Thái Dương Hệ nầy sanh ra có lẽ trên bốn, năm ngàn triệu năm rồi. Muốn hiểu hết những hiện tượng đã xảy ra từ xưa đến nay, Con Người cũng phải mất một thời gian bốn, năm ngàn triệu năm học hỏi, mà trong thời gian nầy sẽ có không biết bao nhiêu sự biến đổi khác nữa.

          Ông Giáo Sư Charles Richet có viết trong tập Niên Giám của Khoa Tâm Linh Học tháng 01, năm 1905 Đoạn nầy (xin tóm tắt đại ý):

          “Tới năm 2000 nói chi tới năm 3000, những Luận Cứ Khoa Học đời đó sẽ khác hẳn những Luận Cứ Khoa Học hiện nay. Nền móng Khoa Học mà chúng ta xây dựng rất công phu, chắc chắn sẽ đổ nát. Những việc chúng ta cho là minh bạch đối với con cháu chúng ta không khác nào lý lẽ của mấy ông Agrippa và Paracelse đối với chúng ta bây giờ. Khoa Học của chúng ta chưa tiến hơn Khoa Học năm 3000 cũng như sự hiểu biết của Con Dã Nhơn thấp hơn sự hiểu biết của một vị Tiến Sĩ Khoa Học vậy.”

          Chí lý thay những lời trên đây! Tôi tin rằng Giáo Sư Charles Richet có khảo cứu Khoa Huyền Bí Học, vì ông có viết một cuốn nhan đề: “Giác Quan Thứ Sáu.”

          Mặc dầu Khoa Huyền Bí Học đã nói lời nói cuối, chúng tôi không bao giờ bảo: “Quý bạn hãy tin tuyệt đối Khoa Huyền Bí Học”. Chúng tôi chỉ yêu cầu quý bạn quan sát lại Cuộc Đời một cách kỹ lưỡng để thấy rõ hành động của Luật Nhân Quả Báo Ứng. Luật nầy không dung tha một ai đã làm trái nghịch với lòng Trời.

           Chúng tôi xin quý bạn hãy thí nghiệm về sự lau chau của Cái Trí, sự truyền nhiễm của Tư Tưởng, cách sửa trị chúng và những phương pháp để đào tạo cho mình những Tánh Tốt hầu trừ bỏ những tật xấu.

          Như thế quý bạn có một đức tin mạnh mẽ và vững chắc trong khi luyện tập đặng tiến mau trên con đường hành hương dài thăm thẳm.

          Sau khi thành công phần nào, xin quý bạn hãy Dìu Dắt lại thế hệ mai sau. Bổn Phận của Người Biết Đạo là lo Phục Hưng Tinh Thần của Nhơn Loại, vì biết rằng các sự đau khổ trên Trần Thế đều do tánh ích kỷ, chia rẽ mà ra. Diệt gốc rễ là diệt tánh ích kỷ, chia rẽ, các sự đau khổ đều chấm dứt.

          Ích Kỷ, Chia Rẽ là Tâm Bịnh. Bịnh Tinh Thần phải dùng thuốc Tinh Thần điều trị. Thuốc Vật Chất dầu hay đến đâu cũng chỉ giảm bớt phần nào trong một thời gian, chớ không trị tận gốc. Chẳng bao lâu, bịnh sẽ tái phát và lần nầy còn nặng hơn lần trước nhiều.

          Từ xưa đến nay, người ta đã từng thí nghiệm không biết bao nhiêu phương thuốc Vật Chất cho là kỳ diệu vô cùng, nhưng chỉ vài chục năm sau, đâu cũng vào đó. Chúng theo thời gian tiêu tan như mây khói.

          Đời Văn Minh càng hướng về Vật Chất nhiều chừng nào, những sự đau khổ càng tăng thêm chừng nấy, chưa thấy giảm bớt chút nào! Tại sao thế ? Vì: “Tam Độc” là Tham, Sân, Si chưa tận diệt thì sông Duyên cứ đầy tràn mãi. Nhân nào sanh Quả nấy biết tới chừng nào mới cạn được.

          Chúc quý bạn thành công mỹ mãn trong việc Tận Tâm Phục Hưng Tinh Thần của Nhơn Loại.

Lành thay! Lành thay!

Châu Đốc ngày Rằm tháng 8 (Tết Trung Thu) Tân Hợi.

Nhằm ngày mồng 3 tháng 10 năm 1971.

BẠCH LIÊN: PHẠM NGỌC ĐA

 

 

QUYỂN   NHỨT

 

 

 

 

 

 

CON  NGƯỜI    AI ?

 

TỪ  ĐÂU  ĐẾN ?   ĐẾN  CÕI  TRẦN  LÀM  CHI ?

 

THÁI  DƯƠNG  HỆ  CỦA  CHÚNG  TA


 

HỌC    TIẾN  HÓA

I- CON  NGƯỜI

 

          Có một vấn đề nếu giải quyết được cho đúng lý tức là đúng với sự thật, cuộc diện Thế Giới sẽ thay đổi hẳn và Con Người sẽ văn minh tiến bộ hơn bây giờ thật nhiều.

          Vấn đề đó là:

          A- Con Người là ai?

          B- Từ đâu đến?

          C- Sanh ra Cõi Trần làm chi?

          Xin giải đáp ba câu hỏi nầy một cách vắn tắt mà thôi, theo Huyền Bí Học.

 

 

A- CON  NGƯỜI    AI ?

 

 

          Theo thế thường ai ai cũng đinh ninh rằng: Xác Thân nầy là Con Người. Nhưng thật ra Con Người khác hẳn Xác Thân. Xác Thân chỉ là Khí Cụ của Con Người dùng để hoạt động tại Cõi Trần trong Một Kiếp mà thôi.

          Con Người thật là Chơn Thần, là Điểm Linh Quang của Đức Thượng Đế. Vì thế Con Người là Con của Trời. Xin gọi Con Người là Linh Hồn cho dễ nhớ, vì chúng ta đã quen với danh từ nầy.

 

 

B- CON  NGƯỜI  TỪ  ĐÂU  ĐẾN?

 

 

          Con Người vốn ở trong Tâm của Đức Thái Dương Thượng Đế, từ cõi Đại Niết Bàn xuống Thế Gian.

 

 

C- CON  NGƯỜI  SANH  RA  CÕI  TRẦN  LÀM  CHI ?

 

 

          Con Người sanh ra Cõi trần để học hỏi Luật Sanh Hóa và Luật Tiến Hóa của các Loài Vật, nói một cách khác, Học Hỏi Cơ Tiến Hóa. Con Người phải học hỏi và kinh nghiệm từ kiếp nầy qua kiếp khác, từ Hành Tinh nầy qua Hành Tinh khác của Dãy Địa Cầu.

          Tới một ngày kia, khi phá tan được Bức Màn Vô Minh, Con Người trở nên trọn sáng trọn lành, thành một vị Siêu Phàm, người đời gọi là Chơn Tiên. Còn Phật Giáo gọi là A-Sơ-Ca (Aseka) nghĩa là không còn làm Đệ Tử nữa, không còn cái chi học hỏi tại Dãy Địa Cầu nầy.

 

II- SỰ  TIẾN  HOÁ  CỦA  CON  NGƯỜI

A- SỰ  TIẾN  HÓA  CHẤM  DỨT    ĐÂY  SAO ?

 

 

          Sự tiến hóa chấm dứt ở đây sao? Không, sự Tiến Hóa sẽ tiếp tục ở mấy Cõi khác, ngoài Địa Cầu chúng ta.

          Vị Chơn Tiên tu hành thêm và tiến lên mãi.

          Từ Chơn Tiên lên bậc Đế Quân.

          Từ Đế Quân lên bậc Bồ Tát.

          Từ Bồ Tát lên bậc Phật.

          Từ Phật lên bậc Ngọc Đế, v.v…

          Vũ Trụ vô tận vô biên.

          Tới một ngày kia, không biết bao nhiêu tỷ năm nữa, Vị Chơn Tiên sẽ thành một vị Thái Dương Thượng Đế (Logos d’un Système Solaire) và sẽ Sanh Hóa một Thái Dương Hệ khác giống như Thái Dương Hệ nầy.

          Đây mới thật là mục đích sanh hóa Con Người trên Cõi Trần.

          Nếu Con Người sanh ra trên Thế Gian chỉ chờ lớn khôn, lập thân, danh, có gia đình và trải qua những chuỗi ngày sung sướng, vui vẻ, đau khổ, sầu muộn rồi chờ ngày Cát Bụi phải trở về với Cát Bụi thì cuộc đời không có mục đích gì cả và kiếp sống rất vô vị.

 

 

B- MUỐN  HỌC    TIẾN  HÓA 
  PHẢI  LÀM  SAO ?

 

 

          Trên đây chỉ nói vài lời về cội rễ Con Người mà thôi.

          Muốn học Cơ Tiến Hóa cần phải tìm hiểu chút ít về:

          a)- Sự thành lập Thái Dương Hệ chúng ta.

          b)- Những Thể của Con Người.

          c)- Sự liên quan giữa những Thể của Con Người với những Cõi Trời.

          d)- Con Người sau khi bỏ Xác Phàm.

          e)- Luật Luân Hồi, Nhân Quả.

           f)- Phương pháp mở khai Tâm Trí để tiến mau đến mục đích đã định sẵn cho Nhơn Loại trong Thái Dương Hệ nầy.

 

 

III- THÁI  DƯƠNG  HỆ

A- HIỂU  BIẾT  VỀ  THÁI  DƯƠNG  HỆ

1- THÁI  DƯƠNG  HỆ    GÌ ?

 

 

          Thái Dương Hệ là một Hệ Thống Tiến Hóa gồm một Ngôi Mặt Trời ở chính giữa và những Bầu Hành Tinh xoay  chung quanh.

 

 

  BAO  NHIÊU  THÁI  DƯƠNG  HỆ 
TRÊN  KHÔNG  GIAN ?

 

 

          Không ai biết được có bao nhiêu Thái Dương Hệ trên Không Gian: Mấy trăm tỷ hay là mấy ngàn tỷ.

          Người ta chỉ biết có nhiều Ngôi Mặt Trời cả chục, cả trăm, cả ngàn lần lớn hơn Ngôi Mặt Trời của chúng ta.

          Thí dụ như: Tinh Cầu Baleine (Mira Ceti) và Tinh Cầu Bételgeuse (Orien) 300 lần lớn hơn Ngôi Mặt Trời của chúng ta.

          Còn Tinh Cầu Canopus một triệu lần lớn hơn Ngôi Mặt Trời của chúng ta.

 

 

2- AI  SANH  RA  MỘT  THÁI  DƯƠNG  HỆ ?

 

 

          Không phải do một sự Tình Cờ mà có một Ngôi Mặt Trời ở chính giữa và những Hành Tinh xoay chung quanh, cùng trên mỗi Hành Tinh lại có các Loài Vật sanh sống tại đó.

          Huyền Bí Học dạy rằng: Mỗi Thái Dương Hệ đều do một Đấng Chí Tôn sanh ra. Người ta gọi Ngài là Đức Thái Dương Thượng Đế.

 

 

3- THÁI  DƯƠNG  THƯỢNG  ĐẾ  KHÁC  VỚI 
ĐẤNG  CHÍ  TÔN  (GỌI    ÔNG  TRỜI)

 

 

          Còn Đấng Chí Tôn độc nhứt vô nhị không sanh mà có, người ta gọi là Ông Trời hay là Thái Cực Thánh Hoàng (Dieu, Logos Cosmique, Brahman, Allah, v.v…)

          Chính là Ngài sanh ra các Đấng Thái Dương Thượng Đế.

 

 

4- ĐỨC  THÁI  DƯƠNG  THƯỢNG  ĐẾ 
CỦA  CHÚNG  TA  TỪ  ĐÂU  ĐẾN ?

 

 

          Đức Thái Dương Thượng Đế của chúng ta vốn từ một Thái Dương Hệ khác đến đây. Thái Dương Hệ đó sanh trước Thái Dương Hệ của chúng ta không biết bao nhiêu tỷ năm.

          Đức Thái Dương Thượng Đế của chúng ta chọn một chỗ trên Không Gian để lập Tiểu Vũ Trụ của Ngài. Hào Quang của Ngài chiếu ra và dứt tới đâu, chỗ đó là giới hạn giang sơn của Ngài.

          Ngài biến đổi Chất Hỗn Nguơn Nhứt Khí cũng gọi là Tiên Thiên Dĩ Thái hay là Koilon (Mulaprakriti Ether Primordial ou Koilon) ra 7 Thứ Khí khác nhau để dùng tạo lập Thái Dương Hệ của chúng ta.

          Thái Dương Hệ nầy chia ra làm 7 Cõi (7plans) và gồm:

          a)- Một Ngôi Mặt Trời ở chính giữa và

          b)- Mười Hệ Thống Hành Tinh (10 Systèmes planétaires) xoay  chung quanh.

          Trên mười Hệ Thống Hành Tinh nầy đều có những Loài Vật sanh trưởng và tiến hóa theo Cơ Trời đã định trước.

           Ngài có nhiều Vị Phụ Tá, khi xưa vốn đồng ở một Thái Dương Hệ với Ngài. Không biết phải gọi là chi, bởi vì chúng ta không có danh từ thích ứng. Xin gọi là những vị Đại Thiên Tôn, trong đó có những Đấng Chí Tôn gọi là Hành Tinh Thượng Đế (Logos planétaires), Nam Tào Bắc Đẩu (Lipikas), 7 vị Đại Thiên Vương, những vị Ngọc Đế, những vị Phật, những vị Bồ Tát, những vị Đế Quân, những vị Chơn Tiên, những vị Đại Thiên Thần, v.v. . . Mỗi Vị đều có những Phận Sự riêng biệt.

 

 

5- BẢY  CÕI  CỦA  THÁI  DƯƠNG  HỆ  CHÚNG  TA  [1]

 

 

          7 Cõi nầy kể từ trên xuống như sau:

          1)- Cõi thứ Nhứt là: Cõi Tối Đại Niết Bàn cũng gọi là Cõi Thái Cực hay là Cõi Tối Đại Thiêng Liêng (Plan Mahaparanirvana ou Adi).

          2)- Cõi thứ Nhì là: Cõi Đại Niết Bàn cũng gọi là Cõi Lưỡng Nghi hay là Cõi Đại Thiêng Liêng (Plan Paranirvana ou  Anoupadaka).

          3)- Cõi thứ Ba là: Cõi Niết Bàn cũng gọi là Cõi Tứ Tượng hay là Cõi Thiêng Liêng (Plan Nirvana ou Plan Atmique).

          4)- Cõi thứ Tư là: Cõi Bồ Đề cũng gọi là Cõi Trực Giác (Plan Bouddhique ou  Plan de l’Intuition).

          5)- Cõi thứ Năm là: Cõi Trí Tuệ cũng gọi là Cõi Thượng Giới (Plan Mental ou  Monde Céleste).

          6)- Cõi thứ Sáu là: Cõi Dục Giới cũng gọi là Cõi Trung Giới (Plan Astral ou  Plan Emotionnel).

          7)- Cõi thứ Bảy là: Cõi Hồng Trần cũng gọi là Cõi Hạ Giới (Plan Physique).

          Mỗi Cõi đều chia ra làm 7 Cảnh (7 Sous-Plans). Riêng Cõi Trí Tuệ hay là Thượng Giới thì phân ra làm hai: Cõi Thượng Thiên và Cõi Hạ Thiên.

          1)- Cõi Thượng Thiên cũng gọi là Cõi Vô Sắc Giới (Plan Mental supérieur, Ciel supérieur ou  Monde Aroupa) gồm 3 Cảnh cao: Cảnh thứ Nhứt, Cảnh thứ Nhì và Cảnh thứ Ba.

           Tại Cõi nầy tư tưởng không có hình dạng nữa. Nó xẹt ra từ lằn và đi từ Cái Trí nầy qua Cái Trí kia.

          2)- Cõi Hạ Thiên cũng gọi là Cõi Sắc Giới (Plan Mental Inférieur, Ciel Inférieur ou  Monde Roupa) gồm 4 Cảnh thấp: Cảnh thứ Tư, Cảnh thứ Năm, Cảnh thứ Sáu và Cảnh thứ Bảy.

          Tại Cõi nầy tư tưởng có hình dạng.

 

 

6- BẢY  CẢNH  CỦA  CÕI  TRẦN

 

 

          Cõi Trần cũng chia ra làm 7 Cảnh, từ dưới kể lên như sau:

          Cảnh thứ Bảy: Cảnh của Chất Đặc (Đất Cát).

          Cảnh thứ Sáu: Cảnh của Chất Lỏng (Nước).

          Cảnh thứ Năm: Cảnh của Chất Hơi (Không Khí).

          Cảnh thứ Tư: Cảnh của Chất Dĩ Thái thứ Tư (Éther IV).

          Cảnh thứ Ba: Cảnh của Chất Dĩ Thái thứ Ba (Éther III).

          Cảnh thứ Nhì: Cảnh của Chất Dĩ Thái thứ Nhì (Éther II ou Sous-Atomique).

          Cảnh thứ Nhứt: Cảnh của Chất Dĩ Thái thứ Nhứt hay là Cảnh của Chất Nguyên Tử Căn Bản (Éther I ou  Atomique).

 

 

7- CÁC  THỨ  KHÍ

a- TÊN  CỦA  MỖI  THỨ  KHÍ

 

 

          Xin gọi tên mỗi Thứ Khí như sau:

          1)- Chất Khí làm Cõi Tối Đại Niết Bàn là Nguơn Khí, hay là Chất Tối Đại Thiêng Liêng.

          2)- Chất Khí làm Cõi Đại Niết Bàn là Tiên Thiên Khí, hay là Chất Đại Thiêng Liêng.

           3)- Chất Khí làm Cõi Niết Bàn là Âm Dương Khí, hay là Chất Thiêng Liêng.

           4)- Chất Khí làm Cõi Bồ Đề là Thái Thanh Khí, hay là Chất Bồ Đề.

          5)- Chất Khí làm Cõi Thượng Giới hay là Trí Tuệ là Thượng Thanh Khí, hay là Chất Trí Tuệ.

          6)- Chất Khí làm Cõi Trung Giới hay là Dục Giới, là Thanh Khí hay là Chất Cảm Xúc.

          7)- Chất Khí làm Cõi Hạ Giới hay là Phàm Trần là Chất Hồng Trần.

          7 Chất Khí nầy tuy khác nhau nhưng ở một Gốc mà ra. Gốc đó là Hỗn Nguơn Nhứt Khí.

          Các Nhà Luyện Kim (Alchimistes) xưa, nay, đều biết rõ điều nầy.

 

 

b- ĐẶC  SẮC  CỦA  MỖI  THỨ  KHÍ

 

 

          Chất Khí ở Cảnh cao chừng nào thì càng mịn chừng nấy. Màu sắc nó rực rỡ, tốt đẹp, nó rất nhẹ nhàng và rung động mau lẹ. Nó thấu qua các Chất Khí làm ra những Cảnh thấp hơn nó. Cũng như Chất Bồ Đề thấu qua Chất Trí Tuệ (Cõi Thượng Giới), Chất Cảm Xúc (Cõi Trung Giới hay Dục Giới) và Chất Hồng Trần (Cõi Hạ Giới hay Phàm Trần).

          Tại Cõi Trần nầy, Chất Dĩ Thái (Dĩ Thái Hồng Trần) thấu qua Đất Cát, Nước và Không Khí.

          Vì lẽ nầy, 7 Cõi của Thái Dương Hệ ở chung một chỗ được và xỏ rế với nhau.

          Cõi Dục Giới (Trung Giới) bắt đầu từ Trung Tâm của Trái Đất lên gần tới Mặt Trăng.

          Cõi Trí Tuệ (Thượng Giới) bắt đầu từ Trung Tâm của Trái Đất lên khỏi Mặt Trăng xa lắm, v.v. . .

          Thế thì những Cõi Tối Đại Niết Bàn, Đại Niết Bàn, Niết Bàn, Bồ Đề, Thượng Giới, Trung Giới vốn ở trước mặt, sau lưng ta, tức là chung quanh ta chớ không phải đợi lên trên cao cả trăm ngàn cây số mới gặp mấy Cõi đó.

          Nếu ta không thấy chúng nó là vì con mắt phàm chỉ để thấy nhân vật ở Cõi Phàm mà thôi. Ta còn nhiều Quan khác như: Thần Nhãn, Thiên Nhãn, Huệ Nhãn, Phật Nhãn, nếu khai mở được các Quan nầy thì thấy được mấy Cõi đó. Không phải: Cái gì con mắt ta không quan sát được là không có thật.

 

 

B- MƯỜI  HỆ  THỐNG  HÀNH  TINH

 

 

          Mười Hệ Thống Hành Tinh là 10 Hệ Thống Tiến Hóa (Système d’Evolution) khác nhau.

          Trong 10 HThống Hành Tinh nầy có:

          3 Hệ Thống Vô Hình, vì chúng nó không có đất cát, nên không thấy được.

          7 Hệ Thống Hữu Hình, vì chúng nó có những Bầu Hành Tinh làm bằng đất cát, nên thấy được.

          Xin nói sơ lược về 7 Hệ Thống Hữu Hình mà thôi.

 

 

1- BẢY  HỆ  THỐNG  HỮU  HÌNH

 

 

           Mỗi Hệ Thống Hữu Hình gồm 7 Dãy Hành Tinh (Chaines Planétaires).

          Mỗi Dãy Hành Tinh có 7 Bầu Hành Tinh (7 Planètes), có Bầu có đất cát, có Bầu chưa có đất cát.

           7 Hệ Thống nầy là:

          1)- Hệ Thống Kim Tinh (Système de Vénus).

          2)- Hệ Thống Mộc Tinh (Système de Jupiter).

          3)- Hệ Thống Thủy Vương Tinh hay là Hải Vương Tinh (Système de Neptune).

          4)- Hệ Thống Hỏa Vương Tinh (Système de Vulcain).

          5)- Hệ Thống Thổ Tinh (Système de Saturne).

          6)- Hệ thống Thiên Vương Tinh (Système d’Uranus).

          7)- Hệ Thống Địa Cầu (Système de la Terre).

          Tôi để: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ theo Ngũ Hành cho dễ nhớ, chớ kỳ thật trong 7 Dãy nầy:

          1)- Tiến hóa cao hơn hết là Dãy Kim Tinh.

          2)- Kế đó là Dãy Địa Cầu chúng ta và

          3)- Dãy Thủy Vương Tinh đồng bực tiến hóa với nhau.

          Cuối cùng là 4 Dãy kế đó thấp hơn Dãy Địa Cầu một bậc.

          4)- Dãy Mộc Tinh.

          5)- Dãy Hỏa Vương Tinh.

          6)- Dãy Thổ Tinh và

          7)- Dãy Thiên Vương Tinh.

 

 

2- NHỮNG  BẦU  HÀNH  TINH  THẤY  ĐƯỢC

 

 

          1)- Dãy Kim Tinh có 1 Bầu Hành Tinh thấy được là: Sao Hôm.

          2)- Dãy Địa Cầu chúng ta có 3 Bầu thấy được là: Hỏa Tinh (Mars), Trái Đất (Terre) và Thủy Tinh (Mercure).

          3)- Dãy Thủy Vương Tinh cũng như Dãy Địa Cầu có 3 Bầu thấy được.

          4)- Dãy Hỏa Vương Tinh có 1 Bầu thấy được.

          5)- Dãy Thổ Tinh có 1 Bầu thấy được.

          6)- Dãy Mộc Tinh có 1 Bầu thấy được.

          7)- Dãy Thiên Vương Tinh có 1 Bầu thấy được.

          Tất cả có 11 Bầu thấy được.

          Nói tóm lại: 7 Dãy Hành Tinh có 49 Bầu, mà chỉ có 11 Bầu thấy được, còn 38 Bầu không thấy được.

          Lý do đó sẽ giải sau.

 

 

3- THỜI  ĐIỂM  SANH  RA  7  DÃY  HÀNH  TINH

KHÔNG  PHẢI  7  DÃY  HÀNH  TINH  CỦA  MỘT  HỆ  THỐNG  SANH  RA  MỘT  LƯỢT  VỚI  NHAU

 

 

          Xin đừng lầm lộn Dãy Hành Tinh (Chaine Planétaire) với một Hệ Thống Hành Tinh (Système Planétaire).

          Tôi tưởng cần nhắc lại là mỗi Hệ Thống Hành Tinh gồm 7 Dãy Hành Tinh.

          Nhưng không phải 7 Dãy Hành Tinh của một Hệ Thống sanh ra một lượt với nhau.

          Dãy thứ Nhứt sanh ra đưa các Loài Vật tiến tới một mức độ nào đó rồi tan rã. Phận sự nó đã hoàn tất.

          Dãy thứ Nhì sanh ra để nối tiếp sự tiến hóa các Loài Vật của Dãy thứ Nhứt, rồi khi hoàn thành nhiệm vụ nó cũng tan rã.

          Và cứ tiếp tục như thế cho tới Dãy chót là Dãy thứ Bảy.

          Khi Dãy thứ Bảy tan rã rồi, tức thì Một Hệ Thống Hành Tinh hay là Một Hệ Thống Tiến Hóa chấm dứt.

          Đức Thái Dương Thượng Đế không sanh hóa các Loài Vật trên Dãy đó nữa.

 

 

4- SỰ  TAN    CỦA  THÁI  DƯƠNG  HỆ  CHÚNG  TA

(Pralaya de Notre Système Solaire)

 

 

          Tới một ngày kia không biết đúng là bao nhiêu tỷ năm nữa, Mặt Trời và 10 Hệ Thống Hành Tinh của chúng ta đều tan rã.

          Thái Dương Hệ của chúng ta sẽ không còn nữa.

           Linh Hồn của Vạn Vật đều nhập vào Tâm của Đức Thái Dương Thượng Đế.

          Hết lúc sanh hóa thì đến lúc nghỉ ngơi.

          Hết lúc nghỉ ngơi sẽ sanh hóa lại.

          Đức Thái Dương Thượng Đế của chúng ta sẽ sanh hóa một Thái Dương Hệ khác lớn hơn Thái Dương Hệ nầy.

          Thành, Trụ, Hoại, Không là bốn danh từ trong Đạo Đức dùng để ám chỉ: Sự sanh hóa, sự tiến hóa và sự tiêu diệt một Dãy Hành Tinh, một Thái Dương Hệ và luôn tới Vũ Trụ Càn Khôn, bởi vì tới một ngày kia tất cả những Thái Dương Hệ trên Không Gian, dầu lớn, dầu nhỏ đều phải tan rã một lượt với nhau.

          Trên Không Gian sẽ tối tăm mù mịt, không còn Sự Sống nữa. Rồi đúng ngày giờ sẽ sanh hóa lại.

          Mấy điều nầy bị bắt buộc phải nói, thật ra chúng ta không tưởng tượng nổi, vì không biết gì về mấy việc đó.

          Lý luận rất vô ích, bởi vì chúng ta còn bị Luật Pháp Thiên Nhiên chi phối và hạn chế những sự hành động. Chúng ta sanh ra, ban đầu nhỏ bé, sau lớn khôn, kế đó là già nua rồi đúng ngày giờ thì phải bỏ Xác.

          Chúng ta còn phải đầu thai rất nhiều kiếp trước khi tiến hóa đến bậc Siêu Phàm.

          Điều khôn ngoan hơn hết ngay bây giờ chúng ta lo học hỏi rành về Cơ Tiến Hóa rồi theo đó, càng ngày càng lên cao đến khi đạt được Mục Tiêu định sẵn trong Thái Dương Hệ nầy.

QUYỂN   NHÌ

 

 

 

 

 

 

SỰ  LIÊN  QUAN  GIỮA  CON  NGƯỜI    VŨ TRỤ

 

 

BỐN  THỂ    HOẠI  CỦA  CON  NGƯỜI :

XÁC  THÂN,  PHÁCH,  VÍA,  HẠ  TRÍ


 

SỰ  LIÊN  QUAN  GIỮA 
CON 
NGƯỜI      TRỤ

 

 

          Muốn hiểu sự liên quan giữa Con Người và Vũ Trụ cần phải biết:

          - Ba Ngôi của Đức Thái Dương Thượng Đế.

          - Ba Ngôi của Con Người.

          - Sự cấu tạo những Thể của Con Người.

 

 

I- BA  NGÔI  CỦA  ĐỨC  THÁI  DƯƠNG  THƯỢNG  ĐẾ

A- TÊN  CỦA  BA  NGÔI

 

 

          Đức Thái Dương Thượng Đế phân làm 3 Ngôi.

          1)- Ngôi thứ Nhứt: Ấn Giáo gọi là Shiva (Si-Hoa).

          Thiên Chúa Giáo gọi là Đức Chúa Cha (Dieu, Le Père).

          2)- Ngôi thứ Nhì: Ấn Giáo gọi là Vishnou (Quích-Nu).

          Thiên Chúa Giáo gọi là Đức Chúa Con (Dieu, Le Fils).

          3)- Ngôi thứ Ba: Ấn Giáo gọi là Brahma (Phạn-Vương).

          Thiên Chúa Giáo gọi là Đức Chúa Thánh Thần (Dieu, le Saint Esprit).

 

 

B- TRẠNG  THÁI  CỦA  BA  NGÔI

 

 

          1)- Trạng thái của Ngôi thứ Nhứt là: Ý Chí (Volonté).

          2)- Trạng thái của Ngôi thứ Nhì là: Minh Triết - Bác Ái (Sagesse Amour).

          3)- Trạng thái của Ngôi thứ Ba là Trí Tuệ Sanh Hóa (Intelligence Créatrice).

 

 

C- CÔNG  VIỆC  CỦA  BA  NGÔI

 

 

          1)- Ngôi thứ Ba biến đổi Hỗn Nguơn Nhứt Khí ra những Nguyên Tử đặng lập 7 Cõi Trời.

          2)- Ngôi thứ Nhì sanh hóa những Hình Dạng các Loài Vật và cho chúng nó Sự Sống.

          3)- Ngôi thứ Nhứt: Khi đúng ngày giờ thì cho Chơn Thần Nhập Thế.

 

 

II- MỤC  ĐÍCH  SANH  HÓA  THÁI  DƯƠNG  HỆ  NẦY

 

 

          Thái Dương Hệ nầy sanh ra để đưa các Loài Vật tiến tới Con Người (hay là các Thiên Thần), còn Con Người thành một Vị Siêu Phàm.

 

 

A- BẢY  LOÀI  TRÊN  DÃY  ĐỊA  CẦU  CHÚNG  TA

 

 

          Trên Dãy Địa Cầu chúng ta có 7 Loài:

          1)- Tinh Chất thứ Nhứt (1ère Essence Élémentale) ở tại Cõi Thượng Thiên.

          2)- Tinh Chất thứ Nhì (2è Essence Élémentale) ở tại Cõi Hạ Thiên.

          3)- Tinh Chất thứ Ba (3è Essence Élémentale) ở tại Cõi Trung Giới (Dục Giới).

          Còn 4 Loài nữa ở tại Cõi Trần là:

          4)- Loài Kim Thạch.

          5)- Thảo Mộc.

          6)- Thú Vật.

          7)- Con Người.

          Ở đây tôi không kể các Hàng Thiên Thần (trong đó có Loài Ngũ Hành). Các Ngài theo đường tiến hóa riêng biệt khác hơn đường tiến hóa của Con Người, nhưng mà các Ngài vẫn luôn luôn giúp đỡ Loài Người.

          Có điều nên nhớ rằng:

          Linh Hồn phải đầu thai vào 6 Loài kể ra trên đây, hết Loài nầy tới Loài kia, trước khi làm Con Người. Ở trong mỗi Loài đều có những Bài Học mà mỗi Linh Hồn phải Học cho thuộc.

 

 

B- BA  NGÔI  CỦA  CON  NGƯỜI

 

 

          Cũng như Đức Thái Dương Thượng Đế, Con Người phân làm 3 Ngôi:

          1)- Ngôi thứ Nhứt là Chơn Thần (Monade).

          2)- Ngôi thứ Nhì là Chơn Nhơn (Soi Supérieur, Égo, Individualité).

          3)- Ngôi thứ Ba là Phàm Nhơn (Soi Inférieur, Personnalité).

          Chơn Thần vốn ở Cõi Đại Niết Bàn.

          Chơn Thần tạo ra Chơn Nhơn thế cho mình để hoạt động và học hỏi ở các Cõi dưới kế đó là:

          Cõi Niết Bàn.

          Cõi Bồ Đề và

          Cõi Thượng Thiên.

          Tới phiên Chơn Nhơn lại tạo ra Phàm Nhơn để kinh nghiệm ở 3 Cõi dưới nữa là:

          Cõi Hạ Thiên.

          Cõi Trung Giới hay là Dục Giới và

          Cõi Hạ Giới hay là Hồng Trần.

          Nói cho đúng tất cả những Người trên Thế Gian đều là những Phàm Nhơn chớ chưa phải là Chơn Nhơn.

 

 

C- CHƠN  NHƠN

1- BA  NGÔI  CỦA  CHƠN  NHƠN

 

 

          Chơn Nhơn có 3 Ngôi:

          Ngôi thứ Nhứt là Atma.

          Ngôi thứ Nhì là Bouddhi.

          Ngôi thứ Ba là Manas.

 

 

2- TRẠNG  THÁI  CỦA  BA  NGÔI  CỦA  CHƠN  NHƠN

 

 

          Trạng Thái của Ngôi thứ Nhứt Atma là Ý Chí.

          Trạng Thái của Ngôi thứ Nhì Bouddhi là Minh Triết, Bác Ái.

          Trạng Thái của Ngôi thứ Ba Manas là Trí Tuệ Sanh Hóa.

          Chúng là phản ảnh 3 Ngôi của Đức Thái Dương Thượng Đế.

 

 

D-  NHỮNG  THỂ  CỦA  CON  NGƯỜI

* TÊN  CỦA  7  THỂ  CỦA  CON  NGƯỜI

 

 

          Con Người có 7 Thể, kể ra như sau đây:

          1)- Tiên Thể hay là Thể Thiêng Liêng (Corps Atmique).

          2)- Kim Thân hay là Thể Trực Giác (Corps Bouddhique).

          3)- Thượng Trí hay là Nhân Thể (Corps Mental Supérieur ou Corps Causal).

          4)- Hạ Trí (Corps Mental Inférieur).

          5)- Vía hay là Dục Thể (Corps Astral).

          6)- Phách (Double Éthérique).

          7)- Xác Thân (Corps Physique).

          Trong 7 Thể nầy có 3 Thể trường tồn và 4 Thể hư hoại.

 

 

* BA  THỂ  TRƯỜNG  TỒN
BỐN  THỂ    HOẠI

 

 

          Ba Thể trường tồn là: Tiên Thể, Kim Thân và Thượng Trí.

          Chúng theo Con Người từ kiếp nầy qua kiếp khác cho tới khi Con Người thành Chánh Quả làm một Vị Siêu Phàm.

          Bốn Thể hư hoại là: Hạ Trí, Vía, Phách và Xác Thân.

          Chúng chỉ dùng trong một kiếp thôi. Sau khi Con Người thác rồi, một ít lâu chúng nó đều tan rã ra các Nguyên Tử, thứ nào theo thứ nấy.

          Kiếp sau Con Người sẽ có 4 Thể mới khác và do theo Luật Nhân Quả, chúng đồng bản tánh với 4 Thể kiếp trước.

 

 

* 7  THỂ  CỦA  CON  NGƯỜI  ĐỂ  DÙNG 
TẠI  5  CÕI    THÔI

 

 

          7 Thể của Con Người để dùng tại 5 Cõi mà thôi.

          1)- Xác Thân và

          2)- Cái Phách -  dùng tại Cõi Trần.

          3)- Cái Vía - dùng tại Cõi Trung Giới hay là Dục Giới.

          4)- Hạ Trí - dùng tại 4 Cảnh thấp Cõi Thượng Giới (Cõi Trí Tuệ), 4 Cảnh nầy cũng gọi là Cõi Hạ Thiên.

          5)- Thượng Trí - dùng tại 3 Cảnh cao Cõi Thượng Giới (Cõi Trí Tuệ), 3 Cảnh nầy cũng gọi là Cõi Thượng Thiên.

          6)- Kim Thân - dùng tại Cõi Bồ Đề.

          7)- Tiên Thể - dùng tại Cõi Niết Bàn.

          Còn 2 Thể nữa dùng tại Cõi Đại Niết Bàn và Tối Đại Niết Bàn; khi thành một Vị Chơn Tiên rồi mới biết.

          Tôi xin nói sơ lược về 4 Thể hư hoại trước, bởi vì chúng là những Thể mà ta dùng thường ngày như: Xác Thân để hành động, Cái Phách để thâu sanh lực, Cái Vía để biểu hiện ý muốn và tình cảm, Cái Trí để học hỏi, suy nghĩ, v.v…

 

1- XÁC  THÂN

a- GIẢI  THÍCH  VỀ  XÁC  THÂN

 

 

          Xác Thân làm bằng 3 Chất Khí thấp của Hồng Trần là: Chất Đặc, Chất Lỏng và Chất Hơi.

          Tuy nhiên nó là Thể duy nhất trong 7 Thể được cấu tạo một cách hoàn bị hơn hết. Nó tiến hóa khá cao.

          Ít ai biết nó là một lò “Tạo Hóa” ở Phàm Trần chứa rất nhiều điều bí mật.

          Mặc dầu Khoa Học đời nay tiến rất mau và rất nhiều, nhưng người ta cũng chưa thật biết rõ hết về Xác Thân. Nếu không tìm học Sự Sống hay là Phần Tinh Thần ở trong những Hình Thể mà lo quan sát Vật Chất mãi thì cả triệu năm nữa Con Người cũng chưa khám phá hết những bí mật trong Thân Thể Con Người.

          Xin kể ra vài việc có thật đã xảy ra trước mắt nhiều người mà Khoa Học không giải thích được. Thí dụ như: Đã có những vị Đạo Sĩ Fa-Kia (Fakir) bên Ấn Độ làm cho trái tim ngưng đập mà không chết, uống những ắt-xít (acite) độc và mạnh nhứt, nuốt những đinh sắt, miểng chai vô bụng mà vẫn không sao. Cho chôn dưới đất ba, bốn tháng, hay cả năm tùy theo công phu luyện tập; chừng đào lên vẫn sống như thường. Đi qua đi lại trên than đỏ, đứng sửng trong lửa hồng, tắm dầu đương sôi sùng sụt mà không phỏng da chút nào, v.v…

          Mấy việc nầy thoát ra ngoài phạm vi những Luật Vật Lý của Cõi Trần và chỉ có Huyền Bí Học mới cắt nghĩa được mà thôi. Tuy nhiên điều đó không phải là một việc dễ dàng ai ai cũng hiểu nổi.

          Còn vài sự bí mật khác nữa như: Phân nửa thân mình bên mặt Đàn Ông chứa đầy Điển Dương, phân nửa bên trái chứa đầy Điển Âm. Còn Đàn Bà thì trái ngược lại: Phân nửa bên mặt thì đầy Điển Âm, còn phân nửa bên trái thì đầy Điển Dương. Nhưng mà bên trong của phía Dương lại có Âm và bên trong của phía Âm lại có Dương.

          Có hai Hạch rất quan trọng.

          Hạch Mũi (Corps Pituitaire ou Hypophyse) để luyện Thần Nhãn, còn

          Hạch Óc (Glande Pinéale) để chuyển di tư tưởng.

          Trong thân Đàn Ông thì Bộ Não Tủy Thần Kinh làm chủ, còn trong mình người Đàn Bà thì Bộ Giao Cảm Thần Kinh làm chủ, vì thế Đàn Bà có nhiều tình cảm và dễ xúc động hơn Đàn Ông.

          Còn một việc nữa: Vì sao các Giống Dân trên Địa Cầu lại không nói một thứ tiếng? Tại sao đứa bé Nước nào sanh ra rồi hiểu được và nói được tiếng Nước đó, chớ không nói tiếng Nước khác? Hoàn toàn bí mật!

 

b- PHƯƠNG  PHÁP  LUYỆN  TẬP  XÁC  THÂN

 

 

          Nhưng điều cần thiết là ta nên biết Tánh Nết của Xác Thân để sửa trị nó.

          Xác Thân vốn lười biếng, hay lánh nặng, tìm nhẹ, thích ăn món ngon, vật lạ, ngủ nghê, chơi đùa, ít muốn ra công giúp đỡ ai cả.

          Ta phải huấn luyện nó như tập rèn một Con Thú cho siêng năng, giỏi giắn để giúp ích ta trong công việc hằng ngày.

          Ta phải nuôi dưỡng nó với những đồ ăn uống tinh khiết như: Gạo Lứt (nên bỏ tuyệt Gạo Trắng), Muối Đen, Đường Mỡ Gà, [2] Mật Ong, Rau Trái. Bớt Thịt, Cá lần lần.

          Bỏ tuyệt Thuốc Lá, Thuốc Phiện, các Chất Ma Túy và Rượu bất cứ dưới hình thức nào.

           Tập Thể Dục tùy theo tuổi tác và sức khỏe. Hoàn toàn sạch sẽ. Từ miếng ăn, giấc ngủ cho tới những hành động phải có Điều Độ, đừng phí sức.

          Nói tóm lại, giữ đúng Phép Vệ Sinh có thể tránh được nhiều chứng bịnh hiểm nghèo và thêm tuổi thọ. Mặc dầu có Số Mạng, nhưng cũng có Tự Do Ý Chí, nói một cách khác, có Trời mà cũng có ta vậy. Không phải cái chi xảy đến cũng đổ thừa cho Số Mạng cả.


 

2- CÁI  PHÁCH 
(Double  Éthérique)

a- GIẢI  THÍCH  VỀ  CÁI  PHÁCH

 

          Xác Thân còn một phần nữa tối quan trọng vì nó có ảnh hưởng tới sự Sanh Tồn của Xác Thân. Ấy là Cái Phách.

          Cái Phách làm bằng 4 Chất Dĩ Thái Hồng Trần (Éthers Physiques) và bởi nó giống hệt Con Người cho nên gọi nó là Double Éthérique. Màu nó xám tím hay xám xanh tùy theo Người.

          Nó xâm nhập các Tạng Phủ Con Người và ló ra khỏi thân mình lối 6 ly, nhưng nó chiếu ngang ra những Lằn Sanh Lực dài lối một tấc rưởi bao chung quanh mình. Những Lằn Sanh Lực nầy làm ra Hào Quang của Sự Khương Kiện (Aura de Santé). Khi Con Người đau, những Lằn Hào Quang nầy rọi ngã xuống đất. Vì thế người có Thần Nhãn nhìn vô Cái Phách liền biết được sức khỏe của Con Người ra sao.

 

 

b- CÁI  CHI    ẢNH  HƯỞNG  TỚI  CÁI  PHÁCH

 

 

          Sự nóng, sự lạnh, các thứ khí, các thứ hơi, từ điện, thuốc mê, thuốc lá, các chất ma túy, vật thực, rượu, thuốc men, v.v…, đều có ảnh hưởng tới Cái Phách.

 

c- SANH  LỰC    GÌ ?

 

 

          Sinh Lực tiếng Phạn là Prana, là một Thứ Thần Lực do Đức Thái Dương Thượng Đế ban rải ra. Ở Cõi nào, Cảnh nào cũng có Sinh Lực Prana. Nó là Sự Sống, không có nó, không có Sự Sống của các Hình Thể.

          Tại Cõi Trần Sinh Lực Prana từ Mặt Trời tuôn xuống. Nó kết hợp chặt chẽ những Nguyên Tử để làm ra các Cơ Quan trong mình Con Người và Loài Vật. Nhờ có nó, Con Người và Loài Vật mới có cảm giác. Khi nó lìa bỏ Xác Thân các Tế Bào đều rã ra những Nguyên Tử như trước.

          Nói tóm lại, trong vật thực, trong không khí, trong thuốc men, trong thảo mộc, kim thạch đều có Sinh Lực Prana.

          Cái máy thâu nhận và ban phát Sinh Lực Prana khắp châu thân để Nuôi Sống Con Người và Vật là Cái Phách. Khi Con Người ngửi thuốc mê Cái Phách xuất ra khỏi Xác Thân trong một thời gian, Sinh Lực không vô mình được như trước, cho nên Con Người hôn mê, dầu bị mổ xẻ cũng không biết đau đớn chi cả. Chừng hết thuốc mê rồi, Cái Phách trở vô nhập Xác, Con Người lần lần tỉnh lại.

 

 

d- SỰ  TINH  KHIẾT  CỦA  CÁI  PHÁCH

 

 

          Cái Phách liên quan mật thiết với Xác Thân. Nếu Xác Thân tinh khiết, nó tinh khiết, Xác Thân ô trược, nó ô trược.

          Ta nên biết rằng: Máu huyết, xương, thịt của Con Thú đều chứa đựng Từ Điển và Tánh Tình của nó. Nếu ta ăn thịt nó, máu huyết nó, xương, thịt nó, từ điển nó và tánh tình nó biến thành máu huyết ta, từ điển ta, tánh tình ta. Ta bị nó Nhiễm. Vì lẽ đó mà người ta mới nói: “Thức ăn có ảnh hưởng đến Tánh Tình và Phong Tục của Dân Chúng.” rất đúng.

          Thật ra, Ăn Chay Trường được là điều tốt hơn hết.

          Nếu có thể, mỗi ngày đều tắm gội, quần áo giặt thường xuyên. Móng tay, móng chân đều cắt ngắn, giữ cho sạch sẽ.

          Từ Điển của ta theo 10 ngón tay và 10 ngón chân xẹt ra ngoài. Nếu tay chân ta, quần áo ta dơ bẩn Từ Điển của ta cũng hóa ra hôi hám. Nó sẽ nhiễm những người lại gần ta. Ta sẽ mắc tội Trời, chạy trốn đi đâu cũng không khỏi. Đừng cho việc đó là chuyện nhỏ mọn không đáng kể. Ở trong một Thế Giới mà Định Luật chi phối không có chi là không quan trọng, dầu việc lớn hay việc nhỏ cũng vậy. Đến một việc nhỏ mọn như nhổ một cây cỏ và vô tình giết một con kiến cũng phạm tội sát sanh. Chúng ta nên đọc những quyển giải về Nhân Quả rồi suy nghĩ thêm sẽ hiểu nhiều. Cũng phải tập phân biện cái nào hữu ích nhiều, cái nào hữu ích ít mà hành động.


 

3- CÁI  VÍA

a- GIẢI  THÍCH  VỀ  CÁI  VÍA

 

 

          Thể thứ Ba là Cái Vía. Nó giống hệt Con Người, nó làm bằng 7 Chất Thanh Khí của Cõi Trung Giới pha lẫn rất nhiều Tinh Chất Dục Vọng tức là Tinh Chất thứ Ba (3è Essence Élémentale ou Élémental du Désir).

          Nhờ Cái Vía, Con Người kinh nghiệm được đủ các thứ tình cảm, từ những thứ cao thượng, tốt đẹp cho tới những thứ thấp hèn, đê tiện.

          Chất Khí làm Cái Vía rút vô trong mình Con Người hết 99%, chỉ còn 1% ló ra ngoài và làm ra Hào Quang Cái Vía.

 

 

b- MÀU  SẮC  CÁI  VÍA

 

 

          Cái Vía có màu sắc, vì mỗi tánh tình của Con Người đều hiện ra bằng một màu trong Cái Vía. Nếu tánh tình tốt thì màu sắc đẹp đẽ, còn tánh tình xấu thì màu sắc đen tối.

          Thí dụ như: Tánh tình nham hiểm sẽ hiện ra một đám mây mù đen kịt.

          Trong lúc giận dữ, trong Cái Vía hiện ra những quần đen có những lằn đỏ nhọn như mũi tên.

          Đám mây đỏ hồng là hay giận giỗi.

          Màu đỏ cam là kiêu căng.

          Màu vàng là khôn ngoan.

          Màu hường là yêu thương, v.v…

 

 

c- LÀM  SAO  THẤY  ĐƯỢC  MẤY  MÀU  NẦY ?

 

 

          Muốn thấy được mấy màu nầy cần phải có Thần Nhãn.

          Thần Nhãn là gì? Thần Nhãn là một cách rung động của Cái Vía ứng đáp được với những làn sóng rung động của Cõi Trung Giới.

          Chung quanh ta có không biết bao nhiêu những Làn Sóng Rung Động: Có thứ dài, có thứ ngắn, có thứ mau lẹ, có thứ chậm chạp, v.v…

          Nói tóm lại: “Tất cả đều là những Sự Rung Động.”

          Chúng ta chỉ ứng đáp được một số rất nhỏ những Làn Sóng nầy làm ra: Điện, ánh sáng, âm thanh, nóng lạnh, v.v…

          Người ta nói: Thần Thánh biết lòng dạ Con Người. Mới nghe qua không biết tại sao. Sau mới rõ là: Ý muốn, tánh tình của Con Người đều có Hình Dạng. Thần Thánh có Thần nhãn nên thấy được Con Người cầu cái chi, tưởng cái chi.

          Nếu biết phương pháp tập luyện sẽ có Thần Nhãn; nhưng lúc ban đầu luôn luôn phải lầm lạc, bởi vì Chất Khí làm Cõi Trung Giới trong trẻo và rung động mau lẹ; thường thường thì thấy hình ngược. Phải có những Nhà Đạo Đức lão luyện chỉ dạy mới khỏi sai lầm. Cũng nên biết Chất Khí làm Cái Vía trong mình Con Người luôn luôn chạy từ trên đầu xuống dưới chân, rồi từ chân trở lên đầu. Vì thế trong Cái Vía trên đầu, dưới chân, bên hông, trước mặt, sau lưng đều thấy được cả, chớ không phải như con mắt mình.

 

 

d- PHẬN  SỰ  CỦA  CÁI  VÍA

* 3  PHẬN  SỰ  CỦA  CÁI  VÍA

 

 

           Xin kể 3 phận sự của Cái Vía:

          1)- Làm cho Con Người biết cảm động.

          2)- Làm trung gian giữa Linh Hồn và Xác Thân ở Cõi Trần.

          3)- Làm một Thể độc lập để cho Con Người dùng khi qua Cõi Trung Giới.

          Sinh Lực Prana vô Cái Vía qua Cái Phách rồi chạy khắp châu thân đặng nuôi các Tế Bào.

          Những sự rung động ở ngoại giới theo Ngũ Quan vô Cái Óc xác thịt qua Cái Phách rồi tới Cái Vía.

          Cái Vía biến đổi chúng thành ra những Cảm Giác rồi đưa cho Cái Trí xem xét trước khi Linh Hồn nhận định điều đó.

          Trái lại, mệnh lịnh của Linh Hồn phải qua Cái Trí, Cái Vía, Cái Phách, Cái Óc xác thịt rồi mới có sự thi hành.

          Vì vậy người ta gọi Cái Vía là Cái Cầu bắc cho Linh Hồn thông thương với Cõi Trần. Nói hình như lâu, thật ra sự rung động chuyển giao lẹ như chớp, có lẽ còn hơn 300.000 cây số trong một giây, xuyên qua mấy Thể xỏ rế với nhau và đồng ở một chỗ với nhau.

 

 

* LÀM  MỘT  THỂ  ĐỘC  LẬP

 

 

          Lúc ta thức ta dùng Cái Vía để biểu hiện Tình Cảm và Ý Muốn.

          Chừng ta ngủ, ta ở trong Cái Vía qua Cõi Trung Giới. Cái Vía thành ra một Thể Độc Lập. Nhưng ta chưa có thể dùng Cái Vía như dùng Xác Thân, bởi vì ta chưa thức tỉnh ở Cõi Trung Giới, ta mơ mơ màng màng, không khác nào ta ngủ vậy.

 

 

* CHIÊM  BAO  LINH

 

 

          Trừ ra một vài trường hợp Linh Hồn thấy có chuyện quan hệ tới Xác Thân nên làm cho Cái Vía nhớ đặng truyền lại cho Cái Óc xác thịt. Ta gọi sự thấy đó là Chiêm Bao Linh. Những điều ta thấy sẽ xảy ra thật trong vài ngày sau hoặc một ít lâu.

          Còn bao nhiêu Điềm Chiêm Bao khác là những Chiêm Bao Mộng Mị không đáng kể.

 

 

e- HỌC  PHÉP  XUẤT  VÍA

 

 

          Tuy nhiên có phương pháp làm cho Cái Vía xuất ra khỏi Xác Thân lúc nào cũng được và sử dụng nó như sử dụng Xác Thân để làm những điều mình muốn. Người ta gọi đó là: Xuất Vía hay là Thân Ngoại Hữu Thân.

          Nhưng rất nguy hiểm khi làm Cái Vía đặc lại giống Hình Người, có đủ mặt mũi, tay chân, đi đứng, nói năng, chuyện vãn như Người Thật vậy. Bởi vì trong lúc ấy nếu Cái Vía bị gai đâm hay bị ai đánh chỗ nào thì Xác Thân nằm ở nhà bị vết tích tại chỗ đó.

          Trừ ra trường hợp biết cách lấy 4 Chất Dĩ Thái làm ra một Hình Giả như các Nhà Huyền Bí Học lão luyện hay là Đệ Tử Chơn Sư thì Hình Giả không có liên lạc chi với Xác Thiệt cả. Đánh đập Hình Giả nầy như đánh vào gió, Xác Thiệt không hề hấn. (Xin xem quyển Cái Vía và quyển Minh Triết Thiêng Liêng 1 của tôi có nói nhiều trường hợp xuất Vía).

 

 

f- TÁNH  NẾT  CÁI  VÍA

 

 

          Cái Vía chứa nhiều Tinh Chất thứ Ba hay là Tinh Chất Dục Vọng, Tinh Chất Nầy sau đầu thai làm Kim Thạch, cho nên nó ưa những Sự Rung Động Dữ Dội. Nó giục cho Con Người nóng nảy, giận hờn, tham lam, xảo trá, quỉ quyệt, hung bạo, cộc cằn, đắm mê tửu sắc; nói tóm lại là các Nết Hư, Tật Xấu rất ghê gớm. Không phải nó muốn hại Con Người, nhưng những Sự Rung Động Mạnh Bạo giúp Nó Mau Tiến Hóa, Mau Cứng Rắn.

 

 

g- PHƯƠNG  PHÁP  SỬA  TRỊ  CÁI  VÍA

 

 

          Muốn sửa trị Cái Vía cần phải tập những Tánh Tốt Đối Lập với các Tật Xấu mình đã có.

          Phương pháp tập luyện, Đức Bà A. Besant chỉ dạy trong hai quyển sau đây:

          1)- Đời Sống Huyền Bí Của Con Người và

          2)- Con Đường Của Người Đệ Tử.

          Tôi có bàn những phương pháp Tập luyện đó trong quyển “Đạo Lý Thực Hành” của tôi, và xin xem quyển Ba và quyển Tư của Bộ nầy.

          Sự rèn luyện Tánh Nết đòi hỏi một thời gian khá lâu. Phải bền chí cố gắng từ 25, 30 năm và kéo dài từ kiếp nầy qua kiếp khác. Không phải chỉ năm mà được Đắc Đạo thành Chánh Quả.

          Tại sao thế ?

          Vì cả ngàn kiếp trước, ta đồng hóa với Cái Vía, những điều Cái Vía muốn, ta tưởng là ta muốn cho nên ta thực hành ngay. Vì vậy ta gây ra không biết bao nhiêu Quả, dữ nhiều, lành ít. Ta phải đầu thai đi đầu thai lại để thanh toán những mối nợ nần. Mỗi kiếp, ta trả chưa hết nợ cũ mà lại còn tạo ra những Quả mới khác.

          Vậy, làm chủ 3 Thể: Thân, Vía, Trí không phải là việc dễ dàng. Nếu không sửa trị được chúng sợ khó tiến mau đến mục đích đã định sẵn cho Nhơn Loại trong Thái Dương Hệ nầy.

          Tam Bành Lục Tặc mà người tu hành thường nghe nói là 3 Thể: Thân, Vía, Trí, chớ không có ai vô đó. Chúng ở trong mình ta đây.


 

4- HẠ  TRÍ

a- GIẢI  THÍCH  VỀ  HẠ  TRÍ

 

 

          Thể thứ tư là Hạ Trí.

          Hạ Trí làm bằng 4 Chất Thượng Thanh Khí thấp của Cõi Thượng Giới cũng gọi là Chất Trí Tuệ, ấy là: Chất thứ Tư, Chất thứ Năm, Chất thứ Sáu và Chất thứ Bảy và có pha nhiều Tinh Chất thứ Nhì gọi là Tinh Chất Trí Tuệ ở cõi Hạ Thiên.

           Đối với người có Huệ Nhãn Cái Trí mường tượng đám sương mù dày đặc giống Hình Người. Có một vòng tròn bao chung quanh trong trẻo hơn và làm ra Hào Quang Cái Trí.

          Càng ngày Con Người càng mở mang, Cái Trí càng ngày càng lớn.

          Cái Trí chia ra nhiều Vùng, mỗi Vùng đối chiếu với một phần của Cái Óc xác thịt và chịu ảnh hưởng của một thứ tư tưởng đặc biệt. Thí dụ như: Có Vùng chịu ảnh hưởng của Tư Tưởng Khoa Học, có Vùng chịu ảnh hưởng của Tư Tưởng Mỹ Thuật, có Vùng chịu ảnh hưởng của Tư Tưởng Đạo Đức, v.v…

          Bởi vì những Vùng nầy chưa mở mang đồng đều cho nên có những người giỏi Toán mà Vẽ rất dở, có người giỏi Âm Nhạc mà không biết chi về Lý Hóa, v.v…

          Cái Trí không có Ngũ Quan, nó chỉ có Một Quan mà thôi để tổng hợp những cảm giác do Cái Vía đưa vô rồi làm ra một thứ khái niệm duy nhất.

          Người ta gọi nó là Chúa Tể của Giác Quan hay là Giác Quan thứ Sáu.

 

 

b- PHẬN  SỰ  CỦA  CÁI  TRÍ

 

 

          Cái Trí có nhiều phận sự như:

          a)- Sanh ra những tư tưởng hữu hình.

          b)- Học hỏi, phân biện, xét đoán, ghi nhớ, tưởng tượng.

          c)- Làm một Thể độc lập để cho Con Người dùng khi lên Cõi Hạ Thiên của Cõi Thượng Giới.

 

 

c- HIỆU  QUẢ  CỦA    TƯỞNG

 

 

          Mỗi lần ta suy nghĩ hay tư tưởng, Cái Trí ta rung động.

          Sự rung động nầy sanh ra hai hiệu quả:

          a)- Những Làn Sóng Tư Tưởng (Ondes de Pensée).

          b)- Hình Tư Tưởng (Formes Pensée).

           Hai hiệu quả nầy khác nhau.

 

 

* NHỮNG  LÀN  SÓNG    TƯỞNG

 

 

          Muốn hiểu sao gọi là Làn Sóng Tư Tưởng thì ta hãy ném một cục đá xuống nước. Cục đá chìm xuống ta thấy những làn sóng nổi lên lấy chỗ cục đá rớt làm trung tâm, những làn sóng nầy càng lớn ra xa, một ít lâu sau mất dạng.

          Cũng thế đó, Tư Tưởng của ta sanh ra những Làn Sóng trong Cõi Trí Tuệ kế đó lan ra khắp nơi. Chúng có màu sắc nhưng càng đi xa, màu sắc nầy càng phai lợt và sức mạnh cũng giảm đi lần lần.

 

 

* TÁNH  CÁCH  ĐẶC  BIỆT  CỦA  LÀN  SÓNG    TƯỞNG

 

 

          Làn Sóng Tư Tưởng chỉ truyền ra Tánh Cách của Tư Tưởng chớ không phải Vấn Đề Tư Tưởng.

          Thí dụ: Người Ấn Độ thiền định về Đức Krishna, những Làn Sóng Tư Tưởng của anh sanh ra đi khuyến khích lòng tín ngưỡng của những kẻ ở chung quanh. Nếu gặp người Công Giáo thì nó giục y nhớ tới Đức Ky Tô và tôn kính Ngài.

          Khi nó vô Trí người Phật Giáo thì nó làm cho lòng sùng bái Đức Phật của y càng thêm mạnh mẽ, chớ không phải đụng ai nó cũng giục nhớ tới Đức Krishna là Vấn Đề Tư Tưởng đâu.

          Trái lại khi nó gặp một người thuộc về Phái Duy Vật, nó làm cho phần cao thượng của Cái Trí y mở rộng ra.

 

 

* HÌNH    TƯỞNG

GIẢI  THÍCH

 

 

          Sự rung động của Cái Trí rút chất Trí Tuệ làm ra một cái hình gọi là Hình Tư Tưởng.

          Thế nên khi ta tưởng tới cái nón, liền hình cái nón hiện ra trước mặt ta, song ta không thấy nó.

          Hình nầy là một Sinh Vật, cũng sống lâu, cũng thác yểu, cũng mạnh, cũng yếu như Con Người vậy. Muốn cho Hình Tư Tưởng sống lâu và mạnh mẽ cần phải tưởng tới nó luôn luôn, bởi vì tư tưởng là đồ ăn nuôi dưỡng nó. Không có đồ ăn, nó sẽ đói, yếu sức rồi thác. Thác là rã ra Chất Trí Tuệ như trước.

          Bây giờ, thí dụ ta tưởng tới một người nào đó tư tưởng của ta liền hóa hình đi tới ở một bên người đó. Nếu ta chỉ tưởng có một lần thôi, chẳng bao lâu Hình Tư Tưởng nầy sẽ tan ra Chất Trí Tuệ như trước. Số mạng của những tư tưởng không rõ ràng, mơ màng là như thế. Trái lại, nếu mỗi ngày ta mỗi tưởng vài ba lần như vậy lâu năm nhiều tháng Hình Tư Tưởng nầy sẽ sống lâu.

          Khi luyện tập tư tưởng cho mạnh mẽ ta có thể sai nó đi làm những công việc mà ta muốn.

          Xin nhớ ba điều kiện thành lập những Hình Tư Tưởng như sau đây:

          1)- Cái Phẩm của Tư Tưởng làm ra Màu Sắc.

          2)- Bản Tánh của Tư Tưởng làm ra Hình Dạng.

          3)- Sự Đích Xác của Tư Tưởng làm ra Châu Vi.

 

 

MÀU  SẮC  CỦA  NHỮNG  HÌNH    TƯỞNG

 

 

          Hình Tư Tưởng có Màu Sắc. Xin nói ý nghĩa vài màu thôi. Tỷ như tình yêu thương sanh ra màu hường sáng rỡ.

          Có lòng từ bi bác ái, thì màu vàng trong trẻo như Cây Ngọc Trâm Hoa (Primevère).

          Màu vàng chỉ về Trí Tuệ nhưng biến đổi khác nhau tùy theo tính cách của tư tưởng.

          Nếu lo mở mang trí thức có mục đích ích kỷ thì màu vàng trở nên sậm và tối.

          Kiêu căng, tham vọng thì màu đỏ cam, v.v…

          Đây là cách nói miễn cưỡng, phải mở Thiên Nhãn và có kinh nghiệm mới thật hiểu được ý nghĩa của các màu và không lầm lạc.

 

 

d- SỰ  CHỌN  LỰA    TƯỞNG

 

 

          Sự chọn lựa tư tưởng còn quan trọng và cần thiết hơn sự chọn lựa đồ ăn, bởi vì Tư Tưởng có quyền năng Sửa Đổi Số Mạng ta chẳng những kiếp nầy mà còn các kiếp sau nữa.

          Muốn hiểu vì lý do nào cần phải biết sự ích lợi của tư tưởng tốt và cái tai hại của tư tưởng xấu.

 

 

e- ẢNH  HƯỞNG  CỦA    TƯỞNG  XẤU

 

 

          Mỗi lần ta tạo ra một tư tưởng xấu ta phạm phải ba tội một lượt:

          Tội thứ Nhứt: Ta làm hại ta trước hết, vì Cái Trí ta trở nên xấu xa.

          Tội thứ Nhì: Ta hại những người ở chung quanh ta.

          Tội thứ Ba: Ta thêm những sự đau khổ cho đời.

 

 

* TA  HẠI  TA  TRƯỚC  HẾT

 

 

          Khi ta tạo ra một tư tưởng xấu, Chất Thượng Thanh Khí tốt ở trong Trí ta bay ra ngoài, Chất Thượng Thanh Khí xấu hạp với tư tưởng xấu đó ở ngoài bay vô choán chỗ Chất Thượng Thanh Khí tốt mới vừa bay ra. Nếu ngày nầy qua ngày kia ta nuôi Cái Trí ta với những tư tưởng thấp hèn màu sắc nó trở nên đen tối. Người có Huệ Nhãn nhìn vô thấy một cảnh tượng u buồn đáng thương vô cùng. Tâm Địa ta cũng vì đó trở nên xấu xa. Ta sẽ tiến hóa chậm.

 

 

* TA  HẠI  NHỮNG  NGƯỜI   
CHUNG  QUANH  TA

 

 

          Tư tưởng xấu của ta bay ra ngoài rồi vô Trí những người ở chung quanh, xúi họ nhớ tới những điều sai quấy. Nếu nó gặp người nào đã có sẵn tánh xấu như nó, nó thêm sức cho tánh xấu đó, nó lại khơi mầm các tánh xấu khác chưa hiện ra. Rồi tới phiên mấy người bị tư tưởng nầy nhiễm lại sanh ra những tư tưởng xấu khác đồng bản tánh với những tư tưởng đã vô Trí họ. Cứ tiếp tục như thế năm nầy qua năm nọ.

 

 

* TA  THÊM  NHỮNG  SỰ  ĐAU  KHỔ  CHO  ĐỜI

 

 

          Tư tưởng xấu của ta hiệp với những tư tưởng xấu đồng một loại với nó tạo ra một Hình Tư Tưởng gọi là Liên Hiệp Tư Tưởng (Egrégore). Hình Tư Tưởng nầy mạnh mẽ, sống lâu và rất quỷ quyệt, nó xúi giục người ta làm ác, không phải một người mà cả trăm, cả ngàn người như vậy. Rồi cả trăm, cả ngàn người nầy lại sanh ra những Hình Tư Tưởng Liên Hiệp ác độc khác nữa. Cứ tiếp tục như thế từ đời nầy qua đời kia. Bây giờ ta hãy thử nghĩ: Một Tư Tưởng ta cho là bé nhỏ có thể biến thành một tai họa lớn lao cho đời, nếu ta không trừ khử nó ngay tức khắc khi nó vừa sanh ra. Đây có nghĩa là khi ta mới sanh ra một tư tưởng sai quấy thì lập tức phải sanh ra một Tư Tưởng Tốt khác Đối Lập với Nó để trừ khử cái hiệu quả của nó đi. Cách nầy cũng gọi là phương pháp xua đuổi một tư tưởng xấu.

          Thế nên chúng ta khá thận trọng trong khi tư tưởng vì ta sẽ chia sớt Quả Ác với những người bị tư tưởng ta xúi giục làm ác. Quả nầy gọi là Cộng Nghiệp (Karma Collectif). Và đừng quên rằng: Khi ta sanh ra một tư tưởng, nó bắt Cái Trí ta nhớ tới nó mãi, có dịp sẽ hành động liền.

 

 

f- ẢNH  HƯỞNG  CỦA    TƯỞNG  TỐT  ĐẸP

 

 

          Trái lại, mỗi lần ta tạo ra một tư tưởng tốt đẹp ta được ba điều lợi:

          Một là: Ta làm cho Cái Trí ta trở nên tốt đẹp.

          Hai là: Ta giúp ích cho những người ở chung quanh ta.

          Ba là: Ta giúp ích cho đời.

 

 

* TA  LÀM  CHO  CÁI  TRÍ  TA  TRỞ  NÊN  TỐT  ĐẸP

 

 

          Khi ta tạo ra một tư tưởng tốt, một phần Chất Khí xấu trong Trí ta bay ra ngoài. Chất Thượng Thanh Khí tốt hạp với tư tưởng tốt đó bay vô Trí ta choán chỗ của Chất Khí xấu vừa ra đi.

          Nếu ta cứ suy nghĩ tới điều thiện lâu năm nhiều tháng, Cái Trí ta chứa đầy những Chất Khí tốt. Nó sẽ chiếu ra nhiều màu sắc rực rỡ làm đẹp mắt những vị có Huệ Nhãn và Tâm Địa của ta cũng trở nên tốt đẹp, ta đã thành một vị Thiện Nhân.

 

 

* TA  GIÚP  ÍCH  NHỮNG  NGƯỜI    CHUNG  QUANH  TA

 

 

          Những người ở chung quanh ta nhờ tư tưởng tốt của ta làm nảy nở mầm các tánh tốt còn tiềm tàng ở trong lòng họ, khuyến khích họ làm những việc lành, việc phải.

          Nhờ như thế, họ lần lần trở thành những người tốt.

 

 

* TA  GIÚP  ÍCH  CHO  ĐỜI

 

 

          Tư tưởng tốt lành của ta hiệp với những tư tưởng tốt lành khác đồng bản tánh với nó làm ra một Hình Tư Tưởng Liên Hiệp. Hình Tư Tưởng Liên Hiệp nầy là một vị Phúc Thần khuyến khích người ta làm những việc phước thiện.

          Nhưng nếu ngày nay Nhân Loại còn đau khổ nhiều là tại những vị Phúc Thần nầy rất ít và cảm hóa Thiên Hạ một cách cực kỳ khó khăn, bởi vì người ta làm việc ác dễ, làm việc thiện khó. Hầu hết chưa chịu tập tánh tự chủ, dầu biết phương pháp cũng vậy và cứ làm theo ý muốn của mình bất chấp những Lời Dạy của các vị Thánh Nhân, Hiền Triết.

          Nếu Sông Duyên cứ đầy tràn mãi thì biết tới ngày nào chúng ta mới được hoàn toàn Giải Thoát, khỏi đọa Luân Hồi và thành Chánh Quả.

 

 

g- TƯ  TƯỞNG  BIẾN  THÀNH  HÀNH  ĐỘNG

 

 

          Đừng quên rằng: Người ta Tưởng Trước rồi mới Làm Sau, nghĩa là Tư Tưởng sẽ biến thành Hành Động khi có dịp đưa tới.

          Vì lẽ nầy mà Đoạn trước tôi đã nói: “Nếu thờ ơ ta sanh ra một tư tưởng bất chánh, lập tức ta phải tạo ra một Tư Tưởng Chơn Chánh Đối Lập để diệt trừ hậu quả của nó. Đây có nghĩa là: Không để tư tưởng bất chánh nầy xúi giục ta làm những điều quấy khi có cơ hội và cùng một lúc phá tan Nghiệp Quả xấu mới vừa gây ra.”

          Nếu ta làm việc mà không cần suy nghĩ ấy là tại mấy ngày trước, mấy tháng trước, có khi mấy kiếp trước, ta đã suy nghĩ về việc đó rồi. Nay có cơ hội nó thực hành liền.

          Quả nầy gọi là Quả Muồi, đáng sợ lắm nếu nó là Quả xấu.

 

 

h- TÁNH  NẾT  HẠ  TRÍ

 

 

          Cái Trí tánh nết không trầm tĩnh, kiêu căng, phách lối. Nó tự cho hơn người, coi thường kẻ khác. Nó tưởng cái nầy rồi bắt qua cái kia liền, giống như Con Khỉ nhảy nhót trên nhành. Vì vậy người ta mới gọi là Tâm Viên Ý Mã.

          Nhưng cái tai hại lớn lao hơn hết là nó dựng lên một bức rào Chia Rẽ, Ích Kỷ, giữa “Người và Ta.” Nó nói: “Tôi là Tôi,” “Anh là Anh.”

          Các sự đau khổ đều do đây mà sanh ra.

 

 

i- SỬA  TRỊ  CÁI  TRÍ

 

 

          Muốn cho Cái Trí trở thành một khí cụ tốt lành để cho Con Người sử dụng thì phải biết phương pháp sửa trị nó.

          Phương pháp đó là Định Trí và Tham Thiền.

QUYỂN  BA

 

 

 

 

 

 

SỰ  ĐÀO  TẠO  NHỮNG  QUAN  NĂNG

 

ĐỊNH  TRÍ

 

THAM  THIỀN


SỰ  ĐÀO  TẠO  NHỮNG  QUAN  NĂNG

 

 

          Ở đây tôi chỉ lặp lại những lời của Đức Bà A. Besant và những vị Đại Sư Huynh dạy về phương pháp mở mang những quyền năng của Trí Tuệ và những điều mà Sinh viên phải biết để thực hành trên Con Đường Nhập Môn.

          Tất cả những Kẻ Chí Nguyện đều phải xây dựng nền tảng của trí thức một cách kiên nhẫn, ngày nầy qua ngày kia, không bỏ qua một ngày nào. Sự tiến bộ mau hay chậm sẽ tương đương với sự cố gắng của Sinh Viên nhiều hay ít.

          Đây cũng là Luật Nhân Quả, quý bạn nên nhớ ghi nhận.

          Bây giờ chúng ta hãy xem xét hai điểm chánh sau nầy:

          Một là: Sự hoạt động của Cái Trí.

          Hai là: Phương pháp tinh luyện nó.

 

 

* SỰ  HOẠT  ĐỘNG  CỦA  CÁI  TRÍ

 

 

          Chúng ta hãy ngồi yên lặng xem xét nội trong nửa giờ, Cái Trí của chúng ta hoạt động như thế nào. Trong 100 lần chắc chắn hết 95 lần nó không có làm gì ích lợi cho mình cả. Nó nhớ Đông, nhớ Tây, hết cái nầy tới cái kia, toàn là những chuyện đâu đâu, vô vị, không ăn nhập chi với chúng ta, hoặc giả nó thâu nhận những tư tưởng ở ngoài vô. Những tư tưởng nầy thuộc về loại nào? Chúng từ đâu đến? Ở trong Trí chúng ta bao lâu? Rồi ra đi hồi nào? Về đâu? Chúng ta không biết gì về mấy việc đó. Chúng ta không kiểm soát chúng được. Vậy Cái Trí chúng ta giống như ngả ba đường cái xe cộ qua lại dập dìu, làm cho bụi cát bay mù mịt. Nó cũng không khác gì một cái quán trọ, những khách lữ hành nầy tới ghé nghỉ chơn vài giờ rồi đi, kế những người khác tới, và chẳng bao lâu cũng giã từ. Ngày nầy qua tháng kia cứ tiếp tục như vậy mãi. Một Cái Trí như thế làm sao mở mang mau lẹ được. Vì vậy sự tiến hóa của chúng ta rất chậm chạp. Thay vì mỗi kiếp chúng ta phải vượt qua cả trăm dặm đường, chúng ta chỉ đi có vài cây số, bởi vì chúng ta cứ thường đứng lại một chỗ giậm chân chớ không chịu tiến. Giậm chân một hồi rồi mới đi nữa.

 

 

* NHỮNG  ĐIỀU  NÊN  BIẾT  VỀ  SỰ  MỞ  MANG  CÁI  TRÍ

 

 

          Cái Trí là một Thể như Xác Thân. Nó cần dùng những đồ ăn để phát triển. Những đồ ăn nầy là Tư Tưởng. Nếu ta luôn luôn nuôi nó với những Tư Tưởng thanh cao, từ thiện, bác ái, vị tha; hoàn toàn vô tư lợi, nó trở nên mảnh mai, nhẹ nhàng, chiếu ra những màu sắc tốt đẹp vô cùng. Đồng thời nó cũng thu hút những tư tưởng thanh cao khác đồng bản tánh với nó. Những Tư Tưởng nầy tới giúp đỡ nó, tăng cường sức mạnh của nó và xu hướng của nó về những điều thiện.

          Trái lại, nếu là những tư tưởng thấp hèn, đắm mê vật dục, nó hóa ra xấu xa nặng nề, màu sắc đen tối, vì nó cũng rút vô những tư tưởng ti tiện ở bên ngoài đồng bản tánh với nó, khiến cho xu hướng về điều ác của ta lại càng thêm mãnh liệt hơn trước.

          Có hai điều phải luôn luôn ghi nhớ:

          Một là: Cái Trí tự động thu hút những tư tưởng đồng bản tánh với nó, như đá nam châm hút sắt.

          Hai là: Ngoài việc để học hỏi, ghi nhớ, phân biện, xét đoán, nó còn có quyền năng sanh hóa, sáng tạo mạnh mẽ phi thường nhờ sức tưởng tượng. Ta phải biết lợi dụng quyền năng nầy giúp tiến mau. Muốn thành công trong lúc luyện tập Dô Ga (Yoga) thì phải hội đủ hai điều kiện cần yếu sau đây:

          Một là: Ý chí cương quyết không chi lay chuyển được.

          Hai là: Sức tưởng tượng mạnh mẽ vô cùng.

          Nhưng phải thêm điều kiện thứ ba là: Hạnh Kiểm Tốt.

          Không vậy, hành giả sẽ sa vào Con Đường Bàng Môn Tả Đạo, khi nó được những quyền năng siêu việt.

          Xin nhắc quý bạn rằng: Mấy anh Bàng Môn cao cấp vẫn trường chay, tuyệt dục. Ý chí cứng cỏi hơn sắt đá cho nên phép tắc rất cao cường. Đối với họ, chúng ta chỉ là những đứa trẻ con mới lên ba. Hãy cẩn thận đừng khinh khi mà bị mắc rồi té lăn cả chục vòng mới ngồi dậy được. Đau rất nhiều!

 

 

*TINH  LUYỆN  CÁI  TRÍ

 

 

          Trước hết xin nhắc lại câu chuyện giữa Arjuna và Đức Krishna về sự kiểm soát Hạ Trí.

          Arjuna thưa với Đức Thượng Đế Krishna như vầy: “Bạch Sư Phụ Krishna! Cái Trí thật là loạn động, lung lăng mãnh liệt, và khó uốn nắn, tôi tưởng khó kềm hãm nó cũng như khó kềm hãm gió vậy.”

          Đức Thượng Đế Krishna mới đáp: “Hỡi người chiến sĩ võ trang hùng hậu! Lẽ cố nhiên Cái Trí nghịch ngợm và khó trị, nhưng người ta có thể thắng phục nó nhờ một sự luyện tập không ngừng và tánh lãnh đạm.”

          Lãnh Đạm đây có nghĩa là: Không nhớ tới Công Đức của mình, nói một cách khác: Trong Hữu Vi có Vô Vi.

          Phải thực hành không ngừng nghỉ theo phương pháp đã chỉ định theo cấp bậc của mình. Không còn cách nào khác nữa. Sự luyện tập nầy không ai thay thế cho các bạn được, không một ai luyện tập giùm cho quý bạn được. Chính là quý bạn phải tự mình làm công việc nầy. Nếu quý bạn không thực hành điều đó thì không khi nào quý bạn gặp được Chơn Sư. Mong mỏi gặp các Ngài rất vô ích, nếu quý bạn không chịu tự bắt buộc mình phải tuân theo những điều kiện do Luật Trời qui định, để dắt dẫn quý bạn tới Dưới Chân Các Ngài.

          Những điều kiện đó là:

          1)- Kiểm Soát Tư Tưởng.

          2)- Tham Thiền.

          3)- Lập Hạnh để Phụng Sự.

 

 

* KIỂM  SOÁT    TƯỞNG

 

 

          Kiểm Soát Tư Tưởng là:

          a)- Biết mình tưởng cái gì.

          b)- Không cho tư tưởng của kẻ khác xâm nhập vào Trí ta để khuấy rối.

          c)- Sản xuất những tư tưởng cao thượng, tốt lành, tinh khiết.

          d)- Không hề tạo ra những tư tưởng ác độc, xấu xa, thấp hèn, ô trược.

          e)- Bắt Cái Trí ngừng nghỉ khi cần.

          Nói một cách khác là Làm Chủ Cái Trí, bắt buộc nó phải tuân theo mạng lịnh của mình, nó phải ở dưới quyền điều khiển của mình, chớ không được lung tung như trước, và tự do hành động nữa.

 

 

I- ĐỊNH  TRÍ

A- PHƯƠNG  PHÁP  ĐỊNH  TRÍ

 

 

          Trước nhất bắt buộc Cái Trí tập trung vào mỗi việc của ta làm hằng ngày. Nó bỏ đi ta kéo nó lại và trụ vào đó cho tới khi nào hoàn thành công chuyện mới thôi. Xong việc nầy rồi mới bắt qua việc khác. Mỗi lần làm một việc mà thôi. Người ta gọi điều đó là Định Trí.

           Thí dụ: Cầm cây viết, chỉ biết cầm cây viết, lấy cái chén, chỉ biết lấy cái chén, không được nhớ tới cái chi ngoài cây viết và cái chén.

          Ở đây tôi xin nhắc cho quý bạn nhớ trong quyển “Dưới Chân Thầy” có ba câu dạy Sinh Viên phải tập trung tư tưởng vào mỗi việc của mình làm như sau đây:

          1)- Con còn phải kiểm soát tư tưởng của con bằng một cách khác nữa, con đừng để nó vẩn vơ, dù con đang làm việc gì, hãy tập trung tư tưởng của con vào đó để việc làm có thể hoàn hảo. (Trang 45, in lần thứ 18).

          2)- Con phải hết sức chú ý vào mỗi phần việc của con làm để cho nó thật hoàn hảo. (Trang 57).

          3)- Dù tay con làm việc gì cũng vậy, con hãy làm nó với hết sức mình. (Trang 58-59)

          Như vậy quý bạn làm cho Cái Trí trở nên mạnh mẽ và quý bạn bắt đầu làm chủ nó. Luyện tập liên tiếp, quý bạn kềm chế Cái Trí và bắt nó đi theo con đường mà quý bạn đã chọn lựa cho nó. Cái khả năng nầy chuẩn bị cho quý bạn sống một đời sống cao siêu, sẽ mở rộng ra trước mặt quý bạn. Quý bạn cũng nên nhớ rằng: Người nào có thể tập trung tư tưởng vào một mục đích, là người thành công nhất trong những sự việc của Đời Sống Hằng Ngày. Người nào biết tư tưởng một cách liên tiếp, sáng suốt và rõ ràng là người biết cách tự vạch con đường đi của mình, dầu trong Đời Sống Hồng Trần cũng vậy.

          Sự rèn luyện Cái Trí như thế sẽ giúp ích quý bạn trong những chuyện nhỏ mọn, tầm thường cũng như trong những việc cao thượng. Quý bạn sẽ lần lần phát triển quyền năng kiểm soát tư tưởng, nó là một trong những đức tánh cần thiết cho người Đệ tử, bởi vì trước khi quý bạn được Chơn Sư dạy dỗ để mở thêm những quyền năng cao siêu, quý bạn phải làm chủ dụng cụ phát sanh ra tư tưởng tức là Cái Trí, để cho dụng cụ nầy chỉ làm những gì tinh khiết, từ thiện và hữu ích mà quý bạn đã quyết định, chớ không sản xuất những gì ô trược mà quý bạn gớm ghiếc và không ưng thuận chút nào cả.

          Như thế mới không gây Quả xấu nặng nề cho quý bạn, bởi vì tư tưởng của ai đã trở thành Đệ Tử sẽ vô cùng mãnh liệt; nó có một sinh lực và một năng lực lớn lao và cảm hóa người đời một cách mau lẹ phi thường về điều thiện cũng như về điều bất thiện.

 

 

B- HUỜN 

1- PHƯƠNG  PHÁP  HUỜN HƯ

 

 

          Tuy nhiên, đừng quên điều nầy: Sau khi làm việc nhiều giờ có ý thức, cái óc mệt mỏi cần phải ngưng tư tưởng lại, đừng nhớ điều chi nữa, trong vài phút. Cái óc sẽ phục hồi sức lực mau lẹ.

          Phương pháp nầy gọi là Huờn Hư.

          Nhưng muốn cho Huờn Hư có hiệu quả, phải luyện tập cả năm như vậy cho có thói quen, sau mới thành công dễ dàng.

 

 

2- ĐỪNG  PHUNG  PHÍ  SỨC  MẠNH  CỦA    TƯỞNG

 

 

          Đừng tưởng nhớ bông lông, đừng mơ hão, ước huyền. Đừng để Cái Trí vởn vơ, nhảy từ vấn đề nầy tới vấn đề khác, không mạch lạc, không khác nào con bướm mới đáp xuống bông nầy vụt bay sang bông khác, không ngừng.

          Đó là sự phung phí sức mạnh của tư tưởng một cách vô lối, vì không biết kiểm soát Cái Trí. Luôn luôn phải có sẵn trong Trí một số tư tưởng tốt đẹp và những câu “Chơn Ngôn,” khi nào không suy nghĩ chi hết, nhớ tới chúng nó liền. Nhưng điều hay hơn hết là lập tức thấy Thánh Dung trước mặt hay là nhớ tới Cội Rễ của mình và nói trong lòng: “Tôi là Atman (Ắt-măn), Chơn Linh cao cả, toàn năng, toàn thiện, toàn giác, vô sở bất tại.” Lặp đi lặp lại nhiều lần chừng nào tốt chừng nấy.

          Nên bày tỏ ý kiến nếu cần, nhưng chớ nên cãi vã, tranh luận để đem thắng lợi về mình. Chúng ta chỉ biết một khía cạnh hết sức nhỏ nhen của Chơn Lý, còn nhiều khía cạnh lớn lao khác mà chúng ta chưa hiểu chi cả. Cho tới bậc Chơn Sư cũng chỉ biết toàn diện Chơn Lý của Dãy Địa Cầu chúng ta mà thôi. Ngoài Vũ Trụ của chúng ta, còn không biết bao nhiêu Chơn Lý cao siêu nữa mà các vị Siêu Phàm phải học hỏi và khám phá lần lần từ cả triệu năm nầy qua cả triệu năm khác. Thật là vô tận vô biên. Thế nên người ta yêu cầu các Sinh Viên phải tự biết mình, hết sức khiêm tốn, đúng đắn và kỹ lưỡng trong những hành vi của mình từng li, từng tí.

          Tranh đua cao thấp làm tiêu hao trí lực và không còn tự chủ được nữa. Kết cuộc không đi tới đâu cả, bởi vì ai ai cũng có lý lẽ riêng của mình. Không khéo sẽ mất niềm hòa khí lại còn sanh ra thù oán về sau.

          Tôi xin thuật câu chuyện nầy cho quý bạn nghe, năm 1912 Đức Bà A. Besant có nói: Một hôm, có một người kia tới nói với tôi: “Bác Sĩ Steiner biết những Đại Chơn Lý hơn Bà nhiều.” Tôi bèn đáp: “Tốt lắm! Vậy ông hãy theo Bác Sĩ. Còn riêng tôi, tôi không thấy như Bác Sĩ và tôi cũng không muốn thiên hạ đều tin tưởng như tôi.”

          Nếu một người khác bị chê bai nhục nhã như thế liền nổi giận. Nhưng Đức Bà A. Besant rất điềm tĩnh, Bà trả lời một cách êm ái không làm phật lòng kẻ đối thoại. Gương sáng của Bà để cho chúng ta soi chung.

          Còn vài điểm cần thiết nữa tưởng cũng phải nhắc đến.

          Tuyệt đối đừng ghé mắt vào những Tiểu Thuyết ái tình lãng mạn, trộm cướp, giết người. Chỉ nên đọc những sách Luân Lý, Đạo Đức, ca tụng những Gương Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa, Liêm Sỉ và nhất là nên mỗi ngày mỗi xem những sách giải về những điều quan trọng của đời sống, những điều có tính cách vĩnh viễn trường tồn, chớ không phù du mộng ảo.

          Đừng đọc nhiều. Đọc một trang mà thật hiểu hết ý nghĩa còn mở quan năng của Trí Tuệ hơn là đọc 3, 40 trang một cách vội vàng hấp tấp, mà chỉ hiểu sơ sài và nhớ vài điều chánh.

          Khi đọc xong 3 trang, hãy xếp sách lại rồi lấy viết, viết lại một cách vắn tắt những điều mình đã đọc và giải ý nghĩa của Tác Giả theo ý mình hiểu, vì danh từ chỉ diễn tả được có phân nửa tư tưởng có lẽ còn ít hơn nữa. Nhưng đừng vừa lòng với những tư tưởng phát hiện do những chữ trong câu. Hãy vượt qua những hàng rào chữ và tìm thế đi sâu vào tư tưởng của Tác Giả. Muốn đạt được kết quả tốt, Cái Trí mình phải hoàn toàn yên tịnh và chú ý trọn vẹn vào điều mình muốn hiểu. Có người sẽ bảo: “Phương pháp nầy đi chậm lắm.” Không phải thế. Bạn sẽ thấy chậm thật, nhưng một khi có thói quen rồi thì cái chi thoạt đầu thấy khó khăn, chậm chạp, sau sẽ hóa ra dễ dàng, mau lẹ. Trong một thời gian luyện tập, Trí thông minh của các bạn sẽ lần lần phát triển nhiều hơn trước. Cũng cần có một quyển sổ tay ghi những điều mình không biết, hay nghĩ không ra để khi gặp một vị Sư Huynh đưa ra nhờ người giải giùm. Đừng bao giờ quên rằng: Sinh Viên Huyền Bí Học không hề lảng tránh đời sống hằng ngày nhưng anh cũng không muốn bị trói buộc vào trong đó. Anh biết lợi dụng tất cả những cơ hội đưa đến để biến đổi những sự khó khăn của cuộc đời, hầu đạt được những đức tánh cần yếu cho sự tiến bước trên con đường tu tập và nhờ thế anh dẹp tan ảnh hưởng rất tai hại của những sự quyến rủ êm đẹp bên ngoài đã làm cho cả muôn, cả triệu người say mê và sa ngã không cưỡng lại được.

          Trong việc làm của anh không có một chút chi hối hả, biếng nhác, hay sơ sót, mặc dầu việc đó có thể rất là tầm thường. Nhờ cách làm việc chu đáo mà đời sống hằng ngày của các bạn trở thành một trường hoạt động lớn lao, quí giá để mở mang lần lần những năng lực của anh, càng ngày càng thấy thêm nhiều.

          Thực hành đều đặn những điều kể ra trên đây Sinh Viên sẽ nhận thấy sự biến đổi tốt đẹp trong tâm hồn và anh sẵn sàng bước qua một giai đoạn khác là Tham Thiền.

 

 

II- THAM  THIỀN

A- ĐỊNH  NGHĨA  THAM  THIỀN

 

 

          Nói một cách dễ hiểu, Tham Thiền là luyện tập Cái Trí trụ vào một tư tưởng, một vấn đề tùy ý mình chọn lựa trong một thời gian, để thấu hiểu nó và sự chú ý không hề bị gián đoạn trong lúc ta suy nghĩ.

 

B- HAI  CÁCH  THAM  THIỀN

 

 

          Có hai cách Tham Thiền:

          1)- Tham Thiền có tánh cách mở mang Trí Thức.

          2)- Tham Thiền có tánh cách Sùng Bái.

          Con Người Đạo Hạnh có ước vọng làm Đệ Tử Chơn Sư phải tập Tham Thiền cả hai cách.

 

 

1- THAM  THIỀN    TÁNH  CÁCH 
MỞ  MANG  TRÍ  THỨC

 

 

          Đầu đề dùng để Tham Thiền rất nhiều. Có thể dùng:

          a)- Một câu Kinh.

          b)- Một câu Chơn Ngôn.

          c)- Một Đoạn Văn trong một cuốn sách Thánh.

          d)- Một Châm Ngôn.

          e)- Một vấn đề thuộc về Triết Học, Khoa Học, Mỹ Thuật, Tôn Giáo, v.v…

          Nói cho đúng, muốn thấy hiệu quả cần phải suy nghĩ từ giờ nầy qua giờ kia, nếu cần cả ngày lẫn đêm, cả tháng, cả năm như vậy, chớ không phải chỉ trong lúc ngồi Thiền 5, 10, 15, 20 phút là đủ.

          Ngồi Thiền như thế là tập cho có thói quen, sau mới đi xa được. Ngày sau trọn đời chúng ta chỉ là một chuỗi tham thiền mà thôi.

          Tôi xin đem hai gương bền chí trong công việc tầm kiếm Khoa Học trích trong quyển Đạo Lý Thực Hành của tôi trang 37.

 

 

a-  SỰ  PHÁT  MINH  CỦA  ÔNG  ARCHIMÈDE 
(287-212)  B.C.

 

 

          Thuở xưa, Vua Syracuse là Hiéron nghi ngờ Cái Mũ Triều Thiên bằng vàng của Ngài đặt thợ Kim Hoàn làm có pha bạc. Ngài bèn bảo ông Archimède suy nghĩ cách nào đặng khám phá sự gian lận đó mà phải để y nguyên cái mũ. Ông Archimède suy nghĩ lâu lắm mà chưa tìm ra giải pháp nào cả.

          Một bữa kia, ông đang tắm thấy khi tay chân vô nước thì mất đi sức nặng của nó rất nhiều. Trong lúc đó trí hóa ông vụt bừng tỏ sáng suốt, ông tìm ra Nguyên Lý gọi là Nguyên Lý Archimède mà ngày nay các Học Sinh Trường Trung Học đều biết, là:

          Vật nào thả xuống nước cũng bị một sức đẩy từ dưới lên trên mạnh bằng trọng lượng của nước bị đùa trôi.

          Ông mừng quá bèn chạy ra đường quên mặc quần áo, vừa chạy vừa la: “Eurêka! Eurêka!” (“Tôi Tìm Được! Tôi Tìm Được!”)

 

 

b-  SỰ  PHÁT  MINH  CỦA  ÔNG  THOMAS  EDISON  (1847-1931)

 

 

          Ông làm việc không nghỉ, không ngừng, năm ngày, năm đêm liền, mới hoàn thành ống quay bằng sáp của Máy Hát do ông phát minh.

          Ông thí nghiệm 1.700 lần và tốn hết 40.000 trang giấy trước khi thành công trong sự phát minh Bóng Đèn Điện.

          Về sự làm những Dây trong Bóng Đèn Điện, ông tốn không biết bao nhiêu công phu. Ông dùng những vật liệu sau đây: Cạt-Bon (Carbone), Bạch Kim (Platine), Irridium và 60 Thứ Cây Cỏ, sau rốt tới Tre Nhật Bổn. Trong lúc ông làm Dây Bóng Đèn Điện với Tre Nhật Bổn ông vẫn tìm kiếm luôn luôn trong Phòng Thí Nghiệm. Cuối cùng ông phát minh ra được một Thứ Sợi gọi là Filament Étiré, ấy là một Thứ Xên-Lu-Lôi (Cellulose) hỗn hợp (Mixture de Cellulose).

          Thứ nầy thay thế cho chỉ Tre.

          Người ta hỏi bí quyết thành công của ông thì ông trả lời: Làm việc cho nhiều và suy nghĩ luôn luôn (Travailler toujours et réflechir sans cesse)”.

          Từ xưa đến nay, những sự phát minh và những sự sáng chế như: Điện, Vô Tuyến Điện, Phi Cơ, Tiềm Thủy Đỉnh, Viễn Vọng Kính, Ra-Đi-Ô (Radio), Ra-Đa (Radar), Vô Tuyến Truyền Hình, Hỏa Tiển, Vệ Tinh Nhân Tạo, những Máy Móc Điện Tử, Ánh Sáng Laser, các thứ Máy Móc, những Thuốc Kháng Sinh, Trụ Sinh, v.v…, đều do sự Tham Thiền mà ra cả. Người đời gọi cái đó là suy nghĩ, tính toán, tìm kiếm. Các Nhà Bác Học, các Nhà Thông Thái, các Nhà Triết Học, các Nhà Khoa Học Tham Thiền nhiều lắm, song hầu hết đều thiên về Vật Chất. Ít có ai được như quý ông William Crookes, Sir Oliver Lodge, Camille Flammarion và vài vị khác.

          Trái lại các Nhà Tu Hành Đạo Đức đều hướng về Tinh Thần, vì biết rằng nhờ Tinh Thần ban cho Vật Chất Sự Sống, Vật Chất mới hoạt động được.

          Tinh Thần là vạn năng, chớ Vật Chất không có quyền năng sanh hóa như Khoa Học đã lầm tưởng vậy.

          Nhưng thời gian qua, cái chi phải đến sẽ đến!

          Bắt đầu từ năm 1975, thiên hạ tìm hiểu Tinh Thần nhiều hơn, từ đó về sau, Tinh Thần lần lần thắng phục được Vật Chất. Tuy nhiên, sự chiến đấu sẽ gay go và nguy hiểm vô cùng. Nó kéo dài cả muôn, cả triệu năm trước khi Vật Chất chịu bó tay đầu hàng, bởi vì chúng ta hiện giờ đang ở vào Thời Kỳ Mạt Pháp (cũng gọi là Mạt Kiếp) (Kaliyuga). Thời kỳ nầy khởi đầu từ ngày Đức Krishna bỏ xác, tính tới nay, 1971, đã được 5072 năm.

 

 

2- THAM  THIỀN    TÁNH  CÁCH  SÙNG  BÁI

 

 

          Phải trụ tư tưởng của mình vào:

          a)- Hoặc Sư Phụ, tức là một vị Chơn Sư nào mà mình muốn làm Đệ Tử, dầu mình chưa biết, nhưng hy vọng một ngày kia sẽ gặp Ngài.

          b)- Hoặc một Đấng Thiêng Liêng như Đức Phật, Đức Bồ Tát, v.v…

          Đây là một Lý Tưởng Thiêng Liêng; phải lấy Lý Tưởng đó làm mục tiêu, thấy nó luôn luôn trước mắt, không có chi làm lay chuyển được.

          Sự tập trung tư tưởng nầy càng ngày càng thấy dễ dàng khi Cái Trí ta phát triển theo đường lối đó.

          Lấy Lý Tưởng cao siêu nầy làm đối tượng cho những buổi Tham Thiền liên tiếp hằng ngày. Một ngày kia ta sẽ đạt được Lý Tưởng nầy, bởi vì  “Con Người Tưởng Mãi cái chi sẽ Thành ra Cái Đó” như một Đoạn trong Cổ Thánh Kinh Upanishad Ấn Độ đã nói.

          Trong Kinh Chandogyapanishad có câu nầy: “Ngươi là Thượng Đế Brahma (Phạn Vương).” Đức Phật há chẳng bảo: “Ta đã thành Phật, còn các Ngươi sẽ thành Phật,” tức là những Phật vị lai.

          Phải bền chí, mặc dầu chưa thấy kết quả hiện ra rõ rệt.

          Phải Tham Thiền cho tới mức Hạ Trí biến thành một cái gương trong trắng phản chiếu Thượng Trí.

          Một khi những sự cuồng loạn của Hạ Trí bị kềm chế, Hạ Trí trở nên yên tịnh. Nó giống như mặt nước hồ thu phẳng lặng không có một ngọn gió nhẹ nhàng nào thổi tới làm nó xao động rung chuyển.

          Một dòng nước êm đềm như thế mới phản chiếu được cái vẻ huy hoàng rực rỡ của Vầng Thái Dương lóng lánh muôn màu.

          Cũng thế đó, trạng thái của Lương Thức cao siêu sẽ soi mình trên tấm gương của Hạ Trí yên tịnh.

          Chỉ tới chừng đó chúng ta mới thấy được cái gì mà chúng ta tìm kiếm bấy lâu nay. Bây giờ chúng ta hiểu biết thật sự, chớ không phải chúng ta tin theo những lời của người ta nói. Chúng ta mới biết: Thế nào là Tự Tín.

          Thời gian thành công sẽ là bao lâu? Không ai đoán được. Nó tùy thuộc sự cố gắng của chúng ta. Lúc ban sơ chúng ta thường thất bại, đó là lẽ tự nhiên. Nhưng hãy lấy những sự thất bại làm những bài học hay để đi đến sự thành công rực rỡ sau nầy.

          Đừng quên câu: “Nước chảy đá mòn.” Đúng lắm vậy. Một giọt nước từ trên nhỏ xuống một tảng đá lớn, ban sơ không thấy chi hết, nhưng giọt nước cứ nhỏ xuống mãi, vài năm sau chỗ nước nhỏ bị hủng sâu xuống thành một lỗ.

          Khi chúng ta áp dụng những Nguyên Tắc nầy không nghỉ, không ngừng, từ ngày nầy qua ngày kia, từ năm nầy qua năm nọ, chúng sẽ thấm nhuần đời sống của chúng ta; chúng sẽ vĩnh viễn hóa ra “Thành Phần của chúng ta” và theo chúng ta từ đời nầy qua đời kia.

          Xin nhớ mãi điều nầy.

 

C- PHƯƠNG PHÁP TẬP LUYỆN

 

 

          Sớm mai, sau khi thức dậy, rửa mặt xong ngồi suy nghĩ đến một Đức Tánh nào mà mình muốn có, kế đó tập trung tư tưởng vào Đức Tánh đó trong 5, 10 phút tùy theo sức chú ý của mình.

          Thí dụ: Tập Tánh Trong Sạch.

          Phải Trong Sạch về ba phương diện:

          a)- Tư tưởng.

          b)- Lời nói.

          c)- Việc làm.

          Ba Đức Tánh nầy là ba sợi dây liên kết Người Chí Nguyện một mặt với Sư Phụ y, một mặt với Nhân Loại.

          Ba sợi dây nịt lưng của người Bà La Môn tượng trưng ba Đức Tánh nầy.

          Chúng cũng tượng trưng:

          1)- Ba Ngôi của Đức Thượng Đế.

          2)- Ba Ngôi của Con Người.

          3)- Ba Cõi: Tam Giới (Hạ Giới, Trung Giới, Thượng Giới).

          4)- Ba Trạng Thái của Tâm Thức:

          a)- Tâm Thức thấp thỏi.

          b)- Tâm Thức trung bình.

          c)- Tâm Thức cao siêu.

          Trong Đạo Bát Chánh, Phật để:

          Chánh Tư Duy: Tư tưởng chơn chánh.

          Chánh Ngữ: Lời nói chơn chánh.

          Chánh Nghiệp: Việc làm chơn chánh.

          Sau Chánh Kiến: tức là sau “Tánh Phân Biện”.

          Cổ Ba Tư Giáo hay là Thiện Ác Nhị Nguyên Giáo cũng lấy ba Đức Tánh nầy làm căn bản.

          “Lòng Sùng Đạo và Trong Sạch trong tư tưởng, trong lời nói và trong việc làm, đó là Nguyên Tắc tóm lược đúng hơn hết.” (Thiện ÁC Nhị Nguyên Giáo).

          “Piété et Pureté en pensées, en paroles et en actions, tel est le Principe qui résume le mieux la religion Mazdéisme.

          (Le Mazdéisme -  L’Avesta-par De Lafont-Edition Chamuel 1897 page 328).

          Phải giữ Cảm Giác của Buổi Tham Thiền trọn ngày. Khi ta ra ngoài đời làm bổn phận phải nhớ thực hiện những điều đại khái sau đây:

          1)- Về Tư Tưởng: Không thu nhận một tư tưởng thấp hèn, nhơ nhớp nào. Nếu thình lình nó xông vô Trí, hãy lập tức đuổi nó đi bằng cách tạo ra một Tư Tưởng Tốt khác Đối Lập. Không để cho Cái Trí vọng động, xao xuyến. Luôn luôn phải bình tĩnh, thản nhiên và hết sức Chú Ý vào mọi phần việc của mình làm.

          Đừng quên rằng một tư tưởng xấu thâm nhập Trí ta được là vì trong Trí ta có chứa Chất Thượng Thanh Khí thấp đồng bản tánh với nó, hạp với nó, nên mới thu hút nó. Vì thế phải tinh luyện Cái Trí để khi những tư tưởng xấu, bất cứ loại nào, vừa đụng tới Cái Trí ta dội ra liền, không chiếm ngự Cái Trí ta được.

          2)- Về Lời Nói: Không thốt ra một lời thô tục nào, một lời nặng nề hay một lời hung dữ nào làm cho kẻ khác đau đớn, khổ sở. Lời nói phải thanh bai, dễ thương, chơn thật, hữu ích. Nếu không có chi cần phải nói hay đáng nói nên nín thinh. Trầm lặng là một cách giữ gìn sức khỏe.

          Đừng chê bai giễu cợt, đừng nói nặng nề vào người ta có tánh cách lăng nhục rồi viện lẽ rằng: “Mình nói sự thật.”

          3)- Về Việc Làm: Không để một sự hoạt động sai quấy nào làm nhơ nhớp thân ta, trọn ngày không làm một việc hèn mạt, ích kỷ, hại nhân. Phải làm những việc nhân từ, hữu ích, vị tha nhưng không mưu cầu lợi lộc riêng tư hay hạnh phúc cho mình.

          Quyển “Dưới Chân Thầy” có dạy rất rõ về ba Đức Tánh nầy. Ở đây tôi chỉ nhắc lại một cách sơ lược mà thôi.

          Thí dụ như Đoạn nầy quý bạn nên ghi nhớ mãi trong lòng: “Con phải hết sức chú ý vào mỗi phần việc của con làm để cho nó thật hoàn hảo. Cũng vị Thầy Cả nói trên có viết câu nầy: “Dù làm việc gì con cũng phải làm một cách nhiệt thành như thể làm cho Thượng Đế, chớ không phải làm cho con người.” Hãy suy nghĩ con sẽ làm một công việc như thế nào nếu con biết rằng Thầy sắp sửa đến để xem công việc ấy; rồi con phải làm tất cả công việc của con đúng như cách đó. Những người hiểu biết hơn hết mới hiểu rõ trọn vẹn tất cả những ý nghĩa của câu đó.” (Dưới Chân Thầy trang 57-58. In lần thứ 18).

 

 

1- THAM  THIỀN  VỀ  MỘT  ĐỨC  TÁNH

 

 

          Có một Định Luật Thiên Nhiên mà:

          a)- Hoặc người ta không biết.

          b)- Hoặc biết nhưng hay quên.

          Ấy là: Khi Con Người tập trung tư tưởng vào một Đức Tánh nào, Đức Tánh đó sẽ dần dần thành ra một phần tử tánh nết mình, rồi về sau Đức Tánh đó biểu lộ một cách tự động không khó khăn chút nào.

          Vậy ta hãy áp dụng Định Luật nầy trong công việc xây dựng tánh nết của ta, và ta phải kiên tâm, trì chí tuân theo một cách triệt để.

 

 

2- THAM  THIỀN  VỀ  BA  THỂ :  THÂN,  VÍA,  TRÍ

 

 

          Bước đầu tiên Sinh Viên phải tập Tham Thiền về ba Thể: Thân, Vía, Trí để làm chủ chúng. Khi hoàn toàn thành công mới tự chủ được.

 

 

a- XEM  XÉT  XÁC  THÂN

 

 

          Bắt đầu xem xét Xác Thân và nói như vầy:

          Xác Thân không phải là tôi. Nó là một khí cụ để tôi dùng. Nó không khác nào con ngựa của tôi cỡi để đi qua một khoảng đường đời. Nó khỏe mạnh, có điều độ, nhạy cảm, trầm lặng và hết sức trong sạch.

          Tôi là Chơn Thần, tôi làm chủ nó, tôi sai khiến nó. Luôn luôn nó vâng lời tôi.

          Nghĩ như vậy, kế bỏ Xác Thân một bên, tưởng tới Cái Vía.

 

 

b- XEM  XÉT  CÁI  VÍA

 

 

          Cái Vía cũng không phải là tôi. Cũng như Xác Thân, nó là một Thể để cho tôi dùng biểu lộ ý muốn và tình cảm.

          Tình cảm của tôi luôn luôn trong sạch, ý muốn của tôi vẫn thanh cao. Cái Vía của tôi rung động mau lẹ và chiếu ra những màu sắc tốt đẹp. Tôi là Chơn Thần, chủ nhơn nó, tôi sử dụng nó. Lòng từ bi của tôi bao trùm vạn vật.

          Xong rồi bỏ Cái Vía qua một bên.

 

 

c- XEM  XÉT  CÁI  TRÍ

 

 

          Cái Trí cũng không phải là tôi. Nó cũng là một Thể để cho tôi sử dụng như Cái Vía và Xác Thân. Nó yên lặng như mặt nước hồ thu. Nó nhận xét đúng đắn, chỉ thâu nhận những tư tưởng chơn thật, từ bi, hy sinh, thanh bạch, nhẫn nại, khoan dung. Nó lãnh đạm với những sự vật ở ngoại giới vô thường. Tôi là Chơn Thần, tôi sai khiến nó như Cái Vía và Xác Thân. Chúng nó vẫn mạnh mẽ và trung  thành với tôi.

          Bây giờ tôi nhập vô Cái Trí, Cái Vía và Xác Thân như trước để phụng sự.

          Hôm nay, ở nơi đây, tôi nhất quyết hiến dâng đời tôi và trọn cá nhân tôi để lo cho Nhơn Loại phát triển về hai phương diện Trí Thức và Tinh Thần. Aum!

 

 

3- LỜI  DẶN  TỔNG  QUÁT VÀ  NHỮNG  ĐIỀU 
CẦN  GHI  NHỚ

 

 

          Những đoạn trên đây là những lời chỉ dẫn những Quy Tắc về Phép Tham Thiền. Những gợi ý nầy không nên xem là một mạng lịnh phải tuân theo triệt để.

          Tham Thiền là việc riêng của từng người, phải dùng phương pháp nào thích ứng nhất với nhu cầu của mình, với tánh tình mình hầu thâu hoạch những kết quả tốt đẹp. Những phần cốt yếu khác sẽ bổ túc thêm khi đúng ngày giờ. Điều nầy vốn khẩu khẩu tương truyền chớ không có viết ra, và xin nói thêm: Những vị Đệ Tử đều tập luyện khác nhau tùy theo trình độ tiến hóa của mỗi người.

          Tham Thiền là phương pháp chắc chắn nhất và mau lẹ nhất để mở mang Tâm Thức cao siêu. Nó cần yếu cho sự tiến hóa và sự phát triển Tinh Thần. Nó nuôi dưỡng Tâm Hồn cũng như thực phẩm làm nở nang xác thịt. Chỉ tại Con Người bỏ đói Tinh Thần rồi trở lại than van tại sao Tinh Thần mình nhu nhược.

          Tuy nhiên chỉ Tham Thiền mà thôi cũng chưa phải là đủ. Nó cần đi đôi với Hành Động thì sự tiến hóa mới mau lẹ. Nếu không sống một đời sống thanh cao, từ thiện, không tận tâm phụng sự Nhơn Loại, sự Tham Thiền cũng không dắt ta đến trước mặt Chơn Sư được.

          Nên nhớ rằng: Những tư tưởng tốt lành và những tư tưởng xấu xa đều kết hình trong Trí ta. Hầu hết Nhơn Loại đều không biết gì về sự tiến hóa nầy và để nó tiếp tục một cách tự nhiên, mặc dầu cũng có những người hiền lương và những người tấm lòng trong sạch lo xua đuổi những tư tưởng độc ác ra khỏi Tâm Trí mình.

          Sinh Viên thông hiểu lẽ nầy cần phải dự trữ một số tư tưởng tốt lành trong lòng để chúng nó biểu lộ ra khi Cái Trí anh thong thả. Chúng nó sẽ phò hộ anh khỏi bị nhiễm những tư tưởng sai quấy bay vởn vơ ở bên ngoài.

          Sự Tham Thiền về Một Đức Tánh mỗi buổi sáng sẽ tạo ra một vị Phúc Thần, một vị Phò Trợ Vô Hình ở một bên ta, giữ gìn ta và che chở ta suốt ngày khỏi bị ảnh hưởng xấu xa tới khuấy rối. Đừng bao giờ nhớ tới hay hối tiếc một tánh xấu hay một tật xấu nào của mình cả. Hãy quên mất nó đi. Bởi vì khi tư tưởng trụ vào nhược điểm nào thì nó tăng cường nhược điểm đó. Thay vì phải biến mất, nhược điểm đó lại trở nên mạnh mẽ và sống lâu để phá rối ta. Một lần khác nó sẽ vật ngã ta nếu ta không trừ khử nó bằng cách Tham Thiền mỗi buổi sáng Đức Tánh Đối Lập với nó, ngày nầy qua ngày kia cho đến lúc thành công mỹ mãn. Không có phương pháp nào khác nữa.

          Những Đức Tánh của ta là những thành phần của ta. Chúng theo ta từ đời nầy qua đời kia, không bao giờ rời ta hoặc sa vào tay người khác.

          Thế nên tập rèn những Tánh Tốt là gầy dựng một gia tài thiêng liêng, vĩnh viễn trường tồn để cho ta dùng từ đời nầy qua đời kia, khác hẳn những của cải phù du chỉ hữu dụng trong một thời gian mà thôi.

 

 

a- HAI  CÂU  CHUYỆN    THÚ  VỀ  SỰ  THAM  THIỀN

 

1

 

          Tôi nhớ mày mạy câu chuyện nầy: Một hôm Bà A. Besant tập trung tư tưởng cho đến đỗi Bà nhăn cặp lông mày lại.

          Bà Blavatsky mới nói: “Nầy em! Người ta không phải Tham Thiền với cặp lông mày nhăn lại đâu.” Bài nầy có nghĩa là: Tập trung tư tưởng là phần việc của Cái Trí, chớ không phải của Xác Thân.

2

 

          Một bữa kia, một nữ đồ đệ của Bà Blavatsky hỏi Bà phải tập trung tư tưởng vào vấn đề nào. Cô có ý nghĩ Bà sẽ bảo cô tập trung tư tưởng vào Đức Thượng Đế hay là Chơn Thần, nhưng cô rất ngạc nhiên khi thấy Bà lấy một cái hộp quẹt để trên bàn đưa cho cô rồi bảo: “Em hãy Tham Thiền cái nầy đi.” Cô nín thinh chờ sự giải nghĩa. Bà mới bảo: “Em hãy tập trung tư tưởng vào hộp quẹt đó cho tới khi nào em không còn biết gì hết trong Vũ Trụ ngoài cái hộp quẹt và xác thân em, không để cái chi làm cho lay chuyển được.” Rồi với vẻ tinh nghịch thoáng qua trong cặp mắt yên tịnh, Bà nói tiếp: “Tới chừng đó em sẽ định trí vào Chơn Thần mới có vài kết quả tốt đẹp.”

          Rõ ràng là Bà muốn nhấn mạnh rằng: Đề tài Tham Thiền không cần thiết lắm mà điều quan trọng là Sự Tập Trung Tư Tưởng vào đó.

 

 

b- GIẢI  QUYẾT  MỘT  VẤN  ĐỀ  TRONG  LÚC  NGỦ

 

 

          Nếu quý bạn có một Bài Toán Đố về Số Học hay là vấn đề nào mà quý bạn muốn giải quyết, nhưng chưa tìm ra giải pháp, trước khi đi ngủ quý bạn hãy ghi vấn đề đó vào Trí rồi đừng nhớ tới nó nữa. Nếu suy nghĩ sẽ trằn trọc, thao thức mãi, sáng ra quý bạn sẽ mệt lắm. Quý bạn hãy coi Cái Trí quý bạn như một cái hộp, quý bạn đặt vấn đề đó vào hộp rồi đóng kín lại. Xong xuôi rồi quý bạn đi ngủ, đừng nhớ tới nữa.

          Thường thường sáng ra lúc thức dậy, quý bạn sẽ tìm ra được giải pháp, vì trong lúc ngủ quý bạn bắt buộc Cái Trí làm việc đó.

          Có khi nửa đêm thức giấc, quý bạn trở nên sáng suốt, câu giải đáp hiện ra trong Trí. Nhưng quý bạn hãy có sẵn bên mình một cây viết và một tờ giấy để ghi chép nó vô liền. Nếu quý bạn ngủ lại, sáng ra quý bạn sẽ quên mất, không còn nhớ gì cả.

          Cũng có khi nửa đêm quý bạn bỗng giật mình thức dậy, quý bạn thấy mình trở nên sáng suốt có được nhiều tư tưởng tốt đẹp cao siêu. Quý bạn hãy ghi vô giấy liền. Không như vậy sáng ra chúng nó biến mất không hề trở lại.

          Vậy luôn luôn ban đêm quý bạn nên để bên mình một tờ giấy và một cây viết nguyên tử, khi cần dùng, có sẵn liền.

 

 

c- GIÚP  ĐỠ  NGƯỜI  TRONG  LÚC  NGỦ

 

 

          Thí dụ quý bạn biết một người đang đau khổ hay là mắc một tật xấu nào đó. Nhưng sợ khi gặp mặt quý bạn y tỏ dấu e ngại, quý bạn không nói chi với y được cả.

          Nhưng quý bạn chớ nên ngã lòng. Tối trước khi đi ngủ quý bạn hãy nghĩ như vầy: “Tôi sẽ đến gần y và an ủi y.” Khi quý bạn ngủ tư tưởng quý bạn sẽ dắt quý bạn đến gần y và quý bạn có thể làm dịu bớt nỗi đau khổ của y.

          Nếu y là người ghiền rượu, quý bạn hãy sắp sẵn trong lòng những lời khuyên bảo về tai hại của rượu đối với thân mình y, gia đình y và đối với Xã Hội Nhân Quần. Quý bạn chỉ cho y thấy những gương xưa nay bị rượu mà nát cửa hại nhà. Câu chót của quý bạn là: “Từ đây sắp tới anh vẫn có tiết độ.”

          Muốn thấy hiệu quả, mỗi đêm phải suy nghĩ như thế và nhiều đêm liên tiếp.

          Xin nhớ rằng: Đối với những tật xấu khác nhau thì phải tìm một giải pháp thích nghi. Nhiều tật xấu nhờ phương pháp nầy mà sửa chữa được lành.

          Quý bạn hãy thực hành. Có kinh nghiệm rồi mới tin chắc được.

 

 

 

 

4- MỘT  PHƯƠNG  PHÁP  CHẮC  CHẮN  ĐỂ  THÍ  NGHIỆM  SỰ  TIẾN  HÓA  CỦA  MÌNH

 

 

          Có một phương pháp chắc chắn để thí nghiệm sự Tiến Hóa của mình như sau đây:

          Mỗi năm, một, hai lần, ta suy nghĩ rồi viết ra ba số:

          1)- Số thứ nhứt: Những điều ta chưa biết.

          2)- Số thứ nhì: Những điều mà ta lấy ở người khác làm ra sự hiểu biết của mình.

          3)- Số thứ ba: Những điều mình thật biết, vì có kinh nghiệm.

          Chắc chắn trong mười lần, hết đủ cả mười, ta thấy những điều ta thật biết không có là bao nhiêu. Con số nầy rất nhỏ, nhỏ lắm đối với hai số trên. Có thí nghiệm như vậy mới biết mình tiến mau hay chậm. Có vậy mình mới trở nên khiêm tốn và không còn tự hào về sự hiểu biết của mình, không còn tự tôn tự đại nữa.

          Còn nhiều điều khác, nhưng hiểu được và hành được bao nhiêu đây trong những bước đầu tiên cũng đã khá lắm, rồi từ đó tiến lên những cấp bực cao hơn nữa.

 

 

5- TẠI  SAO  PHẢI  THAM  THIỀN  ĐÚNG 
GIỜ  KHẮC    LIÊN  TỤC ?

 

 

          Tại sao Kinh Sách Đạo Đức đều căn dặn Sinh Viên phải Tham Thiền đúng giờ khắc và liên tục mới thấy kết quả tốt đẹp?

          Khi quý bạn Tham Thiền quý bạn tạo ra một Hình Tư Tưởng làm bằng Chất Thượng Thanh Khí. Hình Tư Tưởng nầy cần dùng đồ ăn để sống lâu và mạnh mẽ. Đồ ăn của nó là sức mạnh của tư tưởng. Nếu mỗi ngày quý bạn đều Tham Thiền, Hình Tư Tưởng sẽ sống lâu và càng ngày càng thêm mạnh.

          Trái lại, quý bạn Tham Thiền có một tuần rồi nghỉ 2, 3 tháng Hình Tư Tưởng của quý bạn tạo ra không có đồ ăn sẽ yếu dần rồi tan rã ra Chất Thượng Thanh Khí như trước. Khi quý bạn bắt đầu Tham Thiền lại, một Hình Tư Tưởng mới khác sẽ sanh ra.

          Nếu quý bạn nghỉ, không Tham Thiền nữa, thì Hình Tư Tưởng nầy cũng chẳng sống lâu được. Nếu quý bạn tiếp tục như thế, Tham Thiền rồi nghỉ, nghỉ rồi Tham Thiền lại, trong vòng 5, 10 năm như vậy, quý bạn cũng không thu thập được kết quả tốt đẹp. Có lẽ quý bạn sẽ chán rồi bỏ luôn, quý bạn đinh ninh rằng Tham Thiền không có ích lợi gì hết.

          Vì thế phải Tham Thiền không gián đoạn từ năm nầy qua năm nọ mới thấy nhờ Tham Thiền mà Tâm Trí càng ngày càng thêm sáng suốt hơn trước.

          Xin nhắc lại, Đời của Người Luyện Đạo là một chuỗi ngày Tham Thiền.

 

 

6- CÁCH  NGỒI  THIỀN

 

 

          Ngồi xếp bằng, ngay thẳng lưng. Người Ấn có thói quen Ngồi Kiết Dà từ nhỏ đến lớn, cho nên không thấy chi khó nhọc. Còn chúng ta chưa quen nên mỏi chân lắm. Ngồi bán dà, trên ghế, trên ván, dựa lưng vào vách đều được. Tại sao phải Ngồi Thẳng Lưng?

          Bởi vì trong xương sống có ba Vận Hà, tiếng Phạn là Nadi, xin gọi là ba đường gân cho dễ hiểu. Từ Điện và Luồng Hỏa Hầu theo ba Vận Hà từ xương khu lên đỉnh đầu. Nếu ngồi khom lưng ba Vận Hà bị trẹo, Từ Điển và Luồng Hỏa đi lên sẽ gặp phải khó khăn, nó không giúp ích cho Con Người được bao nhiêu.

 

 

7- GIỜ  THAM  THIỀN

 

 

          Có ba giờ mà Từ Điện trên Không Trung rất tốt là:

          1)- Nửa giờ trước khi Mặt Trời Mọc.

          2)- Đúng Ngọ (theo bây giờ là 1giờ vì đồng hồ ta kéo trước một giờ).

          3)- Chiều, nửa giờ sau khi Mặt Trời Lặn.

          Phải để bụng trống Tham Thiền, ăn no mà Tham Thiền sau đau bao tử, vì Thần Lực gom lên đầu không đủ tiêu hóa trọn vẹn đồ ăn.

          Có người bảo: Vì đời sống hiện tại và hoàn cảnh khó khăn rất khó giữ đúng giờ Tham Thiền. Đồng ý, nhưng quý bạn có thể Trưa và Chiều khi ra sở về, Ngồi Tham Thiền 5, 10 phút trước khi dùng bữa.

          Tối, vào 9 giờ cũng nên Tham Thiền một lần nữa.

          Đây là tập Tham Thiền cho có thói quen, ngày sau trọn đời chúng ta là một chuỗi ngày Tham Thiền.

 


8- KHẮC  KỶ

 

 

          Tối, trước khi đi ngủ, nên ngồi xem xét lại những điều mình đã tưởng, đã muốn và đã làm trọn ngày, không phải từ sớm mai tới chiều mà từ chiều trở lại sớm mai. Nếu có lỡ lầm, phải răn lòng và nhớ lại tư tưởng tốt đối lập với tư tưởng xấu đã tạo ra. Còn làm được nhiều điều lành, cứ cố gắng tiếp tục, đừng nản lòng.

          Chí công mài sắt chầy ngày nên kim.

 

 

III- TOÁT  YẾU  VỀ  PHƯƠNG  PHÁP 
MỞ  MANG  TRÍ  THỨC

 

 

          Muốn mở mang Cái Trí, phải bắt buộc nó làm việc chớ không nên để cho nó được tự do. Phải kềm chế nó định vào một chỗ, suy nghĩ chín chắn, chớ không tưởng bông lông, phải sử dụng quyền năng sanh hóa của nó, thí nghiệm nó, coi nó đã tiến tới đâu và vâng mạng lịnh mình tới mức nào, phải bắt buộc nó cố gắng học hỏi cho rộng sâu và kinh nghiệm thật nhiều. Đừng xem xét qua loa rồi cho mình đã biết rồi và chểnh mảng. Chỉ có áp dụng phương pháp nầy mới mở mang trí hóa và tiến mau, không thì từ kiếp nầy qua kiếp kia đứng một chỗ giậm chân hay là chỉ tiến có một chút thôi.

 

 

A- TẠI  SAO  KINH  SÁCH  ĐẠO  ĐỨC  GỌI 
CON  NGƯỜI    TIỂU  THIÊN  ĐỊA ?

 

 

          Tới đây mới có thể giải tại sao Kinh Sách Đạo Đức xưa nay đều gọi Con Người là Tiểu Thiên Địa. Ấy bởi hai lẽ:

          1)- Lẽ thứ nhứt: Con Người là Con Đức Thượng Đế, một Điểm Linh Quang có đủ quyền năng như Đức Thượng Đế, nhưng chúng còn tiềm tàng trong mình và sẽ mở ra lần lần khi Con Người càng tiến lên cao.

          2)- Lẽ thứ nhì: Trong mình Con Người có đủ Các Thứ Khí đã lập ra Thái Dương Hệ.

          Vì thế mà các Nhà Huyền Bí Học đều nói rằng: Con Người là Tiểu Thiên Địa. Trong đời cái chi xảy ra đều có nguyên nhân. Tri ra được nguyên nhân, không còn cho là lạ nữa và không còn tin tưởng dị đoan.

 

 

B- MỘT  PHƯƠNG  PHÁP  GIÚP  QUÝ  BẠN  TIẾN  TỚI  MẶC  DẦU  CHƯA  THAM  THIỀN  ĐƯỢC

 

 

          Có một phương pháp giúp cho quý bạn hâm mộ Đạo Đức tiến tới tuy chưa Tham Thiền được, dù cho quý bạn thuộc về hàng trí thức, lao động, có tuổi tác hay là nam nữ, thanh niên, học sinh cũng vậy.

          Mỗi giờ đồng hồ quý bạn hãy nói trong lòng hay nói nhỏ cũng được mấy câu sau nầy, một, hai lần, được nhiều chừng nào tốt chừng nấy.

          Aum! Tôi là Ắt măn (Atman), Chơn Linh cao cả, toàn năng, toàn thiện, toàn giác, vô sở bất tại.

          Lòng từ bi, bác ái của tôi bao la, bát ngát, vô tận, vô biên. Tôi là một với vạn vật. Tôi thương