
Annie besant và c.w. leadbeater
Dịch giả : CAO NGÂN HÀ
GIẢNG
lý TIẾNG NÓI VÔ THINH
(TALKS ON THE
PATH OF OCCULTISM,
VOLUME 2:
THE VOICE OF THE
SILENCE)
Nhóm
Hội Viên Thông Thiên Học Hải Ngoại
hiệu
đính và xuất bản tại Hoa Kỳ.
2004KROTONA
2004
PHẦN THỨ
NHỨT TIẾNG NÓI
VÔ THINH
CHƯƠNG 2
NHỮNG NĂNG LỰC
CAO SIÊU VÀ NĂNG
LỰC THẤP THỎI
CHƯƠNG 5
TIẾNG NÓI VÀ
NHỮNG LỜI CẢNH GIÁC
CỦA NÓ
CHƯƠNG 6
CÁI NGÃ VÀ
CÁI ÐẠI NGÃ..
CHƯƠNG 10
HÃY TRỞ NÊN
ÐƯỜNG ÐẠO
CHƯƠNG 1 CÁNH CỬA ÐƯỢC MỞ RỘNG
CHƯƠNG 2 KHOA HỌC
CỦA TRÍ NÃO
VÀ MINH TRIẾT CỦA
TÂM HỒN
CHƯƠNG 6
CON ÐƯỜNG CỦA
BẬC LA HÁN..
CHƯƠNG 1
NHỮNG ÐỈNH CỦA
PHÁP BA LA
MẬT ÐA
CHƯƠNG
5 CỬA THỨ NĂM VÀ
THỨ SÁU
CHƯƠNG
7 CON ĐƯỜNG CỦA BẬC
ARYA
MỤC LỤC
PHẦN THỨ
NHỨT TIẾNG NÓI
VÔ THINH
CHƯƠNG 1 Lời Tựa
CHƯƠNG 2 NHỮNG
NĂNG LỰC CAO SIÊU VÀ NĂNG LỰC THẤP THỎI
CHƯƠNG 3 KẺ
PHÁ HOẠI SỰ THẬT
CHƯƠNG 4
CÕI THẬT VÀ CÕI GIẢ
CHƯƠNG 5
TIẾNG NÓI VÀ NHỮNG LỜI CẢNH GIÁC CỦA NÓ
CHƯƠNG 6
CÁI NGÃ VÀ CÁI ÐẠI NGÃ
CHƯƠNG 7 BA
GIAN PHÒNG
CHƯƠNG 8
ÐỨC MẸ THẾ GIỚI
CHƯƠNG 9
BẢY THỨ ÂM THANH
CHƯƠNG 10
HÃY TRỞ NÊN ÐƯỜNG ÐẠO
CHƯƠNG 11 CON ÐƯỜNG DUY NHẤT
CHƯƠNG 12
NHỮNG BƯỚC SAU CÙNG
CHƯƠNG 13
MỤC ÐÍCH
PHẦN THỨ HAI HAI CON
ĐƯỜNG
CHƯƠNG 1
CÁNH CỬA ÐƯỢC MỞ RỘNG
CHƯƠNG 2
KHOA HỌC CỦA TRÍ NÃO VÀ MINH TRIẾT CỦA TÂM HỒN
CHƯƠNG 3
SỐNG LÀ HÀNH ÐỘNG
CHƯƠNG 4
CON ÐƯỜNG HUYỀN BÍ
CHƯƠNG 5
BÁNH XE ÐỜI
CHƯƠNG 6
CON ÐƯỜNG CỦA BẬC LA HÁN
PHẦN THỨ BA
CHƯƠNG 1 NHỮNG
ÐỈNH CỦA PHÁP BA LA MẬT ÐA
PHẦN THỨ NHỨT
TIẾNG NÓI VÔ THINH
C.W.L.- Dù đứng trên quan điểm thiển cận
hay hoàn toàn hữu hình để khảo sát nội dung, bút pháp và nguồn gốc của nó,
quyển “Tiếng
Nói Vô Thinh”[1] [1] vẫn là một trong các tác phẩm đặc
sắc nhất của Vvăn
Cchương
Thông Thiên Học, và khi nghiên cứu cẩn thận hơn, căn cứ trên sự sưu tầm sáng
suốt hơn, chúng ta vẫn giữ nguyên niềm thán phục đó. Chúng ta sẽ không phạm
phải lỗi lầm khi xem nó như một bản Thánh Thư, dù
phải chấp nhận một cách không đắn đo từng chữ. Trong chốc lát chúng ta sẽ thấy
cũng chẳng phải vì quyển sách nầy có nhiều sai lầm nhỏ nhặt, hoặc những ngộ
nhận không đáng kể mà bị bỏ qua. Trái lại, ai người nào vì
lý do trên,
xem tác phẩm nầy như không đáng tin cậy và sai lạc, sẽ phạm
phải một lỗi lầm còn khó dung thứ hơn.
Bà Blavatsky bao giờ cũng sẵn sàng
nhìn nhận và ngay cả nhấn mạnh đến sự
kiện có nhiều chỗ thiếu chính xác trong tất cả những tác phẩm của Bbà.
TrongVào thời gian ban đầu,
khi chúng tôi gặp vài đoạn văn không rõ ràng như thế, tự nhiên chúng tôi kính
cẩn gác qua một bên, vì nghĩ rằng đây là một trong các điều không chính xác đó.
Sự Những nghiên cứu sâu xa hơn đã chứng tỏ cho chúng
tôi thấy rằng một trong số những trường hợp lạ lùng, Bà Blavatsky đều có lý
cả. Không bao lâu, nhờ kinh nghiệm trợ giúp, chúng tôi đã tỏ ra
cẩn thận nhiều hơn về phương diện nầy và tin cậy vào kiến thức uyên bác phi
thường và toàn diện của Bbà
trong nhiều vấn đề khác nhau và ít ai biết. Tuy nhiên không phải là như nhiều sinh
viên hời hợt nghi ngờ có một ý nghĩa ẩn tàng ( nào
đó ) trong một chữ in sai rõ rệt,
như nhiều sinh viên hời hợt. Nhưng chúng ta cũng không ngần ngại
nhìn nhận rằng Bbà
là Nnhà
Ssáng
Llập
vĩ đại và uyên thâm về Huyền Bí Học của chúng
ta và cũng
có thể viết sai một chữ Tây Tạng hoặc dùng sai một thuật ngữ Anh Văn.
Bà nói về nguồn gốc của quyển
sách trong Llời
Ttựa.
Ban đầu những lời giải thích nầy hơi khó chấp nhận, nhưng những sự sưu tầm mới
đây làm giúp cho chúng ta ta
trở nên dễ hiểu hơn nhiều. Người ta thường gán cho những lời của Bbà
một ý nghĩa vượt quá tư tưởng của Bbà
; do đó có những sự phán quyết lạ lùng sẵn sàng nảy sinh, nhưng
khi kết hợp lại tất cả những lời phê phán trên, người ta mới
thấy rằng những sự phàn nàn ấy đều vô căn cứ.
Bà nói : “Các
Những
trang sách đây trích ở “Kim Huấn Thư,” một trong
những tác phẩm phát cho những sinh viên Huyền Bí Học ở Ðông Pphương.
Kiến thức trong quyển nầy bắt buộc phải truyền thụ trong Ttrường
mà Ggiáo
Llý
đã được nhiều Nnhà
Thông Thiên Học chấp nhận. Nhờ thuộc lòng nhiều những Llời
Ggiáo
Hhuấn
nầy, nên tôi phiên dịch khá dễ dàng.”. Và
ở chỗ nơi khác Bbà
nói: “Tác phẩm mà tôi đem ra dịch đây thuộc về bộ sách trong đó tôi cũng rút
lấy những Tthi
Kkhúc
của “Kinh
Dzyan,”
dùng làm căn bản cho bộ Giáo Lý Bí Truyền.”. Bà
còn nói thêm : “Quyển Kim Huấn Thư có khoảng chín
chục 90 Ttiểu
Lluận
riêng biệt.”.
Trước hết, sự giải
thích của chúng tôi vượt quá tư tưởng của Bà Blavatsky, chúng tôi tưởng rằng ở
Ðông Pphương
tác phẩm nầy được giao cho tất cả các sinh viên Huyền Bí Học của Trường thuộc
về Quần Tiên Hội, mà ở đây kiến thức trong sách đã phổ biến. Do đó khi gặp
những Nnhà
Huyền Bí Học tiến bộ cho rằng không hề nghe nói đến quyển “Kim Huấn Thư,” chúng tôi
rất ngạc nhiên và sẵn sàng nhìn nhận sự lầm lạc, cũng như
tự hỏi xem những lời giáo huấn ấy có chân chánh không. Nhưng từ đó chúng tôi
học được nhiều sự việc, mà trong đó, vài điều đã khai sáng
tỏ hơn lúc đầu.
Ðối với mấy đoạn trong “Kinh Dzyan” cũng thế, càng quen thuộc với bản văn và tính cách độc đáo của nó, chúng ta càng hiểu nó một cách rõ ràng hơn, không riêng gì quyển “Tiếng Nói Vô Thinh” hay bất cứ tác phẩm nào khác, thật ra tất cả không thể phát sinh từ một nguồn gốc.
Nguyên bản của “Kinh Dzyan” ở trong
tay Ðấng Tôn Nghiêm, Chủ Tể Quần Tiên Hội, không ai thấy được, không người nào
biết nó có từ bao giờ, nhưng người ta tin rằng Pphần
Tthứ
Nnhứt
( nghĩa là Ssáu
Đđoạn
Đđầu
) đã có từ thời kỳ trước Dãy Ðịa Cầu của chúng ta. Người ta cũng
tin rằng đây không phải là một lịch sử, nhưng đây là một loạt chỉ dẫn, hơn nữa
là một thể thức chứ không phải là một câu chuyện thành lập Vũ Trụ. Trong Viện Bbảo
Ttàng
của Quần Tiên Hội có tồn trữ một bản, chính bản đó (có lẽ là quyển
sách cổ nhất của Thái Dương Hệ chúng ta) Bà Blavatsky và nhiều vị Đđệ
Ttử
của Bbà
trông thấy,
và Bbà
đã mô tả một cách thật linh hoạt trong bộ “Giáo Lý Bí Truyền.” Tuy nhiên
quyển sách có trình bày vài đặc điểm mà Bbà
không đề cập đến. Những trang sách dường như chứa từ điện thật mạnh, vì chỉ cần
lật ra một
trang để xem, chúng ta cũng thấy hiện ra trước mắt những biến cố đượcthật trần thuật, đồng thời người xem
nghe như có một sự mô tả nhịp nhàng về biến cố ấy bằng chính ngôn ngữ của y,
đúng như ngôn ngữ có thể diễn đạt ý tưởng của Ttác Ggiả.
Bản văn không chứa một chữ nào mà chỉ có những biểu tượng.
Nắm được tất cả những lời
chỉ dạy nầy rồi,
chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi biết có một tác phẩm khác cũng có cùng
nguồn gốc với những đoạn “Thánh Kinh Dzyan” và sự xúc
động đầu tiên của chúng tôi là tin tưởng vào một sự sai lầm kỳ lạ phải
đã
xảy ra . Sự mâu thuẫn dị thường ấy cũng kích
thích chúng tôi khám phá ra Ttác Ggiả
thật của bộ “Kim
Huấn Thư”
: Vviệc
ấy được hoàn thành, tất cả sẽ
được giải bày một cách thật đơn giản.
Những đoạn Ttiểu
Ssử
khác nhau về Bà Blavatsky cho chúng ta biết rằng Bbà
đã lưu trú ba năm tại Tây Tạng và trong một lần khác Bbà
đã cố gắng đi vào Vvùng
Ccấm
Đđịa
nầy, nhưng không thành công. Trong một cuộc du hành khác, dường như Bbà
đã lưu ngụ tại một Đđạo Vviện
trên Dãy Hy Mã Lạp Sơn lúc ấy do một vị Ðệ Tử của Ðức Thầy Morya cai quản. Theo
tôi dường như vùng nầy ở Népal chớ không phải Tây Tạng, nhưng khó xác định là ở
đâu. Nơi đây Bà Blavatsky rất chuyên cần học tập và đạt được một sự phát triển
tâm linh phi thường. Trong thời kỳ đó Bbà
học thuộc lòng được nhiều thiên khảo luận khác nhau mà Bbà
đã đề cập đến trong lời tựa. Những sinh viên ở Đđạo
Vviện
đặc biệt nầy đều phải học như Bbà
và quyển Kkinh
có những đoạn đã trích ấy được xem như vô cùng quý báu và thiêng liêng.
Ðạo Vviện
nầy tối cổ. Nó được sáng lập vào những thế kỷ đầu của Kkỷ
Nnguyên
Thiên Chúa bởi do Nnhà Ttruyền
Ggiáo
và canh tân vĩ đại của Ðạo Phật. Ngài thường được biết dưới danh hiệu Arya-
sanga. Người ta quả quyết rằng Đđạo Vviện
ấy đã có từ hai đến ba thế kỷ trước Ngài. Dù sao đi nữa lịch sử của Đđạo
Vviện
liên quan đến chúng ta bắt đầu từ khi Ðức Aryasanga tạm trú ở đó. Ngài là người
có một năng lực phi thường, một kiến thức uyên bác và đã tiến xa trên Thánh
Ðạo.Trong một kiếp trước, Ngài là Dharmajyoti, tức là một trong các tín đồ
nhiệt thành của Ðức Phật, và sau đó, Ngài mang tên Kleinias, là một trong những
vị cao đồ của Ðức Thầy Kouthoumi (,
trong một kiếp Ngài là Ðức Pythagoras)e.
Sau khi Ðức Pythagorase bỏ
xác, Kleinias sáng lập tại thành Athens một Ttrường
chuyên nghiên cứu Ttriết
Llý
của Thầy mình. Chắc chắn nhiều hội viên Thông Thiên Học hiện nay đã lợi dụng
được cơ hội đó. Vài thế kỷ sau, Ngài tái sinh mang tên Vasubandhu Kanushika ở
Peshawar, sau đó được gọi là Purushapura. Khi được nhận vào Giáo Hội Tăng Già,
Ngài lấy tên là Vô Trước ( Asanga ) “Nngười
đã cởi bỏ các dây
chướng ngại.”.
Khi Ngài đã cao niên, các môn đồ Ngài sùng mộ Vvị
thủ lãnh của họ mới tôn xưng Ngài bằng danh hiệu dài hơn là Aryasanga - dưới
biệt danh nầy Ngài thường được biết đến như một Nnhà
Ttrước
Ttác
và Nnhà
Ttruyền
Ggiáo.
Người ta nói rằng Ngài đã đạt được một tuổi thọ thật cao, nếu truyền thuyết nầy
đúng, Ngài đã sống gần đến 150một trăm
năm mươi tuổi và từ trần ở Rajagriha.
[NTN1] Sách vở của Ngài để
lại thật dồi dào : Ttác
phẩm chánh trong số đó được nhắc đến là bộ “Du Già Sư Ðịa Luận” (Yoggacharya
Bhumishastra ( Du
Già Sư Ðịa Luận ).
Ðức Aryasanga đã sáng lập ra Ttrường
“Du
Già Phật Giáo”
(Bhoudiste
Yogacharya of Buddhism ).
Hình như Tôn Ggiáo
nầy bắt đầu bằng sự cố gắng dung hợp Phật Giáo với hệ thống Ttriết
Llý
vĩ đại của Yoga, hoặc có thể mượn ở giáo lý Yoga những gì có thể sử dụng và
giải thích theo lối Phật Giáo. Ngài đã từng du lịch nhiều và giữ một vai trò
then chốt trong việc canh tân Phật Giáo. Tiếng tăm của Ngài lừng lẫy ở điểm tên
tuổi Ngài được kể chung với uy danh của Ðức Nagarjuna ( Long
Thọ ) và Ðức Aryadeva (
Ðại Thiên ). Ba vị nổi tiếng nầy là ba Nngôi
Mmặt
Ttrời
của Phật Giáo, nhờ công nghiệp truyền bá ánh sáng và sự vinh quang của Ðạo Phật
trên Tthế
Ggian.
Ðức Aryasanga sống khoảng 1.000một ngàn
năm sau Ðức Phật. Các học giả Tây Pphương
không đồng ý về điểm nầy, nhưng không ai tin rằng Ngài sống vào thế
kỷ thứ bảy sau Thiên Chúa. Ðối với chúng ta, trong Hội Thông Thiên Học, Ngài được biết đến
như một Nnhà
Cchỉ
Ggiáo
nhã nhặn, kiên nhẫn và nhân từ. Ðó là Ðức Thầy Djwal Koul. Ngài có một địa vị
đặc biệt đối với chúng ta, vì ở thời kỳ vài người trong chúng ta hân hạnh được
biết Ngài, nghĩa là cách đây 40bốn chục
năm, Ngài còn chưa đạt được đến mục đích tiến hóa cuối cùng của nhân loại và
được Ðiểm Ðạo ở cấp bậc Chơn Tiên. Như thế trong tất cả những Ðức Thầy của
chúng ta, Ngài là người duy nhất trong kiếp sống nầy, mà chúng tôi được biết trước khi
Ngài trở thành Chơn Tiên, vào lúc Ngài còn là Ccao Đđồ
của Ðức Thầy Kouthoumi.
Sự kiện Ngài đã du nhập Phật Giáo vào xứ Tây Tạng trong kiếp sống của Ngài là
Aryasanga, có thể giải thích tại sao trong kiếp nầy Ngài chọn xác thân người
Tây Tạng. Cũng có thể còn vài sự liên hệ hay sự trói buộc của Nhân Quả mà Ngài
muốn chấm dứt trước khi nhận sự Ðiểm Ðạo sau cùng, tức quả vị Chơn Tiên.
Trong Mmột
trong các cuộc
du hành Ttruyền
Ppháp
lớn lao của Ngài trong kiếp sống mang tên Aryasanga, Ngài đã đến Đđạo
Vviện
ấy ở Hy Mã Lạp Sơn và lưu ngụ tại đó. Ngài ở ltại
đây gần một năm, giáo hóa Ttăng
Ssĩ,
thành lập Giáo Hhội
chung trong một vòng thật rộng lớn của xứ ấy và biến Đđạo
Vviện
thành một trung tâm đầu não của sự canh tân tín ngưỡng. Ngài đã lưu lại đây một
di tích và một truyền thống còn tồn tại đến ngày nay. Trong số Tthánh
tích của Ngài, người ta còn giữ lại một quyển Kinh với một niềm tôn kính vô
biên : Đđó
chính là bản văn mà Bà Blavatsky gọi là “Kim Huấn Thư.” Dường như
Ðức Aryasanga đã làm thành một loại sách tóm lược hay tập hợp những câu trích
dẫn mà Ngài ghi lại trong đó tất cả những gì Ngài cho là hữu ích cho Mmôn
Đđồ
của Ngài,
và Ngài bắt đầu với những Tthi Đđoạn
của “Kinh
Dzyan”
- không phải bằng những biểu tượng như trong nguyên bản, nhưng bằng chữ viết.
Ngài cũng trích nhiều câu khác, mà một đoạn rút trong tác phẩm của Ðức Long Thọ
(Nagarjuna ), như Bà Blavatsky đã cho biết. Sau
khi Ngài ra đi, các Mmôn Đđồ
của Ngài thêm vào quyển sách ấy một loạt các bài tường trình (
đúng hơn, được rút gọn )
về những bài thuyết pháp của Ngài : Đđó
là những “Ttiểu
Lluận”
mà Bà Blavatsky đã đề cập đến.
Trong kiếp trước, chính Alcyone đã
soạn lại và thêm vào quyển “Kim Huấn Thư” những bản
trần thuật về các bài thuyết pháp của Ðức Aryasanga mà ba bài đã hợp
thành vấn đề chúng ta hiện đang nghiên cứu. Vậy nhờ Alcyone cẩn thận biên soạn
chúng ta mới có tác phẩm nhỏ vô giá nầy, cũng như trong kiếp sống hiện tại
chúng ta mang ơn người qua quyển sách nhỏ có nhan đề “Dưới Châơn
Thầy.”
Kiếp trước Alcyone bắt đầu từ năm 624 sau Thiên Chúa và trải qua tại vùng Bắc
Ấn. Trong kiếp đó Alcyone được thu nhận vào Giáo Hội Tăng Ggià
Phật Giáo lúc còn rất trẻ. Cậu bé quyến luyến Aryasanga một cách nồng nhiệt và
được Ngài dẫn đến Đđạo Vviện
ở Népal, nơi đây Ngài để cậu trợ giúp và điều hành sự nghiên cứu của Giáo Hhội
do cậu cải tổ và chăm sóc. Trong vòng hai năm, Alcyone đã hoàn tất các chức vụ
trên trong sự thành đạt lớn lao nhất.[2] [2].
Nếu cho rằng quyển “Tiếng Nói
Vô Thinh”
cùng nguồn gốc với những đoạn “Kinh Dzyan,” chính vì lý do duy nhất là nó được rút
trong cùng một bộ sách. Chúng ta cũng không nên quên rằng, nếu trong các thiên
luận giải nầy, chúng ta có một phần đẹp đẽ thuộc Ggiáo
Llý
của Ðức Aryasanga, tất nhiên nó cũng phải bị tô điểm bởi thành kiến của những
người tiếp nhận nó. Họ hiểu sai về Nnhà Ccải
Ccách,
ít nhất trong vài đoạn họ đã không nắm được ý nghĩa thật sự của nó. Khi xét kỹ
tác phẩm, chúng ta sẽ thấy trong đó rải rác những đoạn diễn tả những cảm thức
mà Ðức Aryasanga ít khi biểu lộ, do đó chứng tỏ một sự thiếu hiểu biết không
thể quy trách cho Ngài.
Như bạn đã thấy, Bà Blavatsky đề cập
đến việc phiên dịch những câu châm ngôn ấy đã gây ra vài vấn đề thú vị. Thật ra
chúng ta biết rằng Bbà
chỉ biết duy nhất một thứ ngôn ngữ ở Ðông Pphương
là tiếng Á Rập. “Quyển sách
được viết bằng thứ chữ xa lạ đối với tôi ;
tôi cũng không biết thứ ngôn ngữ được sử dụng. Ðó có thể là tiếng Bắc Phạn
(Sanskrit ), Nam Phạn ( Pali ),
hoặc là thổ ngữ Prakrit hay
tiếng Népal, Tây Tạng, những chữ viết không phải là thứ chữ hay dùng hiện nay.” Ít ra
gần như chúng ta có thể tin chắc rằng trên Tthế Ggian,
Bà Blavatsky không thể biết thứ chữ viết cũng như ngôn ngữ đã được sử dụng.
Ðối với nhữngmột người có khả năng vận dụng Thể
Trí một cách tự do, muốn hiểu một quyển sách có những phương pháp không hề
giống với sự đọc sách thông thường. Phương pháp đơn giản nhất là đọc trong trí
của những người đang nghiên cứu tác phẩm,
nhưng phương pháp nầy có thể bị bác bỏ là làm như thế không đạt được ý nghĩa
thật sự, mà đó là ý nghĩa hiện ra ở người nghiên cứu, ý nghĩa nầy có thể khác
với ý nghĩa trong sách. Phương pháp thứ hai là quan sát hào quang của quyển
sách ; thuật ngữ trên cần phải có vài lời
giải thích cho những người chưa hiểu biết về khía cạnh Hhuyền
Bbí
trong Tthiên
Nnhiên.
Về phương diện nầy, một thủ bản xưa hơi khác với một quyển sách hiện đại. Nếu
công việc làm ban đầu không phải do chính Ttác Ggiả,
thì trong mọi trường hợp bản văn sẽ được một người khác chép lại. Người ấy có
một trình độ học thức và thông minh nào đó, y hiểu được đề tài quyển sách, và
về điểm nầy lại có ý kiến riêng của y trong đó. Chúng ta nên nhớ rằng bản văn
thường được chép bằng một mủi nhọn là phương pháp cũng chậm chạp và cần cù gần
như điêu khắc. Vậy người viết đã in tư tưởng của y trên bản văn một cách mạnh
mẽ.
Do đó mọi thủ bản, dù mới thực hiện, luôn luôn được bao phủ bằng hào quang của Cái Trí giúp chúng ta hiểu ý nghĩa tổng quát của quyển sách, hoặc hơn nữa hiểu được ý kiến của một người về ý nghĩa và về giá trị của thủ bản ấy. Mỗi khi có người đọc, hào quang của Cái Trí ấy gia tăng, và nếu thủ bản ấy được nghiên cứu một cách đúng đắn, dĩ nhiên sự gia tăng đó thật là đáng kể và có giá trị lớn lao. Một quyển sách được nhiều người đọc thường biểu lộ một hào quang thăng bằng, rộng rãi hơn và được bổ túc bởi những ý kiến đối nghịch của chính những độc giả ấy. Phép trắc lượng tinh thần một quyển sách như thế thường cung cấp một kiến thức khá đầy đủ về nội dung của nó, nhưng với một phần ngoại biên khá quan trọng, nó lại phô bày những ý kiến không có trong sách, những ý kiến dị biệt của nhiều độc giả.
Ðối với quyển sách được in ra cũng gần giống như thế, trừ ra lúc đầu không có người sao chép lại. Vậy lúc ban sơ trong nghề in, thường quyển sách chỉ biểu lộ vài tư tưởng rời rạc của người đóng sách và bán sách. Ngoài ra, ở thời đại chúng ta dường như ít có những độc giả nghiên cứu một cách chuyên tâm và đúng đắn như những bậc tiền bối. Ðó là lý do những hình tư tưởng bao bọc quyển sách hiện đại ít khi chính xác và rõ ràng như những hình tư tưởng bao bọc các thủ bản cổ.
Một phương pháp thứ ba đòi hỏi những
năng lực thuộc loại siêu đẳng là ngồi hoàn toàn xa cách quyển sách hay thủ bản
và liên lạc với Ttác Ggiả
bằng Cái Trí. Nếu quyển sách được viết bằng ngoại ngữ, đề tài của quyển sách
không được hiểu biết và không hề có chút hào quang nào để cung cấp những chỉ
dẫn hữu ích, thì chỉ còn việc đi trở ngược lại lai lịch của nó, để tìm xem nó
được sao chép lại từ tác phẩm nào (hoặc in tùy theo trường hợp
) và như thế xác định xuống đến Ttác Ggiả
của nó. Nếu đã biết đề tài của một quyển sách, thì có thể dùng một phương pháp
ít tẻ nhạt hơn là trắc lượng tinh thần đề tài đó, tức tiếp xúc với những luồng
tư tưởng tổng quát liên hệ đến nó và do đó tìm ra Ttác
Ggiả
và những gì y đã suy tư. Trong một ý nghĩa nào đó, tất cả những tư tưởng liên
hệ đến một đề tài được nêu ra ở những địa phương được tập trung chung quanh
một điểm trong không gian, đến đỗi gặp điểm đó người ta có thể tiếp xúc với tất
cả những luồng tư tưởng quy tụ chung quanh đề tài, mặc dù, dĩ nhiên là những
luồng tư tưởng nầy liên quan đến hàng triệu dòng tư tưởng thuộc về đủ thứ vấn
đề khác nhau.
Giả sử trong thời kỳ đó Bbà
Blavatsky đã
có đủ năng lực về Hhuệ Nnhãn,
Bà Blavatsky có thể dùng một trong những
phương pháp trên để hiểu ý nghĩa của những thiên khảo luận tạo thành quyển “Kim Huấn
Thư,”
song thiếu bằng cớ làm sao bảo đảm rằng công việc của Bbà
là một sự phiên dịch. Nhưng cũng có thể còn vài lý do khác khá xa xôi. Hiện
nay, trong Đđạo
Vviện
trên Hy Mã Lạp Sơn đó không ai nói được tiếng Âu Châu, nhưng ít ra 40 bốn
chục năm đã trôi qua từ khi Bà Blavatsky lưu trú tại đó, phải có
nhiều sự thay đổi xảy ra. Người ta biết rằng thỉnh thoảng, nhưng rất hiếm, có
những sinh viên Ấn Ðộ đã đến thọ giáo ngay tại nguồn suối hiểu biết cổ xưa đó,
và nếu chúng ta giả sử rằng cuộc thăm viếng của một trong những sinh viên đó
trùng hợp với việc lưu ngụ của Bbà,
thì cũng có thể người ấy biết vừa tiếng Anh vừa lẫn ngôn ngữ của thủ bản kia
hoặc ít ra y biết được tiếng của một người cư ngụ trong Đđạo
Vviện,
như thế y có thể tự đọc thủ bản ấy và do đó đã đọc cho Bà Blavatsky nghe.
Sau cùng, và hơi kỳ
lạ, Bbà
cũng có thể lãnh hội Giáo Llý
nêu trên bằng tiếng mẹ đẻ của Bbà.
Có nhiều Bbộ
Llạc
Phật Giáo, có thể thuộc nguồn gốc Thát Ðát, đã định cư khá đông đảo ở Nga Âu,
trên bờ sông Volga. Vả lại, hình như nhiều người dù sống rất xa cách xứ Tây
Tạng, nhưng vẫn luôn luôn xem nơi đó như Tthánh
Đđịa
của họ và thỉnh thoảng đã thực hiện những cuộc hành hương trên vùng đất ấy. Ðôi
khi những người hành hương lưu ngụ tại đây trong nhiều năm, vì là tín đồ trong
các Đđạo
Vviện
ở Tây Tạng hay Népal và vì một trong các người ấy có thể đồng thời nói tiếng
Nga và chính thổ ngữ Mông Cổ của họ, nên ở đây chúng ta lại thấy một phương
cách mới mà Bà Blavatsky có thể thông hiểu được những người khách trọ của Bbà.
Dĩ nhiên dù trong những trường
hợp nào chúng ta cũng không thể chờ đợi đúng bài thuyết pháp do chính Ðức
Aryasanga giảng cho các Đđệ Ttử
của Ngài. Trong tập sách cổ nầy, chúng ta không có lời giảng của Ngài, mà chỉ
có những gì do các Đđệ Ttử
Ngài giữ lại, và từ sự ghi chép đó, hiện nay chúng ta chỉ có trước mắt bản dịch
của một bản dịch hoặc bản tóm lược ấn tượng tinh thần tổng quát do ý nghĩ tạo
ra. Dĩ nhiên, đối với Ðức Thầy của chúng ta hay đối với chính Ttác
Ggiả,
không có gì dễ dàng hơn là dịch một cách trực tiếp và chính xác ra tiếng Anh,
nhưng vì Bà Blavatsky tuyên bố rõ ràng rằng chính Bbà
đã thực hiện bản dịch, cách làm việc ấy không được thừa nhận một cách hiển
nhiên.
Ðồng thời, sự tường thuật đã cho
chúng ta mục kđích
sự hoàn thành nhanh chóng công việc, khiến cho chúng ta nghĩ rằng có một sự phù
trợ nào đó đã giúp Bbà,
mà có thể chính Bbà
cũng không hay. Bà Bác sĩ Besant đã viết về vấn đề nầy như sau :
“Bà
viết ở tại Fontainebleau. Tôi thường ở kế bên Bbà
khi Bbà
làm việc ; tôi ngồi trong phòng lúc Bbà
viết. Tôi biết Bbà
không dùng đến quyển sách nào cả. Bà viết không ngừng trong nhiều giờ, dường
như hoàn toàn viết theo trí nhớ hoặc đọc trong một bản văn vô hình. Ðến chiều Bbà
cho tôi xem bản thảo mà tôi đã thấy Bbà
viết khi tôi ngồi bên Bbà
và nhờ tôi hoặc các bạn khác sửa gidùm
tiếng Anh, vì Bbà
nói với chúng tôi là Bbà
viết quá mau nên cú pháp chắc phải sai lạc. Nhưng trong bản văn ấy chúng tôi
chỉ sửa đổi vài chữ và nó vẫn là áng văn tuyệt tác.”.
Sau cùng, có thể Bbà
dịch quyển sách ấy ra tiếng Anh trước, trong lúc Bbà
lưu trú tại Đđạo
Vviện,
khi ở Fontainebleau Bbà
đã đọc bản dịch ấy từ một khoảng xa, việc mà trong nhiều trường hợp khác tôi đã
thấy Bbà
thường làm.
Sáu Ttrường
Pphái
Ttriết
Hhọc
Ấn Ðộ mà Bbà
đã đề cập đến trong trang đầu của Llời Ttựa,
là các Ttrường
Pphái
Nyaya, Vaiseshika, Sankhya, Yoga, Mimamsa và Vedanta. Bà cho chúng tôi biết
rằng mỗi Vvị
Giáo Cchủ
đều có phương pháp riêng, mà họ thường giữ gìn rất cẩn mật. Ðó là điều tự
nhiên, vì họ không muốn chịu trách nhiệm do phương pháp của họ gây ra ở những
hạng người không đủ tư cách vàì thiếu
chuẩn bị, nếu phương pháp bị tiết lộ sẽ không thể tránh được sự bất lợi. Ở Ấn
Ðộ không có một vị Ðạo Sư nào xứng đáng với danh hiệu ấy mà không trông nom Đđệ
Ttử
ở bên mình ; như thế khi đưa ra cho y những
phương pháp thực tập, Nngười
có thể canh chừng hiệu quả của chúng và Nngười
sẽ cho ngưng ngay tức khắc sự luyện tập, nếu thấy sai lạc. Trong Kkhoa
Pháp Mmôn,
đây chính là một tục lệ cổ xưa; người ta không thể chối cãi được, đây cũng
chính là phương cách duy nhất để tiến bộ một cách nhanh chóng và an toàn thật
sự. Công việc đầu tiên và khó khăn nhất của người Đđệ
Ttử
là chấm dứt những sự lộn xộn chi phối y, loại trừ những quyền lợi thứ yếu và
chủ trị những tư tưởng vẩẫn
vơ, y phải hoàn thành việc ấy bằng cách dùng ý chí khốâng
chế những Hhạ
Tthể
của y trong nhiều năm.
Tác Ggiả
cho chúng ta biết rằng nếu những hệ thống huấn luyện của các Ttrường
Bbí
Ggiáo
ở bên nầy Ddãy
Hy Mã Lạp Sơn khác nhau, thì ở bên kia chúng đều giống nhau. Chúng ta hãy để ý
đến danh từ Bbí
Ggiáo
ở đây, vì ta biết rằng trong Tôn Ggiáo
Ccông
Ttruyền
có những sự xấu xa và sự luyện tập những Pphù Pphép
Ttà
Đđạo
thật tệ hại trên triền núi phía Bắc hơn là phía Nam. Có lẽ chúng ta không nên
dùng thành ngữ “bên kia Ddãy
Hy Mã Lạp Sơn” theo nghĩa tượng trưng hơn là theo nghĩa Đđịa
Llý
một cách chật hẹp, vì nhiều người cho rằng chính trong những trường hợp được
các Ðức Thầy của chúng ta thừa nhận, sự huấn luyện mới giống nhau. Ðó là điều
rất đúng trong một nghĩa nào đó - một ý nghĩa quan trọng hơn cả - nhưng không
giải thích rõ
có thể gây sự hiểu lầm cho độc giả. Tất cả đều giống nhau có nghĩa là đời
sống đức hạnh phải là con đường duy nhất hướng dẫn sự phát triển Hhuyền
Bbí
và sự chiến thắng dục vọng là phương sách giải thoát duy nhất. Có nhiềunghĩa
là Ttrường
Hhuyền
Bbí
trong đó đời sống đạo đức bó buộc những hạn chế vô ích. Các Ttrường
hợp ấy dạy về hình thức phát triển tâm linh nhưng không chút quan
tâm đến việc sử dụng vào việc gì những kiến thức mà sinh viên đã thu hoạch
được. Nhiều Ttrường
khác lại quả quyết rằng phải thỏa mãn mọi dục vọng để đi đến chỗ chán ngán hầu
đạt đếnược
trạng thái dửng dưng. Không có Ttrường
hợp nào chủ trương các ý kiến trên
được Quần Tiên Hội cai quản. Trong tất cả những Ttrường
được thiết lập có liên quanhệ đến Quần Tiên Hội, dù rất xa
xưa, một đời sống trong sạch và một mục đích cao thượng cũng vẫn là điều kiện
tiên quyết và cần thiết.
Trong đoạn kế đó có hai điều sai lầm
nhỏ nhặt mà tôi đã đề cập đến. Tác Ggiả
cho biết : “Người ta cho rằng tác phẩm Tthần
Bbí
gọi là Paramartha do các vị Nagas truyền lại cho Nagarjuna ( Long
Thọ ).”.
Tác phẩm vĩ đại của Long Thọ có nhan đề là Prajna Paramita[3] [3] chớ không phải Paramartha, có
nghĩa là Ttrí
Hhuệ
đưa đến bờ bên kia. Bộ Kkinh
nầy không luận giải về Paramartha satya hay Ttâm Tthức
giúp bậc hiền giả chiến thắng mộng ảo. Như chúng tôi đã đề cập ở phía
trước, Long Thọ là một trong ba vị Huấn Sư vĩ đại của Phật Giáo vào đầu kỷ
nguyên Thiên Chúa. Người ta cho rằng Ngài mất vào năm 180 sau Thiên Chúa. Những
Nnhà
Thông Thiên Học ngày nay biết Ngài dưới danh hiệu Ðức Thầy Kouthoumi.
Ðôi khi khiến Ttác
Ggiả
Đđạo
Ggiáo
Ccông
Ttruyền
cho rằng Ngài là đối thủ của Ðức Aryasanga, nhưng khi biết những sự liên hệ mật
thiết đã kết hợp hai Ngài trong những kiếp trước ở tại Hy Lạp và thêm một lần
nữa trong kiếp nầy, thì chúng ta thấy ngay không thể có một sự đối nghịch như
thế. Rất có thể khi hai Ngài qua đời những Mmôn Đđệ
của Ngài đã
tạo ra sự tương phản trong Ggiáo
Llý
của các Ngài, như những Đđệ Ttử
nhiệt thành song ít sáng suốt thường làm. Nhưng chúng ta thấy bằng cớ về sự hòa
thuận hoàn toàn ở hai vị Huấn Sư do sự kiện Ngài Aryasanga trân trọng giữ gìn
một phần lớn những tác phẩm của Ðức Long Thọ mà Ngài đã sao chép lại trong tập
sách trích dẫn của Ngài để dạy các Đđệ Ttử.
Tuy nhiên không chắc chắn rằng Kinh
Bát Nhã Ba La Mật Ða là tác phẩm của Ðức Nagarjuna, vì theo truyền thuyết bộ
Kinh được các vị Nagas hay Thần Rắn truyền lại cho Ngài. Bà Blavatsky cho rằng
đây là danh hiệu của những Vvị
được Ðiểm Ðạo thuở xưa. Có lẽ Bbà
có lý, mặc dù còn một lý do khác có thể rất thú vị. Tôi đã khám phá rằng người
Aryen gọi Nagas hay Rắn là một trong những Bbộ Llạc
lớn hay Ttôn
Ttộc
Ggiống
Ddân
Pphụ
Toltèque của người Atlante mà xưa kia khi ra trận họ mang một cái cây có con
rắn vàng quấn chung quanh để thay cho cờ hiệu. Cây ấy có thể là Tổ Vvật
(Totem) hay biểu tượng của Bbộ Llạc
hoặc chỉ là biểu hiệu của một đại gia đình. Bộ Llạc
hay Tthị
Ttộc
nầy là người Atlante, họ đã giữ một vai trò quan trọng trong việc xâm chiếm xứ
Ấn Ðộ thuở xưa và những vùng đất thuộc phía Đđông
Nnam
Bbán
Đđảo.
Những Bbộ
Llạc
gọi là Nagas cũng được kể trong số Tthổ Ddân
Tích Lan khi VBijaya
và những người đồng hành với người đổ bộ lên đó. Vậy người ta có thể giải thích
truyền thuyết khi cho rằng Ðức Long Thọ tiếp nhận bộ Kinh ở một Ggiống
Ddân
rất xưa. Nói cách khác, bộ Kinh đó chính là một bản văn của người Atlante. Nếu
người ta nghi ngờ có vài đoạn trong Kinh Upanishads phát sinh từ một nguồn gốc,
thì cũng có sự ngạc nhiên về nét tương đồng của các Ggiáo
Llý
được nhận thấy trong một trang sách như thế của Bà Blavatsky.
Kinh Gnyaneshwari (viết là
Dhyaneshwari trong lần xuất bản thứ nhứt) không phải là một tác phẩm bằng tiếng
Bắc Phạn . Nó được viết bằng tiếng Marathi vào thế kỷ
thứ 13 thuộc kỷ nguyên chúng ta.
Ở trang kế đó, chúng ta thấy Ttrường
Pphái
Yogyacharya
(đúng hơn là Yogachara ) thuộc Pphái
Ðại Thừa ( Mahayana )
được đề cập đến. Tôi có nói đến ý đồ quan điểm của
Ðức Aryasanga, nhưng chúng ta nên bàn vài lời về điểm thật rắc rối là vấn đề
Thừa ( Yanas ),
tưởng cũng không
vô ích. Giáo Hội Phật Giáo hiện đại chia ra làm hai Ttông
Pphái
là Bắc Tông và Nam Tông. Bắc Tông bao gồm trong các nước Trung Hoa, Nhật Bản và
Tây Tạng. Nam Tông thịnh hành ở Tích Lan, Miến Ðiện, Kampuchia. Phật Giáo Bắc
Tông chọn Ðại Thừa ( Mahayana )
và Nam Tông theo Tiểu Thừa ( Hinayana
), nhưng muốn xác nhận điều ấy phải hiểu nghĩa của danh từ gây ra
nhiều sự tranh luận. Yana ( Thừa )
có nghĩa là cổ xe vmà
người ta đồng ý rằng đó là nghĩa áp dụng vào Pháp (Dhamma) hay Bbổn
Pphận
hay Luật , như chiếc thuyền chở chúng ta xuyên
qua biển đời để đến Niết Bàn (Nirvana). Tuy nhiên có năm lý thuyết liên quan
đến nghĩa thật của chữ Yana chúng ta đang xét :
1. Ðó là sự thích hợp với thổ ngữ
của vùng viết ra bài Pháp (the Law ).
Theo giả thuyết thì Ðại Thừa dùng tiếng Bắc Phạn ( Sanskrit
), Tiểu Thừa dùng tiếng Nam Phạn ( Pali
). Theo tôi, lý thuyết nầy dường như không đứng vững.
2. Hina dường như có nghĩa là trung
bình, hoặc dễ dàng hay nhỏ. Vậy người ta có thể xem Hinayana như con đường bậc
trung, hoặc dễ dàng hơn để đưa đến giải thoát, có kiến thức tối thiểu và hạnh
kiểm tốt cũng đạt được mục đích. Ðại Thừa (Mahayana )
là giáo lý toàn diện và có tính cách Ttriết
Llý
hơn, bao gồm thêm nhiều kiến thức liên quan với những loại cao cả trong Tthiên
Nnhiên.
Dĩ nhiên là sự giải thích nầy bắt nguồn từ Ðại Thừa.
3. Ðạo Phật luôn luôn tôn trọong
các Tôn Ggiáo
khác, xem tất cả như những con đường đưa đến giải thoát, mặc dù nó cho rằng
phương pháp do Ðấng Giáo Chủ khai sáng là con đường ngắn nhất và vững chắc
nhất. Vậy Phật Ggiáo
được coi như Ðại Thừa ; và Tiểu Thừa gồm có Bà La Môn Giáo (
Brahmanism ), Hỏa Giáo ( Zoroastrianism
), Kỳ Na Giáo ( Jainism
) và tất cả những Tôn Ggiáo
khác trong thời đó được định nghĩa theo công thức ấy.
4. Hai lý thuyết chỉ là hai trình độ
của một chủ thuyết duy nhất - Tiểu Thừa ( Hinayana
) dành cho hạng Shravakas hay Thinh Văn và Ðại Thừa (
Mahayana ) dành cho những sinh viên tiến bộ
hơn.
5. Không nên hiểu chữ Yana một cách
rõ rệt theo nghĩa thứ nhứt là “cổ xe”, nhưng nên hiểu theo nghĩa thứ hai gần
tương đương với tiếng Anh là chữ “career” (sự nghiệp). Theo sự giải thích nầy,
Ðại Thừa ( Mahayana ) đề
nghị với con người thực hiện “sự nghiệp vĩ đại” và trở nên một vị Bồ Tát (
Bodhisattva ) và hy sinh cho hạnh phúc của Tthế
Ggian.
Trái lại Tiểu Thừa (Hinayana )
chỉ chứng tỏ một “tiểu sự nghiệp” là điều chỉnh đời sống thế nào để đạt đến mục
đích của mình tức Ccõi
Niết Bàn (Nirvana ).
Phật Ggiáo
Bắc Tông đối với Nam Tông cũng như Công Ggiáo
đối với Tin Lành trong Thiên Chúa Giáo. Phật Giáo Bắc Tông giống như Công Ggiáo.
Nó hoằng diễn giáo lý của Ðức Phật. Chẳng hạn nó chấp nhận một phần tốt lành
của việc thờ cúng cổ xưa ở trong xứ, như sự cúng kiến để tỏ lòng sùng kính
những Ttinh
Llinh
trong Tthiên
Nnhiên
hoặc những sức mạnh trong Tthiên
Nnhiên
được Tthần
Tthánh
hóa. Khi những Nnhà Ttruyền
Ggiáo
Đđạo
Thiên Chúa đến những xứ theo Phật Giáo Bắc Tông, họ thấy những cuộc tế lễ thật
giống như sự cúng tế của họ thì họ cho rằng đó là một sự bắt chước do Mma
Qquỷ
xúi giục, và khi họ được chứng minh rõ ràng những cuộc tế lễ ấy
đã có trước kỷ nguyên Thiên Chúa, họ lại nói rằng đó chính là “đoán trước mà
bắt chước.”.
Trong các Kinh Đđiển
Phật Giáo cũng như trong Kkinh
Ssách
của các Tôn Ggiáo
khác, người ta thấy có nhiều mâu thuẫn. Phật Giáo Nam Tông căn cứ trên vài văn
bản, và vì sợ xa nguyên bản nên không tìm hiểu Kkinh
Ssách
khác hoặc là những phần thêm vào nguyên bản. Do đó Pphái
nầy không quảng bác bằng Phật Giáo Bắc Tông. Như đây là một thí dụ
: Trong những bài thuyết pháp, Ðức Phật của chúng ta luôn luôn đả
phá ý niệm phổ biến trong thời bấy giờ là Bbản Nngã
có thể trường tồn. Cũng như trong những người Thiên Chúa Giáo ý niệm cho rằng Bbản
Nngã
chúng ta bất diệt bao giờ cũng rất phổ thông. Nhưng khi Ngài dạy rằng những sự
vật đồng hóa với con người không có gì trường tồn, Ngài cũng tuyên bố một cách
không lầm lạc về những điều liên hệ đến những kiếp sống liên tiếp của chúng ta.
Ngài mượn thí dụ những kiếp trước ;
và một vị Vua hỏi Ngài ký ức tiền kiếp giống cái chi, Ðức Phật trả lời rằng
: “Việc đó giống như người ta nhớ lại đã làm gì hôm qua và những
ngày trước đó đi xuống làng nầy hay làng kia.”.
Tuy nhiên ngày nay Pphái
Nam Tông dạy chỉ có Nnghiệp
còn lại thôi, còn Chơn Ngã thì không tồn tại. Như con người sau khi đã gây ra
trong kiếp sống một số Nghiệp, kế đó y chết đi, không có gì còn lại ở y, rồi
khi sinh ra, một người khác phải chịu Nghiệp Quả mà hắn không tạo ra.
Khi Phật Giáo Nam Tông dạy rằng chỉ
có Nghiệp trường tồn, đồng thời Ttông
Pphái
nầy cũng đề cập đến việc đạt Niết Bàn. Do đó nếu bạn hỏi một vị Ðại
Sư tại sao ông quy y Phật, ông sẽ trả lời “Ðể vào Niết Bàn.”.
Nếu bạn hỏi thêm : “Phải trong kiếp nầy không?”.
Ông sẽ không ngần ngại trả lời : “Ồ
! không, phải nhiều kiếp mới được.”.
Cũng thế, khi chấm dứt bài thuyết pháp, một vị Ssư
chúc thính giả như sau : “Cầu xin Quý Liệt Vị sớm nhập Niết
Bàn.”.
Nếu bạn hỏi ông có phải họ vào Niết Bàn trong đời nầy không, ông đáp
: “Không, phải nhiều kiếp nữa.”.
Vậy mặc dù giáo lý trái ngược lại, sự tin tưởng thực tế trong đời sống cá nhân
vẫn tồn tại.
Bà Blavatsky đã dành hết hai trang
để bàn về vấn đề những loại chữ khác nhau được dùng trong các Ðạo viện ở Hy Mã
Lạp Sơn. Ở Âu Châu và Mỹ Châu, mẫu tự La Mã rất thịnh hành, đến nỗi được sử
dụng phổ thông, nhưng đối với những độc giả Tây Pphương
cần phải được giải thích rằng ở Ðông Pphương
lại khác hẳn. Mỗi thổ ngữ Ðông Pphương
như Tamil, Telugu, Cinghalais, Malayalam, Hindi, Gujarati, Canarese, Bengali,
Birman, Nepalais, Tây Ttạng,
Thái Llan
và nhiều thổ ngữã
khác nữa đều có mẫu tự riêng và chữ viết đặc biệt của nó. Một người dùng một
trong các thứ thổ ngữ nầy khi y trưng dẫn một bản văn nước ngoài, y sẽ sử dụng
chữ viết của nước y. Cũng thế khi một nhà văn Anh trưng dẫn một câu văn Ðức hay
văn Nga, thì chắc chắn y không viết câu ấy bằng chữ Ðức hay chữ Nga, nhưng viết
bằng chữ La Mã. Khi đề cập đến một thủ bản Ðông Pphương
bao giờ cũng phải xét đến hai điều là ngôn ngữ và chữ viết. Cả hai phải luôn
luôn trùng hợp nhau.
Ở Tích Lan, nếu tôi quan sát một
quyển Kinh bằng lá buông, hầu hết được trình bày bằng chữ Cinghalais rất đẹp,
nhưng không có gì giống ngôn ngữ Cinghalais. Nó có thể hoàn toàn giống Pali,
Sanskrit hay Elu ; đối với thứ chữ khác cũng có thể
như thế. Do đó khi nói rằng những lời giáo huấn ấy đôi khi được viết bằng chữ
Tây Tạng, có thể Bà Blavatsky muốn nói rằng chữ ấy là chữ Tây Tạng, nhưng không
nhất thiết là đúng ngôn ngữ Tây Tạng. Tôi không bao giờ có cơ hội được thấy
những ký hiệu bí mật lạ lùng mà Bbà
đã mô tả, trong đó những màu sắc và thú vật biểu thị những chữ. Cũng trong đoạn
ấy Bbà
đề cập đến 30
ba mươi chữ đơn của mẫu tự Tây Tạng.
Ngược lại, làm sao giải thích khi Bbà
nói đến 33 ba
mươi ba chữ đơn sau đó. Nếu không kể 4 bốn
nguyên âm trong đó, thì chỉ có 30 ba mươi chữ,
và trong trường hợp ngược lại, dĩ nhiên có 34 ba mươi bốn chữ
chứ không phải 33ba mươi ba.
Còn về chữ kép, số lượng của nó lại thay đổi. Một quyển văn phạm mà tôi có
trước mắt cho biết có trên 100 một trăm chữ,
nhưng chắc Bà Blavatsky chỉ muốn nói đến những chữ thông dụng.
Bà nói đến một trong các phương pháp
viết chữ Trung Hoa khiến tôi nhớ đến một kỷ niệm thú vị. Trong khi tôi lưu ngụ
tại Tích Lan, có hai vị Tăng Ssĩ
từ Trung Hoa đến viếng chúng tôi. Họ không nói được thứ ngôn ngữ nào cho chúng
tôi hiểu họ. May thay có vài sinh viên trẻ người Nhật Bản ở bên chúng tôi, nhờ
sáng kiến phối hợp tuyệt diệu của Ðại Tá Olcott mà theo đó mỗi Ttông
Pphái,
Nam và Bắc Pphương
đã gởi vài Ttân
Hhọc
Ttăng
đến để tìm hiểu đường lối giáo lý của nhau. Mấy vị Ttăng
Ssĩ
trẻ nầy không hiểu được một thứ tiếng nào khi nghe các vị Ssư
Trung Hoa nói, nhưng nhờ phương tiện bút đàm, họ có thể trao đổi ý kiến với
nhau. Ðối với người Nhật những ký hiệu ( chữ
) viết ra cũng có nghĩa ( như
Trung Hoa ) nhưng đọc khác. Cũng thế một người
Pháp và một người Anh, đều hiểu hoàn toàn một dãy số, dù người nầy đọc “un,
deux, trois”, còn người kia đọc “one, two, three.”.
Ðối với những
nốt nhạc người ta cũng có thể nói giống như thế.
Cuộc đàm thoại của tôi đối với các
vị Ssư
thật lạ lùng và thú vị. Trước hết mỗi câu hỏi của tôi đều được bạn đồng sự của
tôi dịch ra tiếng Cinghalais để sinh viên Nhật hiểu ;
sau đó sinh viên ấy dùng cọ viết ra chữ chung của Trung Hoa và Nhật Bản. Rồi
đến lượt vị Ssư
Trung Hoa đọc và viết câu trả lời bằng cách sử dụng cùng thứ chữ ấy, sau cùng
lại được sinh viên Nhật dịch ra tiếng Cinghalais và bạn đồng sự của chúng tôi
dịch ra tiếng Anh.
Dù cuộc đàm thoại trong những điều kiện nầy chậm chạp và kém chính xác, nhưng vẫn là một kinh nghiệm hữu ích.
Những lời dạy nầy để dành cho những
kẻ chưa biết những mối nguy hiểm của những Iddhi bậc thấp.
C.W.L.- Ở câu
đầu của đoạn thứ nhứt nầy, Bà Blavatsky thêm vô ghi chú như sau
:
Tiếng Pali Iddhi đồng nghĩa với
tiếng Sanskrit Siddhis và có nghĩa là những năng lực tâm linh, những quyền năng
phi thường của con người. Có hai loại Siddhis, một nhóm gồm những tinh lực linh
khí thấp thỏi, thô sơ ; nhóm kia buộc phải có sự huấn
luyện cao siêu về quyền năng thần bí. Như Ðức Krishna nói trong Kinh Shrimad
Bhagavat :
“Kẻ nào chuyên tâm thực hành Yoga,
khống chế được giác quan và tập trung tinh thần nơi Ta ( Krishna
), sẽ là những nhà Yogis mà tất cả những Siddhis đều sẵn sàng cho
người sử dụng.”.
Vấn đề quyền năng tâm linh đã gây ra
không biết bao nhiêu ngộ nhận !
Người sinh viên tự tránh cho mình nhiều khổ nhọc nếu lúc đầu họ cố gắng đạt
được một quan niệm hợp lý về vấn đề nầy. Trước hết không nên có thái độ khinh
suất đối với sự giải thích chữ “phi thường.”.
Những năng lực nầy chỉ phi thường theo ý nghĩa trong thời đại nầy ít ai biết
đến chúng và không hề có nghĩa là trái với Đđịnh
Lluật
Tthiên
Nnhiên
chút nào. Ðối với mỗi người, chúng hoàn toàn tự nhiên, dù tiềm ẩn, hiện nay
chúng vẫn hiện hữu ở mỗi người. Vài người đã mở mang và làm cho chúng hoạt
động, nhưng phần đông chưa thực hiện một sự cố gắng nào đối với chúng, nên
những quyền năng của họ còn ngủ mê.
Cách đơn giản nhất để nắm được ý
niệm tổng quát là nên nhớ rằng con người là một Linh Hồn và nó biểu hiện trên
những Ccõi
khác nhau nhờ những Tthể
thích ứng với các Ccõi
nầy. Hành động thấy hoặc nghe trong Ccõi Đđời
Vvật
Cchất
đânầy
chỉ có thể dùng một Tthể
được cấu tạo bằng Vvật Cchất.
Cũng giống như muốn biểu hiện trên Ccõi
Trung Ggiới,
con người cần có một Thể Vía, vì Tthể Xxác
vô dụng trên ở Ccõi đời
nầy vẫn không thấy được, cũng như hoàn toàn giống như Thể Vía
không thấy được bằng mắt Ttrần
chúng ta. Lại cũng y như thế, con người phải sử dụng Thể Trí của y để sống
trên Ccõi
Thượng Giới.
Phát triển quyền năng tâm linh tức
là tập sử dụng giác quan của các Tthể của chúng
ta. Một người chỉ có thể dùng các giác quan của Tthể
Xxác
để thấy hoặc nghe những đối tượng ở của Ccõi
Ttrần
; nếu y tập sử dụng các giác quan của Thể Vía, y có thể thấy hoặc
nghe những đối tượng của Ccõi
Trung Giới. Vấn đề hoàn toàn đơn giản là tập đáp ứng với những rung động ngày
càng gia tăng. Hãy khảo sát bảng rung động trong một bài luận giải Vật Lý nào
đó, chúng ta sẽ thấy nhiều rung động trong đó không gây ra ở ta một sự đáp ứng
nào. Vài rung động cảm kích tai chúng ta, và chúng ta nghe những làn sóng âm
thanh ; các rung động khác gây ấn tượng
trên mắt chúng ta, và ta gọi chúng là những tia sáng. Tuy nhiên, giữa hai loại
rung động nầy, thuộc bậc cao và bậc thấp hơn chúng, có hàng ngàn loại dao động
khác không gây một ảnh hưởng nào trên giác quan vật chất của chúng ta. Con
người có thể phát triển bằng cách nào đó để trở nên mẫn cảm đối với tất cả
những sự rung động nầy của Cchất
Ddĩ
Tthái,
và cả với vật chất tế vi hơn Cchất
Ddĩ
Tthái.
Chúng ta gọi Nnhà
Tthần
Nnhãn
hay Tthần
Nnhĩ
là người đã thực hiện việc ấy vì thị giác hay thính giác của y đã mở rộng hơn
một người chưa phát triển.
Một sự phát triển nhãn quan tâm linh
như thế sẽ mang lại những lợi ích thật đáng kể. Người nào có quan năng ấy như được sống
trong một thế giới mới, rộng rãi bao la hơn, hay nói một cách chính xác hơn, y nhận thấy
rằng thế giới y từng sống đã phô bày những sự mở mang và những khả năng đủ loại
mà từ trước đến giờ y không hề biết đến. Sự nghiên cứu có thể cho y biết hiện
có khắp nơi ở
chung quanh y, một đời sống không có xác thân vật chất mênh mông và phức
tạp - như các Hhạng
Tthiên
Tthần
và Ttinh
Llinh
Tthiên
Nnhiên,
vô số nhân loại đang ngủ hoặc chết, đã bỏ xác phàm, những năng lực và ảnh hưởng
khác nhau mà chỉ cần hiểu để có thể chiêu tập và sử dụng chúng, nhưng thay vì
chỉ tin tưởng vào chúng, tự mình thấy tất cả những sự kiện nầy, nghiên cứu trực
tiếp và kinh nghiệm chúng - tất cả những điều ấy làm cho đời sống trở nên phong
phú và thú vị hơn . Như vậy con người có thể theo dõi
kết quả tư tưởng và hành vi của mình trên các Ccõi
cao, để nhờ đó hành động của y trở nên dễ dàng và hữu ích hơn. Những
sự lợi ích của sựviệc
khai mở tâm thức như thế thật hiển nhiên. Nhưng đâu là mặt trái của chiếctấm
huy chương ? Bà Blavatsky đã đề cập đến những
mối nguy hiểm của sự phát triển nầy gồm trong hai loại : Lloại
thấp thỏi và loại cao siêu. Trước tiên, chúng ta hãy bàn đến loại thứ nhứt
.:
Tất cả những gì từ bên ngoài đến với
con người đều nhờ sự rung động ;
sự rung động của không khí truyền âm thanh đến tai y. Sự rung động của ánh sáng
phô bày trước mắt y những cảnh tượng khác nhau. Nếu y thấy những đồ vật và sinh
vật trên Ccõi
Trung Giới, sự kiện nầy chỉ có thể xảy ra do sự tiếp xúc với những rung động
thuộc về Ccõi
Trung Giới và Thượng Giới trên các Tthể
có thể đáp ứng với chúng vì con người chỉ thấy được Ccõi
Trung Giới bằng các giác quan của Thể Vía và thấy được Ccõi
Thượng Giới bằng các giác quan của Thể Trí.
Trong mỗi Ccõi
nầy, cũng như trong
Ccõi
Ttrần,
có những loại vật chất thô trược nhiều hoặc ít cũng như thanh bai nhiều hay ít.
Nói chung, những rung động thuộc loại thanh bai ai cũng thích, còn những rung
động thô trược chẳng mấy ai thích. Trong con người có hai loại vật chất
; do đó y có thể đáp ứng với tất cả rung động, loại thấp cũng như
loại cao do y lựa chọn. Nếu y loại trừ tất cả ảnh hưởng thấp và chỉ chấp nhận những
rung động loại cao, như thế y đã sẽ trở nên
một tay trợ giúp đáng kể, ngay cả trên Ccõi
Trung Giới và Thượng Giới. Tuy nhiên Bà Blavatsky không chấp nhận những ảnh
hưởng nầy, dù chúng ta mang lại những giúp đỡ tạm thời, Bbà
gọi chúng là “những năng lực tâm linh và tinh thần còn thấp kém và thô trược”
và Bbà
mớời
gọi chúng ta hãy tiến lên những Ccõi
thật cao hơn, mvà
nơi đó không sợ những ảo ảnh của Bbản Nngã
nữa. Bà đoaán
chắc rằng sự phát triển tâm linh tầm thường sẽ mang lại những sự nguy
hiểm nhiều hơn là lợi ích ; nhưng đến một lúc nào
đó sự tiến hóa của người Đđệ Ttử
luôn luôn phải đi đếnối
với một trình độ phát triển như thế, Bbà
đã báo cho chúng ta biết trước về một vài điểm cần phải hết sức thận trọng.
Trong vòng 40 bốn
mươi năm trôi qua từ khi Bà Blavatsky viết những dòng nầy, riêng
cá nhân tôi, chúng tôi có thể nhận thấy những sự nguy hiểm ấy ở nhiều sinh
viên. Trước hết là tính kiêu căng, gồm một số lớn. Sự sở hữu một quyền năng, dù
đó là gia tài của toàn thể nhân loại còn rất hiếm được biểu hiện, lại thường
khiến cho Nnhà
Tthần
Nnhãn
thiếu hiểu biết nghĩ rằng y ( thường
xảy ra ở phái nữ nhiều hơn ) đã vượt rất cao trên đồng loại của
mình, y được Ðấng Toàn Năng lựa chọn để hoàn thành một công trình trọng đại của
thế giới, y được phú bẩm một tính phân biện không bao giờ sai lầm, y được chọn
lựa và cắt đặt dưới sự cai quản của các Thiên Thần để tạo dựng một vận hội mới,
và đại loại như thế. Bạn nên nhớ rằng bên kia thế giới luôn luôn có vô số thực
thể khoái hoạt và tinh ranh sẵn sàng khuyến khích những ảo tưởng nầy để phản
ảnh lại những ý tưởng ấy và để họ mượn xác thân hầu đóng vai trò của một Ðại
Thiên Thần, hoặc vị lãnh đạo tinh thần do họ dẫn dụ. Rủi thay, thật quá dễ dàng
để khuyến dụ một người trung bình chưa có bản lĩnh trong bước đầu, nhưng lại
hoàn toàn xứng đáng để nhận lãnh một sự mặc khải đặc biệt ( tức
quyền năng ) ,
thậm chí các bạn thân của y đến lúc ấy cũng bị mù quáng hoặc thiên kiến đã đánh
giá y một cách sai lầm.
Một mối nguy hiểm thứ hai có thể là
lớn lao hơn cả, vì nó gây ra tất cảrọn những
mối nguy hiểm khác, đó là sự thiếu hiểu biết. Nếu Nnhà
Tthần
Nnhãn
biết chút ít về đối tượng của y, nếu y hiểu một phần nào về những trạng thái
đặc biệt của những Ccõi
khác mà nhãn quan y hiện xâm nhập đến, thì dù
sao y có thể tưởng rằng y là người duy nhất đạt được đối tượng ấy, như một đặc
ân, và thầm nói một cách tự hào rằng y không thể lầm lạc. Nhưng nếu y cũng như
nhiều người khác, hoàn toàn thiếu kinh nghiệm, thiếu hiểu biết về những hoàn
cảnh đặc biệt và mọi thứ khác, thì trước hết y sẽ phạm từ lỗi lầm nầy đến lỗi
lầm khác về những gì y đã thấy, rồi y sẽ làm mồi một cách dễ dàng
cho tất cả những loại Tthực
Tthể
Ttinh
Qquái
hay lừa gạt trên Ccõi
Trung Giới. Y không có một tiêu chuẩn nào để xét đoán những gì y thấy hoặc
tưởng đã thấy, không có cách nào để kiểm nghiệm những sự mục kích hay liên lạc
của y, do đó không một cảm thức nào của y được hợp lý hoặc vững vàng
; rồi từ một câu châm ngôn rút ra trong một quyển
vở y phóng đại (magnify ) thành một đoạn văn có tính cách rất thiêng
liêng mà kỳ thực chỉ là một thông điệp Tthần
Llinh
tầm thường. Mặt khác, thiếu cả một kiến thức sơ đẳng về Kkhoa
Hhọc,
y thường không hiểu những điều quan năng của y phân biệt được, do đó y đã phát
biểu những gì y thấy thật thiển cận và phi lý một cách trầm trọng.
Mối nguy hạiiểm
thứ ba là thiếu sự tinh khiết. Người nào mà tư tưởng, đời sống lẫn khuynh hướng
đều tinh khiết và không vị kỷ sẽ được an toàn trước ảnh hưởng của những thực
thể bất hảo thuộc các Ccõi
khác. Y không có gì để chúng bám víu. Chúng không thể lợi dụng y được. Trái
lại, tất cả ảnh hưởng tốt lành tự nhiên bao bọc người ấy ;
chúng vội vàng sử dụng y như một vận hà cho sự hành động của chúng, điều nầy
dựng lên chung quanh y một hàng rào mới ngăn cản tất cả những gì hèn hạ, thấp
kém và tà vạy. Ngược lại, người nào đời sống hoặc bản tâm thiếu trong sạch, sẽ không
khỏi lôi cuốn tất cả những Ttinh
Llinh
xấu xa của thế giới vô hình đến gần chung quanh y ; y
sẵn sàng đáp ứng lại chúng ; còn những sức mạnh tốt lành ít khi
có thể gây một ảnh hưởng nhỏ nào đến y.
Nhưng một Nnhà
Tthần
Nnhãn
ý thức đến tất cả những mối nguy hại nầy, y cố gắng tránh chúng, chịu khó
nghiên cứu kinh nghiệm về Tthần
Nnhãn
lẫn sự phân tích hợp lý về Kkhoa
ấy, và kết hợp những động lực tinh khiết với tấm lòng khiêm tốn - người như thế
chắc chắn có thể thu hoạch được nhiều kiến thức, nhờ những quan năng vừa mới
nảy sinh ở y và những lợi ích do chúng mang lại để giúp y hoàn thành nhiệm vụ.
Những Pphép
Tthần
Tthông
được kể ra rất dài dòng trong Cchương
Bba
của bộ Yoga Sutras của Patanjali ; Ttác
Ggiả
cho rằng chúng được hoạch đắc bằng năm cách - do bẩm sinh, do dùng thuốc mê,
nhờ thần chú, nhờ sự khổ luyện và nhờ đại định.
Chúng ta sinh ra trong thể xác nầy
hoặc thể xác khác ; nó là kết quả những hành động của chúng ta
trong nhiều kiếp trước, và nếu Tthiên
Nnhiên
ban cho chúng ta các quyền năng tâm linh, thì chúng ta có thể chắc chắn rằng
mình đã tìm cách hoạch đắc nó bằng cách nào đó trong các
kiếp trước. Ngày nay, nhiều Nnhà Tthần
Nnhãn
có quan năng được khai mở một cách dễ dàng mà không trùng hợp với một sự tiến
hóa cao về tinh thần, chính vì trong kiếp trước họ đã có kinh nghiệm ấy,
như các Nữ Vu ( Vestaltes
- thiếu nữ giữ Đđền Tthờ
Llửa
) ở Hy Lạp và La Mã, những Nnhà
Yogi Ấn Ðộ kém tiến hóa hoặc những Nnhà
“Pphù
Tthủy
trị bệnh” trong các Bbộ Llạc
bán khai khác nhau, và sau cùng là những Nnhà “Nnữ
Ttiên
Ttri”
của thời Ttrung
Ccổ
; về vấn đề nầy luôn luôn có một sự phức tạp thật lớn lao.
Những gì sẽ xảy ra
cho các Nnhà
Tthần
Nnhãn
nầy, chiều hướng về đời sống tinh thần của họ sẽ ra sao, tất cả những điều ấy
một phần lớn tùy thuộc vào những người mà Nnghiệp
Qquả
tạo nên sự liên hệlạc
với họ. Nếu Nnghiệp
Qquả
đó khá tốt, họ sẽ gặp được Thông Thiên Học, họ sẽ có dịp thu hoạch vài khái
niệm liên quan đến những quyền năng đã nảy sinh và tiếp thu được một sự huấn
luyện trong Ttrường
Bí Giáo về tính chất của những đức tính sơ khởi, sự tinh khiết về thể chất và
đời sống thấm nhuần từ điện đã được quy định cho mọi Nnhà
Hhuyền
Bbí
Hhọc
chân chánh. Như thế, sau đó không bao lâu họ có thể khai mở những quanyền năng Ttâm
Llinh
một cách an toàn và sẽ giúp đỡ thật đắc lực cho nhân
loại.
Ðàằng
khác, nếu họ làm quen với Thần Llinh
Hhọc,
họ sẽ hoàn toàn dấn thân vào một chiều hướng khác thường dắt họ vào con đường Đđồng
Ccốt
tiêu cực, nghĩa là trái hẳn với mục đích của chúng ta.
Nhiều người muốn theo Kkhoa
Hhuyền
Bbí
Hhọc
giả hiệu để luyện Pphép
Tthần
Tthông
hầu thỏa mãn tham vọng cá nhân của họ, đó là con đường mang lại những sự nguy
hiểm ngặt nghèo. Khi thì họ tự đặt mình vào một tình trạng thụ động và mời gọi
những thực thể vô danh thuộc Ccõi
Trung Giới đến xâm chiếm hào quang hoặc các cơ quan của họ để sử dụng chúng
; khi thì họ dấn thân vào những phương pháp luyện tập Hatha-
Yoga ( phần chính gồm trong phép luyện khí
công ) mà rủi thay, đã được phổ biến nhiều
trong thế giới Tây Pphương
từ 30 ba
chục năm nay. Sự tập luyện nầy thường gây ra những sự
rối loạn trầm trọng về Ttinh
Tthần
và Tthể
Cchất.
Còn nếu tiếp xúc được với thế giới nội tâm, thì họ chỉ vượt qua các Ccảnh
thấp của Ccõi
Trung Giới là cao nhất, mà ở đây người ta không thể chờ đợi một ảnh hưởng xây
dựng nào.
Về phương pháp thứ hai hay cách dùng
thuốc, trong quyển giảng lý của bộ Yoga Sutras, có một ghi chú của Ðức Vyasa
cho rằng những hạng người A-Ttu-
Lla
( Asuras )
hay dùng đến cách nầy để đánh thức những quan năng Tthần
Tthông.
Hạng người A-Ttu-Lla
trái với hạng người Tu-Lla (
Suras ) và người ta có thể gọi một cách gần
đúng họ là hạng người vô tín ngưỡng ;
hạng Tu-la ( Suras )
là những người sống gần Thần Thánh ;
họ làm việc cho Ccơ Ttiến
Hhóa
do Trời
định.
Patanjali khuyên chúng ta không nên
theo phương pháp nầy, Ngài chỉ kểê ra
những phương cách có thể đạt được Pphép
Tthần
Tthông.
Nghiên cứu bộ Yoga Sutras, người ta nhận thấy Ngài chỉ thừa nhận phương pháp
chót trong năm phương pháp kể trên - đó là phương cách căn cứ trên sự đại định
(samadhi ).
Chúng ta có thể hiểu một phần nào
tác dụng của thuốc trên thể xác khi nó được dùng để đánh thức những quan năng Ttâm
Llinh,
nếu chúng ta nhớ lại rằng ở Ggiống
Ddân
Cchánh
thứ Ttư
Tthần
Nnhãn
được khai mở do hệ thống Ggiao
Ccảm
Tthần
Kkinh
rất phổ biến. Trong thời kỳ đó lớp vỏ Thể Vía chưa được tổ chức hoàn bị để dùng
như một Tthể
hay một phương tiện hầuđể
ý thức, đáp ứng một cách tổng quát với cảm giác do những vật trong Ccõi
Trung Giới gây ra. Các ấn tượng phản chiếu lại trong những trung tâm giao cảm
của xác thịt đến nỗi trong thể xác ý thức nhận được cùng một lúc những ấn tượng
thuộc Ccõi
Trung Giới và Hhồng
Ttrần
thường không thể phân biệt giữa hai loại ấy. Nói cho đúng, trong buổi đầu của Ggiống
Ddân
nầy và Ggiống
Lemurian hoạt động của Hhệ Ggiao
Ccảm
Tthần
Kkinh
mạnh mẽ hơn Hhệ
Nnão
Ttủy
rất nhiều. Do đó những kinh nghiệm thuộc về Ccõi
Trung Giới đóng một vai trò lớn lao hơn những kinh nghiệm ở Ccõi
Ttrần.
Nhưng từ đó hệ não tủy trở nên cơ cấu ý thức mạnh nhất trong thể xác
; do đó con người xoay dần dần sự chú ý của y đến
những kinh nghiệm ở Ccõi
trần, chúng đã cảm nhiễm y càng lúc càng gia tăng một cách sâu sắc. Sau cùng,
vì lý do đó ấy, Hhệ Ggiao
Ccảm
Tthần
Kkinh
đã ngưng dần việc giữ vai trò trung gian của những ấn tượng thuở trước
; vai trò hiện tại của nó là không can thiệp bằng ý chí, đảm nhiệm
nhiều chức vụ của các cơ quan mà con người không cần chú ý đến nữa, sự sinh
hoạt của nó thuộc về Ttinh
Tthần,
Ccảm
Xxúc
và Ttâm
Llinh
hơn là Vvật
Cchất.
Vậy sự dùng thuốc chứng tỏ hai điều
bất lợi : Kkhông
những nó gây rối loạn cho các cơ năng bình thường của cơ thể và đem Hhệ
Ggiao
Ccảm
Tthần
Kkinh
lại một ưu thế không cần thiết, mà đứng trên phương diện hoạch đắc quyền năng Ttâm
Llinh
nó còn đánh thức Hhệ Tthần
Kkinh
nầy ( Hhệ Ggiao
Ccảm
) và làm cho nó ý thức tại Ccõi Hhồng
Ttrần
một lần nữa khả năng ghi nhận những ấn tượng đến từ Ccõi
Trung Giới. Những ấn tượng nầy thường đến từ các Ccảnh
thấp của Ccõi
Trung Giới, mới quy tụ mọi khí thể của Ccõi
ấy và mọi Lloài
Ttinh
Hhoa
có vai trò kích thích tình dục và những ham muốn thấp hèn. Ðôi khi chúng đến từ
những vùng hơi cao hơn của thú vui xác thịt, như những lạc thú được mô tả trong
quyển tiểu thuyết nổi tiếng của Dumas có nhan đề là Monte Cristo hoặc trong “Lời
thú tội của một người ghiền á phiện” của Quincy ;
tuy nhiên ở đây ít thấy chúng hơn ở những nơi khác.
Tất cả điều nầy trái với Ccơ
Ttiến
Hhóa
được quy định cho nhân loại. Mỗi người đều có thể hoạch đắc Tthần
Nnhãn
và những linh năng tương tợ khác, nhưng không phải bằng cách đó. Trước hết
chúng ta phải phát triển Thể Vía và Thể Trí hầu có thể sử dụng chúng làm vận cụ
ý thức trên những Ccõi
tương ứng. Sau đó chúng ta có thể đánh thức những Luân Xa ( the
Cchakras)
của Ccái
Phách. Các Luân Xa nầy sẽ giúp cho việc truyền những kiến thức quý báu thu
hoạch được nhờ các Tthể
cao ấy xuống tâm thức thuộc Ccõi Ttrần.
Nhưng tất cả những điều nầy phải thực hiện đúng lúc và theo cách chỉ dạy của
Ðức Thầy. Bạn hãy nhớ đến đoạn của vị Huấn Sư nói như sau đây trong quyển “Dưới Châơn
Thầy”
: “Ðừng ham muốn những Pphép
Tthần
Tthông.”.
Phương pháp thứ ba nhằm sử dụng
những câu Tthần
Cchú
(Mmantras
). Danh từ nầy áp dụng cho vài công thức có quyền năng được dùng
trong lúc tham thiền hay trong những nghi thức tế lễ và thường được lặập
đi lặập
lại không ngừng. Người ta nhận thấy chúng trong những nghi lễ Thiên Chúa Giáo
cũng như ở Ðông Pphương,
như chúng tôi đã giải thích trong quyển Khoa Thánh Lễ ( The
Science of Sacraments ). Vậy nhiều Ttôn
Ggiáo
đã sử dụng vài âm thanh và kết hợp chúng với những hình ảnh, biểu tượng, ký
hiệu và những điệu bộ, có khi với những vũ điệu.
Phương pháp thứ tư là lối tu khổ
hạnh. Danh từ Tapas thường được kết hợp với sự khổ hạnh tột cùng, có thể thấy
ngay trong những sự kiện con người tự hành hạ mình, chẳng hạn như giơđưa
một cánh tay lên cho đến khô khan héo, hoặc
nằm dài trên bàn chông nhọn. Những sự thực hành nầy chắc chắn mở mang ý chí,
nhưng người ta có thể đạt được kết quả ấy bằng những phương pháp khác tốt đẹp
hơn. Những phương pháp Hatha Yoga vấp phải sự bất lợi lớn lao là ngăn cản việc
dùng xác thân để phụng sự nhân loại, mà đối với công nghiệp của Chơn Sư không
có việc gì quan trọng hơn. Ý chí vẫn có thể phát triển tốt đẹp bằng cách đương
đầu với những sự khó khăn của đời sống do Tthiên
Nnhiên
và Nnghiệp
Qquả
đưa đến ; chúng ta không cần phải tạo thêm
những phương pháp khác.
Trong Kinh Gita, Ðức Krishna lên
tiếng chống sự mê tín dị đoan bằng những lời lẽ gắt gao : “Những
sự người thực hành nghiêm nhặt,
lối tu khổ hạnh kinh sách không cho phép, đầy lòng tự kiêu và ích kỷ, bị mãnh
lực của sự ham muốn và đam mê lôi cuốn, trí tuệ lu mờ, chẳng những họ hành hạ
những yếu tố tạo nên xác thân của họ, mà còn hành hạ chính Ta nữa, vì Ta ngự
bên trong thể xác đó, nên biết rằng những kẻ đó là A-Ttu-Lla,
là những Qquỷ
có khuynh hướng ấy [4]”.”[4] Sự phi lý như thế không thể tạo nên sự khổ hạnh ( tapas
) thực sự. Danh từ nầy có nghĩa là “sức nóng.”.
Áp dụng vào đức hạnh con người, nó có nghĩa gần tương đương với chữ “effort”
(cố gắng) . Về phương diện nầy giáo lý trên
hình như có nghĩa thật sự như sau : “Hãy
thực hiện những gì bạn biết là tốt đẹp để cho
thể xác,
đừng chú ý đến sự khoan khoái giản dị của nó. Ðừng để cho tật lười biếng, thói
ích kỷ hay sự lãnh đạm ngăn cản bạn làm những gì có thể giữ gìn xác thân của
bạn được mạnh khoẻ, cường tráng hầu làm tròn nhiệm vụ của nó dưới Tthế
Ggian.”[5] [5]. Trong Kinh Gita, Ðức Krishna nói
:
“Tôn kính các Ðấng Thiêng Liêng, các
bậc Ttrưởng
Tthượng
, các bậc Đđạo
Ssư,
các bậc Hhiền
Ggiả,
mến chuộng sự khiết bạch, chánh trực, thanh liêm và hồn nhiên đều được xem như
là sự khổ hạnh của xác thâan”.
“Lời nói không gây ưu phiền, phải chơn
chánh, dễ thương và hữu ích và sự nghiên cứu Thánh Kinh được xem là sự khổ hạnh
về lời nói.”.
“Niềm vui tinh thần, sự thăng bằng,
trầm mặc, chủ trị bản ngã, tâm khiết bạch là những đặc tính, được gọi là sự khổ
hạnh về tâm hồn.“[6] [6].
Các định nghĩa trên đây được giảng
dạy do Ðấng mà hầu hết người Ấn Ðộ xem như hóa thân vĩ đại nhất của Thiêng
Liêng, không có gì giống nhữngư
lối thực hành ghê gớm như đôi khi chúng ta thấy nhiều sự kiện thật buồn thảm.
Phương pháp thứ năm là lối nhập định
mà quyển “Kim
Huấn Thư”
đã khuyến cáo. Cũng như trong bộ “Yoga Sutras” và các tác phẩm cổ điển tương tợ khác, pháp
nhập định phải thực hành sau pháp định trí (dharana) và tham thiền (dhyana),
theo sự phiên dịch thông thường có nghĩa là sau sự tập trung tinh thần
và quán tưởng ( meditation ),
còn nhập định có nghĩa là trầm mặc tư tưởng ( contemplation
). Chỉ phiên dịch bằng một chữ, một thành ngữ Bắc Phạn thường không được
hoàn mãn. Qua nhiều thời đại, những danh từ Phạn Nngữ
đã trở nên phức tạp một cách kỳ lạ, nghĩa của chúng đã trở thành phong phú với
thật nhiều tiểu tiết mà người ta không thể dịch ra một thành ngữ Anh Vvăn
nào. Phương thức duy nhất để hiểu các thuật ngữ Bắc Phạn nầy là nghiên cứu
chúng trong cả bản văn và trong các tác phẩm cổ điển.
Những Pphép
Tthần
Tthông
chẳng những có thể chia thành hai hạng cao và thấp thỏi, mà còn chia thành hai
loại như quan năng và quyền năng. Thế giới ảnh hưởng đến chúng ta do các giác
quan, do quan năng thị giác, thính giác, vân vân.v…, nhưng
về phía chúng ta, chúng ta cũng ảnh hưởng đến Ccõi Ttrần.
Sự hỗ tương ảnh hưởng nầy cũng được nhận thấy trong những sinh hoạt siêu vật
chất ( ở những Ccõi
cao hơn Ccõi
Ttrần
). Chúng ta nhận những ấn tượng do những quan năng mới khai mở của
Thể Vía và Thể Trí ; và cũng nhờ những Tthể
nầy chúng ta mới có thể hoạt động được. Những Kinh sách Ấn Ðộ thường đề cập đến
tám thứ Pphéáp
Tthần
Tthông
:
1. Aanima,
quyền năng biến thành nguyên tử để một vật trở nên nhỏ như thế hầu nghiên cứu
.
; 2.
Mmahima,
quyền năng hóa ra to lớn để tìm hiểu những vật vô cùng to tát không bị trở ngại
.
;
3. Llaghima,
quyền năng biến ra nhẹ như bông gòn có thể bay theo gió .;
4. Ggarima,
quyền năng biến thành một vật có mật độ và trọng lượng ng
nặng hơn cả .;
5. Pprapti,
quyền năng di chuyển đến mọi khoảng cách, ngay cả đến Mmặt
Ttrăng
.
;
6. Pprakamya,
mãnh lực của ý chí có thể thực hiện mọi nguyện vọng và mọi ước muốn
.;
7. Iishatwa,
quyền năng chế ngự và sáng tạo .;
8. Vvashitwa, quyền năng điều khiển mọi
vật.
Ðó là “những quyền năng lớn lao,”,
nhưng cũng còn những quyền năng khác được đề cập đến như sự an tĩnh và xác thân
tỏa từ điện, sự kiểm soát giác quan và dục vọng, trở nên đẹp đẽ duyên dáng và
đại loại như thế.
Ở thời đại ngày nay, khi nghiên cứu,
chúng ta xét mọi vấn đề để theo một quan điểm thật khác biệt với những học giả
Ấn Ðộ sống cách đây hàng ngàn năm, do đó đôi khi chúng ta khó hiểu họ. Chúng ta
là người của thời đại ngày nay và được đào luyện theo Kkhoa
Hhọc,
điều nầy bắt buộc
chúng ta phải có tinh thần thu xếp theo trật tự mọi kiến thức của mình. Mỗi
người nên cố gắng xây dựng để sử dụng riêng cho mình một lý thuyết tổng quát về
đời sống, thường là lý thuyết khá hồn nhiên, trong đó y tìm cách đưa vào mọi sự
kiện mới thu hoạch được như trong một cái ổ. Nếu đạt được mục đích nầy, y chấp
nhận sự kiện ấy ; trong trường hợp trái lại, chắc
chắn y bác bỏ, dù có những bằng cớ minh xác hơn cả. Có vVài
người hầu như có thể đồng thời tin tưởng những sự việc mâu thuẫn nhau mà không
bối rối ; nhiều người khác không tin tưởng
điều chi cả và họ thường rất khó nhọc trong việc xây dựng một cấu trúc tinh
thần để chấp nhận một sự kiện mới - thật khó khăn đến nỗi họ thường tránh né,
quên đi hoặc chối bỏ sự kiện ấy. Những huynh đệ Ấn Ðộ của chúng ta ngày nay
dường như đã ghi nhận những điều họ quan sát được rồi gác lại đó, chứ không tìm
cách liên kết chúng lại hoặc kết hợp chúng với những Ccõi
khác nhau đã tiếp nhận chúng, hay quan năng có thể cung cấp chúng.
Trong bảng kê những Pphép
Tthần
Tthông
nầy chúng ta nhận biết quyền năng thứ nhứt và thứ hai một cách dễ dàng
; vấn đề chỉ là biến đổi truong
tâm ý thức
; đôi khi chúng ta gọi chúng là quyền năng khoáng đại và giảm
thiểu ; quyền năng ấy có nghĩa là làm cho
tâm thức thích ứng với những vật cần sử dụng, công việc ấy đối với Nnhà
Hhuyền
Bbí
Hhọc
lão luyện không có gì khó khăn, dù không phải dễ giải thích một cách chính
xác phương thức tác động ấy tại Ccõi Ttrần.
Phép Tthần
Tthông
thứ ba và thứ tư đề cập đến quyền năng làm cho thân mình trở nên nhẹ nhàng hay
nặng nề như ý muốn ; muốn đạt được mục đích phải biết
dùng năng lực có sức đẩy đối nghịch với trọng lực. Tôi không hiểu thật chắc
chắn về Pphép
Tthần
Tthông
thứ năm ; vấn đề có thể chỉ là quyền năng di
chuyển trên Ccõi
Trung Giới, vì Mmặt Ttrăng
là giới hạn di chuyển của Ccõi
Trung Giới ; nhưng tôi nghi ngờ nhiều hơn về
năng lực định khoảng cách do ý chí. Phép Tthần
Tthông
thứ sáu và thứ tám chỉ trình bày những sự phát triển sức mạnh của chính ý
chí, nhưng là những sự phát triển rất phi thường ; Pphép
Tthần
Tthông
thứ bảy cũng giống như thế và thêm vào đó kiến thức cần thiết về sự để giải
thể ( dematerialization )
và sự kết thể (rematerialization )
những đồ vật. Trong bảng kê trên tôi không thấy sự tham khảo nào về Tthần
Nnhãn,
trong không gian hoặc trong thời gian.
Chúng ta nên để ý là trong quyển “Tiếng Nói
Vô Thinh”
không cho rằng những Pphép
Tthần
Tthông
bậc thấp hay Pphép
Tthần
Tthông
thuộc về Thể Vía hay Thể Trí phải được bỏ qua hoàn toàn, mà chỉ nói rằng chúng
gắn liền với những sự nguy hiểm quan trọng. Chốc nữa chúng ta sẽ nghiên cứu lại vấn đề
nầy vì muốn đạt đến đỉnh cao của chiếc thang không nên bỏ sót một nấc nào.
Ai muốn nghe và hiểu được tiếng Nada
“Tiếng Vô thinh” thì phải học cho biết bản chất của Dharana.
Phía dưới trang có hai chú thích
:
“Tiếng câm” hay “Tiếng Vô Thinh.”. Theo nguyên nghĩa có lẽ phải hiểu là
: “Tiếng nói theo nghĩa Tâm Linh,”, vì
chữ Sanskrit Nada đồng nghĩa với chữ Senzar.
Dharana là sự tập trung tinh thần
mãnh liệt và trọn vẹn vào một đối tượng nội tâm, đồng thời hoàn toàn tách biệt
với những gì thuộc về thế giới bên ngoài hay cảnh giới của giác quan.
Chữ Dharana ở đây dịch là tập trung,
bắt nguồn từ ngữ căn Ddhri,
có nghĩa là cầm, giữ lấy. Chữ Dharana ở sau chót có một nguyên âm ngắn, có
nghĩa là cầm, giữ hay chịu đựng, chống đỡ, trong một ý nghĩa tổng quát, nhưng
chúng ta thấy ở đây là một danh từ giống cái đặc biệt, chấm dứt bằng một nguyên
âm dài ; đó là một thuật ngữ có nghĩa là tập
trung hay chủ định tinh thần.
Ðôi khi người ta giải thích nó như
một sự tập trung tinh thần hay sự suy tư trên một số đối tượng nhất định
; vả lại, theo Kinh Ssách
Ấn Ðộ không có sự tham thiền hay trầm tư mặc tưởng nào có thể thành công nếu
không có sự thực tập Ddharana
trong buổi ban đầu. Bao lâu Cái Trí còn đáp ứng với tiếng gọi của Ccõi
Hhồng
Ttrần,
Ccõi
Trung Ggiới
và Ccõi
Hạ Thiên, thì làm sao nó có thể nghe bức thông điệp của Chơn Nhơn tìm cách
chuyển đạt cho Pphàm
Nngã
từ những Ccõi
cao của nó ?
Sự tập trung tinh thần cần thiết để
cho việc chú ý hướng về đối tượng nhất định chớ không hướng đến những hoạt động
không ngừng của các Hhạ Tthể.
Chúng ta nên có thói quen bắt đầu việc tập trung tư tưởng bằng cách chọn những
đối tượng giản dị. Một ngày kia người ta đến tìm Bà Blavatsky để xin Bbà
dạy phải tham thiền về vấn đề gì. Bà liệng cái hộp quẹt trên bàn và nói
:
“Tham thiền về cái nầy đây.”.
Ðiều ấy làm cho mấy người nầy rất ngạc nhiên ;
họ tưởng Bbà
sẽ khuyên nên tham thiền về Ðấng Ðại Phạm Thiên (Parabrahman) hay Ðấng Tuyệt
Ðối . Ðiều rất quan trọng là sự tập trung
tinh thần không được kèm theo một sự căng thẳng nào trên Tthể
Xxác.
Bà Bác Ssĩ
Besant có kể lại rằng một hôm bà được Bà Blavatsky dạy tập trung tinh thần lần
đầu tiên, Bbà
bắt đầu với một sự cố gắng vô cùng mãnh liệt ;
nhưng Bà Blavatsky ngăn lại và nói rằng : “Em
thân mến, không phải là người ta tham thiền bằng huyết quản của mình!”.
Ðiều cần thiết chính là sự giữ cho
Trí được yên tịnh, rồi người ta tham quán đối tượng của tư tưởng một cách hoàn
toàn an tĩnh, như chúng ta nhìn đồng hồ đặng biết giờ - trừ phi người ta canh
chừng để không vượt quá thời lượng đã định cho buổi thực tập tham thiền. Người
ta thường phàn nàn rằng sự thiền quán gây ra các chứng nhức đầu hoặc những sự
đau đớn khác. Sự kiện ấy không hề xảy ra, nếu biết giữ cho thể xác an tịnh và
tránh được mọi thứ căng thẳng, ngay cả trong đôi mắt, thì có lẽ người ta sẽ
nhận thấy sự tập trung tinh thần trở nên dễ dàng và có hiệu quả hơn rất nhiều,
mà không xảy ra một sự rối loạn hay nguy hiểm nào cho thể chất. Nhiều tác giả
đã đề cập đến vấn đề nầy và có vài người đã đưa ra những sự chỉ dẫn rất nguy
hiểm. Ai muốn biết thêm về vấn đề ấnầy
có thể đọc tác phẩm của Giáo sư Wood, “Sự Tham Thiền - Một Phương Pháp Thực Tập”
(Concentration - a Pratical Course). Bà Bác sĩ Besant có nói về vấn đề đóấy
: “Việc tham thiền không gây chút tai hại nào về vật chất, tinh
thần và đạo đức cho người muốn thành công trên con đường đóấy.”.
Trong phần ghi chú, Bà Blavatsky cho
rằng Ddharana
phải kết hợp với Ccõi
Thượng Thiên, vì Bbà
nói rằng Cái Trí phải chú định trên một đối tượng nội tâm và rút lui khỏi phạm
vi của cảm giác, là Ccõi Hhồng
Ttrần,
Ccõi
Trung Giới và Ccõi
HạThiên. Huấn lệnh nầy dành cho thí sinh đi trên Thánh Ðạo và nhắm đến mục đích
là sự nhập định trên Ccõi
Niết Bàn. Tuy nhiên ba thuật ngữ tập trung tư tưởng (concentration), tham thiền
(meditation) và nhập định (contemplation) đều có ý nghĩa tổng quát như nhau.
Chú ý vào một bản văn linh thánh, chính là tập trung tư tưởng. Nghiên cứu đủ
mọi phương diện, tìm cách thâmu nthập
vào ý
nghĩa của bản văn ấy, khám phá một tư tưởng mới hay sâu xa, hoặc nắm được tia
sáng của trực giác, đó là tham thiền. Chú ý một cách vững chắc, trong một thời
gian nhất định
vào ánh sáng đã nhận được, chính là nhập định. Người ta định nghĩa sự nhập định như
một sự tập trung được thực hiện đến mức cao siêu tột cùng của con đường mà dòng
tư tưởng hay sự tham thiền của bạn đã theo đuổi. Người sinh viên Ðông Pphương
thường bắt đầu việc thực tập của y trên một đối tượng bên ngoài thật giản dị,
từ đó tư tưởng của y hướng vào nội tâm, hoặc vươn lên một đối tượng cao siêu.
Khi đã trở nên lãnh đạm với những
đối tượng của tri giác, Đđệ Ttử
phải tìm kiếm Chúa Ttể
của giác quan, Tay sản xuất của tư tưởng, Kkẻ
gây ra ảo mộng.
Cái Trí là Kẻ đại phá hoại Sự Thật.
Ðệ Tử phải khử trừ Kkẻ
phá hoại đó.
Ðây là việc phải làm trong lúc định
trí. Như các tác phẩm Ấn Ðộ liên quan đến vấn đề nầy đã giải thích, sinh viên
muốn thực hành, trước khi bắt đầu tập trung tư tưởng thật sự, phải dẹp bỏ sự
chú ý đến những đối tượng của giác quan ; y
phải tập không để ý đến một cảnh tượng hay âm thanh nào trong phạm vi tri giác
của y ; y không được quyến luyến đối với
một người nào hay một vật nào ở trước mắt hoặc chạm đến y ;
như thế y mới sẵn sàng quan sát những tư tưởng và tình cảm hiện ra trong trí và
chiêm nghiệm chúng.
Như chúng ta đã giải thích, Thể Vía
và Thể Trí của nhân loại phần đông ở trong trạng thái linh hoạt không ngừng
; chúng phô bày một số trốt xoáy mà người muốn thực hiện những sự
tiến bộ thật sự bắt buộc phải diệt trừ ;
chúng là nguyên nhân của vô số ảo ảnh quấy nhiễu người bậc trung, do đó y cảm
thấy vô cùng khó khăn trong sự phán đoán mọi việc một cách chính xác. Giáo lý
Ðức Shankaracharya có trình bày công lý nầy : Mmắt
Ttrần
sẽ nhìn thấy rõ rệt khi nó chú định vào một chỗ, nhưng nó sẽ không đạt được
hiệu quả như thế khi nó nhìn vơ vẩẫn,
cũng giống như Cái Trí hiểu một cách minh bạch khi nó an tịnh. Nhưng nếu Cái
Trí có nhiều trốt xoáy, chắc chắn chúng sẽ làm biến thể những đối vật được thấy
và do đó tạo ra ảo ảnh.
Cái Trí gọi là Raja hay chúa tể của
giác quan. Ðôi khi nó được liệt vào số các giác quan ;
chẳng hạn như trong Kinh Gita :
Một
phần nhỏ của chính Bản ngã Ta biến đổi trong Ccõi
Đđời
thành Tinh thần bất diệt, được tạo nên những giác quan quanh mình, bao bọc bởi Vvật Cchất
(Prakriti ), mà Cái Trí là giác quan thứ sáu.
Dĩ nhiên Cái Trí không tác động như
một thứ giác quan nào, vì nó điều chỉnh những bằng chứng của ngũ quan và hơn
nữa nó cũng xác định sự hiện diện của những đối tượng vượt quá phạm vi của giác
quan. Chẳng hạn khinhư
cái bóng hiện trên ngưỡng cửa, bạn có thể kết luận rằng một người nào đó đang
có mặt ở đây.
Vậy Cái Trí là gì mà người chí
nguyện bắt buộc phải đối xử với nó nghiêm khắc như thế ? Patanjali nói về nó
khi Ngài định nghĩa sự thực tập Ppháp
Mmôn
Yoga như thể chitta-vritti-nirodha, nghĩa là sự kiềm chế (nirodha
) những trốt xoáy (vritti )
của Cái trí ( chitta ).
Theo những tín đồ của giáo lý Phệ Ðà hay trong Ttrường
Pphái
của Ðức Shankaracharya, thì thuật ngữ Aantahkarana
không được dùng theo nghĩa chúng ta thường hiểu, mà nó có nghĩa là Cái Trí theo
nghĩa rộng rãi nhứt của nó. Ðối với cả hai Ttrường
Pphái,
và hoàn toàn theo như nguyên nghĩa, thì Cái Trí là cơ quan hay dụng cụ bên
trong, có vị trí giữa Chơn Ngã thâm sâu nhất và thế giới bên ngoài. Nó luôn
luôn được chia làm bốn phần : “Kẻ tạo ra Chơn Ngã” (
ahamkara ) ;
tri kiến, trực giác hay lý luận thuần túy ( buddhi
) ; tư tưởng ( manas
) và sự phân biện những đối
tượng ( chitta ).
Chính hai phần chót nầy người Tây Pphương
thường gọi một cách tổng quát là Cái Trí với những năng lực suy tư một cách
trừu tượng và cụ thể. Còn các phần hoạt động khác, họ cho là cao hơn Cái Trí.
Nhà Thông Thiên Học sẽ nhận ra bốn
phần phân chia nầy của giáo lý Phệ Ðà là bốn nguyên tắc quen thuộc với họ
: Aatma,
Bbuddhi,
Mmanas
và Hạ Trí. Bà Blavatsky gọi phần chót nầy là Kkama-Mmanas,
vì đnó
chính là phần của Mmanas
( Cái Trí ),
có thể bị tác động bởi dục vọng và do đó ưa thích những đối tượng vật chất.
Chúng ta phải coi Kama như không những thích hợp với dục vọng và đam mê hạ
đẳng, mà còn thích hợp với mọi dục vọng, mọi tư lợi do nó cảm thấy ở thế giới
bên ngoài. Về phương diện nầy Ttam Tthể
Tthượng
(Tthe
Ttriple
Hhigher
Sself)
chỉ là Aantahkarana
hay nguyên lực nội tại ở giữa Chơn Thần và Pphàm
Nngã;
nó trở thành một Ttrí Tthể,
bởi vì trong vòng luân hồi, Mmanas
(Cái Trí ) là Nnhị
Tthể.
Ba thành phần của Chơn Ngã cao siêu
được xem như ba trạng thái của một đại tâm thức hay một đại trí
; cả ba đều là những phương cách về năng lực nhận thức. Atma không
phải là Chơn Ngã, nhưng là tâm thức biết Chơn Ngã ; Bbuddhi
là tâm thức, do chính tri giác của nó, nhận biết trực tiếp sự sống trong các
hình tướng ; Mmanas
cũng là tâm thức đó nhìn ra ngoài thế giới khách quan ;
sau cùng là Kama- Mmanas
, một thành phần của Mmanas,
chìm đắm trong thế giới nầy và chịu ảnh hưởng của Mmanas.
Chơn Ngã thật sự chính là Chơn Thần mà đời sống cao cả hơn tâm thức và đời sống
của toàn thể tâm thức ấy, tức là Chơn Ngã Siêu Việt. Do đó Ðức Patanjali và
Shankara đều hoàn toàn đồng ý rằng chính Cchitta,
Kkama-Mmanas,
Hhạ
Ttrí
là kẻ phá hoại sự thật và cần phải diệt trừ.
Chúng ta nên hiểu rằng trong Kama
- Mmanas
hay Cchitta
của người Ấn Ðộ là một phần lớn của Tthể
mà người Thông Thiên Học gọi là Cái Vía. Bà Blavatsky cũng đề cập đến bốổn
phầận
của Cái Trí. Trước hết là Mmanas
- Ttaijasi,
tức Mmanas
chiếu diệu rực rỡ, là Bbuddhi
thật sự hay ít ra là trạng thái của con người khi Mmanas
của y thấm nhuần trong Bbuddhi
lúc y từ khước mọi ý muốn tư kỷ. Kế đó là Mmanas
chính thực, tức Mmanas
cao siêu, là Cái Trí suy tư trừu tượng. Kế đóTiếp
nữa là Aantahkarana,
thuật ngữ chỉ
được Bà Blavatsky dùng để chỉ sự liên lạc, con kinh hay chiếc cầu nối
liền Thượng Trí ( Hhigher
Mmanas
) và HạTrí (Kama-Mmanas
) trong sự luân hồi. Sau cùng là Kama-Mmanas,
Hạ Trí, theo lý thuyết của chúng ta là Ttiểu
Nngã
hay Pphàm
Nngã.
Ðôi khi Bbà
gọi Mmanas
( Cái Trí )
là Ddeva-Eego,
tức là Chơn Ngã thiêng liêng để phân biệt với Pphàm
Nngã
( the Ppersonal
Sself
). Thượng Trí thiêng liêng vì nó có tư tưởng tích cực hay
kriyashakti, là năng lực thực hiện. Thật ra mọiột
việc làm của chúng ta đều là công nghiệp thuộc quyền năng của Cái Trí. Không
phải nhờ bàn tay của Nnhà Đđiêu
Kkhắc
song nhờ sức mạnh tinh thần điều khiển bàn tay ấy mà tác phẩm chạm trổỗ
đã hoàn
thành. Thượng Trí thiêng liêng vì nó là kẻ suy tư tích cực, sử dụng những đức
tính của chính đời sống nội tâm của nó chiếu diệu ra bên ngoài.
Ðó là ý nghĩa của của chữ thiêng liêng (
divine ), mà ngữ căn div có nghĩa là chiếu
sáng. Còn Hạ Trí, là một tấm gương phản chiếu tầm thường; như những vật bằng
vật chất khác, tự nó chẳng có ánh sáng; đó là một vật trung gian để cho ánh
sáng hay âm thanh đi xuyên qua; đó là chiếc mặt nạ, không hơn
không kém.
Trong những tác phẩm Thông Thiên
Học, Aantahkarana
thường được xem như sự liên lạc nối liền Ðại Ngã cao siêu hay Chơn Nhơn với Ttiểu
Nngã
thấp thỏi hay Pphàm
Nngã.
Trong Ttiểu
Nngã,
chitta phải phục tùng tất cả, đến nỗi đời sống của chúng ta dưới Tthế
Ggian
có thể so sánh với kinh nghiệm của một người cố gắng lội trong vực thẳm. Hơn
nữa, sau khi chết, sớm hay muộn gì y cũng tiếp tục sống một thời gian trên Ccõi
Thiên Ðường. Con người bị lung lay đủ mọi hướng, y thấy rất nhiều sự vật, nhưng
thay vì nghiên cứu chúng với Cái Trí an tịnh và trầm tĩnh, y lại làm việc ấy
với Kama-Mmanas
( Hạ Trí ),
do đó y không nắm được những gì đã biểu lộ trước Llinh
Hhồn.
Ngược lại, trên Ccõi
Trời, Chơn Nhơn có thể mở rộng Aantahkarana
vì bây giờ tất cả đều thanh tịnh ;
không có kinh nghiệm mới nào cần phải gặt hái thêm ;
rồi từ đó không có gì ngăn cản không cho nó nhớ lại một cách an tĩnh những kinh
nghiệm xưa để sống lại với chúng một cách nhàn hạ và gặt hái vài thứ tinh hoa
trong Chơn Nhơn (Ddeva-Eego
), vì đó chính là sự lợi lạc của nó. Như thế, rất
thường Chơn Nhơn thật sự bắt đầu chu kỳ đời sống của chính nó lúc nó bước vào Ccõi
Thiên Ðàng và trong thời kỳ thu thập những kinh nghiệm, nó chỉ chú ý đến Pphàm
Nnhơn
chút ít thôi.
Trong trường hợp nầy, trạng thái của
Cái Trí ( theo bảng phân loại của Bà Blavatsky
) được gọi là Aantahkarana
ít khi chuyển vận trước giai đoạn sống trên Ccõi
Thiên Ðàường.
Nhưng muốn trở nên thành thạo tại Ccõi
Trung Giới và Ccõi
Hạ Thiên trong khi sống bằng xác thân tại Ccõi Ttrần,
con người phải chuyển những năng lực mãnh liệt của Chơn Ngã cao siêu xuống và
xuyên qua Ccon
Kkinh
ấy (Aantahkarana),
bằng cách thực hành Dharana hay tập trung tư tưởng và hoàn toàn làm chủ Pphàm
Nnhơn.
Nói cách khác, y phải xóa bỏ những trốt xoáy của Thể Vía và Thể Trí. Người có thiênnhiều
tài trên một phương diện đặc biệt có thể tập trung tư tưởng dễ dàng bằng một
năng lực vô cùng mãnh liệt vào công việc riêng tư của y, nhưng khi nghỉ ngơi,
đời sống bình thường của y rất có thể còn biểu lộ một số trốt xoáy. Ðó là sự
việc chúng ta không muốn, mục đích của chúng ta là hủy diệt hoàn toàn những
trốt xoáy để thanh lọc những yếu tố bất hảo trong Hạ Trí, khiến cho nó an tịnh
và trở nên kẻ phụng sự biết vâng lời Chơn Ngã cao siêu trong mọi lúc.
Những trốt xoáy nầy có thể kết tinh
và thật ra chúng không ngừhững
kết tinh thành những thành kiến vô định, tạo nên những sự cô động vật chất thật
sự giống như nhiều mục cóc hiện trên Tthể Ttrí.
Vậy khi con người cố gắng nhìn ra ngoài, xuyên qua những điểm đặc biệt đó của
Thể Trí, thì cái nhìn của y không được rõ rệt ;
tất cả đều bị biến thể, vì trên những điểm đó vật chất tạo thành Thể Trí không
còn sống động và lưu chuyển nữa mà ngưng đọng lại và bị biến đổi. Muốn chữaủ
trị chứng nầy phải tự học hỏi, sắp xếp cho chất khí linh hoạt trở lại
; kế đó các thành kiến sẽ lần lượt bị cuốn theo dòng và tiêu tán.
Nếu Cái Trí là kẻ đại phá hoại sự
thật, chính vì xuyên qua Tthể
ấy chúng ta không thấy một đối tượng nào đúng thật là nó, nhưng chỉ là nhữngmột
hình ảnh mà chúng ta có thể tạo ra và những hình tư tưởng được chúng ta tạo tác
nầy phải truyền đạt đến mọi vật màu sắc đặc biệt của chúng. Bạn hãy để ý đến
hai người có những thành kiến khác nhau, đứng trước những hoàn cảnh như nhau và
đều đồng ý về nguyên nhân của những biến cố, đã thuật lại sự kiện ấy hoàn toàn
khác nhau. Tuy nhiên đó chính là những điều xảy ra đối với những người thường.
Chúng ta không biết rằng chúng ta đã làm biến thể mọi vật một cách vô lý như
thế. Người Đđệ
Ttử
phải vượt qua điều đó ; y phải “tiêu diệt kẻ phá hoại.”.
Cố nhiên y không được hủy diệt Cái Trí của y, vì y không thể không dùng đến nó,
nhưng y phải chế phục nó. Cái Trí là vật sở hữu của y, chứ không phải là cá nhân y, mặc dầu nó cố gắng
làm cho y tin nó là y..
Cách tuyệt hảo để ngăn cản Cái Trí vẩẫn
vơ là phải sử dụng đến ý chí. Thể Trí cũng như Thể Vía luôn luôn cố gắng tìm
cách dẫn dụ cho bạn tin rằng những sự ham muốn của chúng là những sự ham muốn
của bạn. Chúng ta phải làm chủ một cách chắc chắn cả hai.
Dù những trốt xoáy làm cho Cái Trí
chứa đầy những thành kiến sai lầm đã biến mất, song vẫn còn nhiều ảo ảnh. Việc
phiên dịch chữ Phạn avidya ra chữ “vô minh” có thể không thật xác đáng, dù chữ
ấy vẫn thường được công nhận. Trong chữ Phạn có nhiều sắc thái tế nhị khó dịch
ra chữ Anh. Vấn đề trong trường hợp nầy có thể là thiếu minh triết hơn là vô
minh. Dù kiến thức vô cùng quảng bác cũng không thể sánh được với minh triết,
vì kiến thức liên hệ với vật thể lẫn thời gian và không gian, trong khi sự minh
triết liên hệ đến Llinh
Hhồn
hay tâm thức tiềm nhập trong những vật thể nầy. Một Nnhà
Cchính
Ttrị
minh triết hiểu được nguyện vọng của dân chúng ;
một bà mẹ sáng suốt hiểu được ý muốn của các con bà. Dù con người có tất cả
những kiến thức liên hệ đến sự vật ở Ccõi Ttrần,
nếu y chỉ có nhãn quan có tính chất Dduy Vvật
chớ không nhìn xuyên qua Ssự Ssống,
thì y còn trong vòng vô minh hay thiếu sự minh triết. Bà Blavatsky có nói rằng
: “Thường thì trí thông minh hoạt động nhờ ở sự minh triết.”.
Từ sự thiếu sáng suốt hay vô minh, còn phát sinh ra bốn trở ngại lớn lao đối
với sự tiến bộ tinh thần, tính chung tất cả là năm trở ngại được gọi là Kkleshas.
Nếu Aavidya
là trở ngại đầu tiên, thì trở ngại thứ nhì là Aasmita,
tức ý niệm “Ta là Ccái Ấấy”
hay cái mà một ngày kia Ðức Thầy gọi là “Ttư Nngã”
(Sself-
Ppersonality).
Dưới ảnh hưởng của đời sống, Pphàm
Nngã
trở nên một nhân vật thật đặc biệt có một Tthể
Xác, Tthể
Vía và Tthể
Trí hợp với y. Ðiều nầy không có gì bất lợi, nếu các Tthể
đó tốt. Nhưng nếu đời sống nội tâm làm cho nó tin rằng nó chính là Pphàm
Nnhơn
đó ấy, nó sẽ chạy theo tư lợi, thay vì sử dụng
chúng cho những cứu cánh tinh thần.
Từ hậu quả của sự sai lầm thứ hai
nầy, con người khao khát sự giàu sang, quyền thế và tiếng tăm lẫy lừng. Khi
kiểm điểm nhà cửa của họ ở đồng quê và thành thị, những du thuyền và xe hơi, sự
giàu có khiến họ sinh ra kiêu căng và tưởng mình quan trọng, vì được tiếng chủ
nhân ông ; hoặc khi nghe tên tuổi mình được
nhắc nhở khắp nơi, biết rằng hàng ngàn người tán dương mình (
dù bằng lời lẽ nghiêm khắc, vì sự hiển đạt thường làm
cho kẻ vô danh khoái trá ), người ta tưởng rằng mình là một
nhân vật vĩ đại. Ðó là “Ttư Nngã,”,
một trong thói dị đoan to lớn nhất dưới Tthế Ggian,
và đối với mọi người nó là nguồn gốc của không biết bao nhiêu sự đau khổ. Trái
lại, con người Dduy Llinh
cho rằng mình sống hạnh phúc nếu y có thể làm chủ xác thân và lý trí của y
; y thích nhớ trong trí hình ảnh của hàng ngàn kẻ khác để giúp đỡ
họ, hơn là thấy một cách thích thú hình ảnh của mình được đề cao và ca ngợi
trong ý tưởng riêng tư của họ. Vậy Ttư Nngã
là một trở ngại lớn lao chống lại việc Chơn Ngã cao siêu sử dụng Pphàm
Nngã
và do đó ngăn trở sự tiến bộ Ttinh
Tthần.
Trở ngại thứ ba và thứ tư có thể tìm
hiểu chung : Đđó
là Rraga
và Ddvesha,
Yyêu
và Gghét,
thu hút và đẩy lui ; hai chứng nầy cũng bắt nguồn từ
chính Ttư
Nngã
ấy. Không phải Ttư Nngã
biểu lộ những sự ưa thích của nó. Cũng giống như một chiếc xe ô tô có
ý kiến riêng, nó tỏ ra bất mãn khi chủ nó lái trên con đường xấu, hoặc lộ vẻ
khoan khoái chạy trên con đường bằng phẳng. Ðối với chiếc xe mặt đường có thể
không tốt, nhưng đối với anh tài xế, điều quan trọng là phải có một con đường,
vì y có một mục tiêu và nếu không có đường giao thông thì y khó đến đó được. Có
nhiều ghế, lò sưởi, đèn điện và lò hơi thật là tiện lợi, nhưng muốn tiến bộ
phải thấy trong xứ chẳng những về vật chất mà còn những gì luôn luôn liên hệ
đến tâm tư và tình cảm. Người ta thích những vật thích phù hợp với
sự tiện lợi thông dụng và thói quen của mình ;
tất cả những gì gây xáo trộn cho họ đều “xấu”; ;
những gì thuận lợi cho họ đều “tốt.”.
Cách nhận xét đời sống như thế không thích hợp với sự tiến bộ Ttinh
Tthần.
Chúng ta không từ chối hạnh phúc khi nó đến với mình, nhưng phải xem thường nó
và chấp nhận một đời sống như
tất cả những việc xảy đến cho mình. Chúng ta không nên quan
tâm đến những gì mình ưa thích hoặc không ưa thích. Cái gì tốt hay xấu chỉ nên
để cho Chơn Ngã cao siêu phán xét trong sự bình tĩnh của nó.
Kế đó sự trở ngại thứ năm là Aabhinivesha
: Đđó
là trạng thái của con người chú tâm, thiết lập, bị ràng buộc vào hình thái nầy
hay hình thái khác của sự sống hoặc Pphàm
Nngã.
Hậu quả của sự trở ngại nầy là việc sợ già và sợ chết. Con người thật sự quên
đi lẽ đương nhiên nầy, nhưng khi ngày giờ đã điểm Pphàm
Nnhơn
không thể nào thoát khỏi. Chướng ngại thứ năm cũng có thể thật sự làm tê liệt
đời sống của chúng ta ; con người dùng tuổi thanh xuân của
mình để bảo toàn hạnh phúc và sự an ổn cho tuổi già ;
khi trở về già, họ muốn tìm lại thời hoa niên đã mất hoặc ngại dùng xác thân
của họ, vì sợ tổn thọ. Họ giống như người mua chiếc xe ô tô đẹp rồi cứ ngồi
trong xe, không
chịu rời khỏi nhà xe, khoái trá vì của mới tạo đó, nhưng không muốn sử
dụng nó, vì sợ hư hỏng. Bổn phận của chúng ta là tuân theo ý chí của Chơn Ngã
cao siêu, nếu cần chúng ta phải sẵn sàng chết để phụng sự nó.
Tất cả những trốt xoáy đều phát sinh
từ năm chướng ngại nầy; sự định trí và tham thiền là phương tiện xóa bỏ chúng
hoàn toàn. Khi Kkama-M
manas không còn hướng đến sự thấp kém nữa, thì Mmanas
mới có thể vươn lên và trở thành Mmanas
- Ttaijasi
(Thượng Trí ).
Một chữ Phạn khác được dùng để chỉ
cái Ttư
Nngã
ấy là chữ Mmana
mà đôi khi người ta dịch là “kiêu căng” hay hơn nữa là “tự mãn.”.
Chúng ta còn thấy ngữ căn của chữ ấy trong chữ Nnirmanakaya,
có nghĩa là một sinh linh đã vượt qua ảo ảnh đó - N-nirmana.
Theo Bà Blavatsky thì có ba loại hay ba cách hóa thân : Ttrước
hết là hóa thân của những vị Aavataras
là những Vvị
từ các Hhành
Ttinh
cao hơn chúng ta giáng lâm, các Vvị
ấy đã đạt được mục đích trong một chu kỳ tiến hóa trước chu kỳ của chúng ta;
cách thứ hai là loại bình thường, khi một người đã trải qua Ccõi
Trung Giới
và Cõi Thượngiên
Giới, lấy một xác thân mới; loại thứ ba là cách của những người Nnirmanakayas
tái sinh không gián đoạn, đôi khi chỉ sinh lại trong vài ngày sau. Trong bộ “Giáo Lý Bí
Truyền,”
Ttác
Ggiả
có nêu lên một thí dụ nói về Ðức Hồng Y Giáo Chủ de Cusa tái sinh lại rất nhanh
chóng và chính là Copernicus ; Bbà
cho biết thêm rằng những sự hóa thân mau chóng nầy không hiếm.
Bà gọi các Vvị
nầy là các Đđệ
Ttử
( Aadepts
), song không gán cho chữ ấy ý nghĩa hoàn toàn giống như chúng ta hiểu
hiện nay, ý Bbà
muốn nói rằng họ là những Đđệ Ttử
hay là Bbậc
đã thành thạo trên các Ccõi
Trung Giới và Hạ Thiên ; Bbà
còn quả quyết rằng các Vvị
ấy đôi khi xuất hiện trong những buổi Ccầu Ccơ
và những huynh đệ trong bóng tối thường hay chống đối họ, có lẽ vì sự tiến bộ
riêng của họ cũng như sự tiến bộ chung của nhân loại.
Bà Blavatsky nói rằng có hai hạng Nnirmanakayas
: Nnhững
Vvị
từ chối Ccõi
Trời như chúng ta vừa giải thích, và những Vvị
sau nầy đạt được một trình độ cao siêu hơn, đã từ chối quả vị mà Bbà
gọi là quả vị Niết Bàn tuyệt đối, để ở lại Tthế Ggian
giúp đỡ nhân loại. Văn Cchương
Thông Thiên Học hiện đtại
chỉ áp dụng thuật ngữ nầy cho hạng sau thôi, nhưng bây giờ vẫn nhắm vào hạng Nnirmanakayas
thấp hơn. Người ta tiêu diệt được tay phá hoại, đã diệt trừ hoặc gần như đã trừ
khử được năm chướng ngại ấy ; từ đó y phụng sự
Chơn Ngã cao siêu ; không có điều gì ở y không thích
hợp với Chơn Ngã đó. Sự mở rộng vận hà Aantahkarana
giúp y trong khi còn sống trong xác thịt có thể tiếp xúc trực tiếp với Chơn Ngã
cao siêu, luôn luôn tiếp nhận những điều cần thiết cho nó. Bao giờ con ong cũng
có thể đến viếng bông hoa và cảnh vật thanh tịnh, và khi xác thân đã chết, phần
tế vi của Pphàm
Nngã
vẫn có thể sử dụng lại nữa trong kiếp sau, vì nó không chấp chứa những trốt
xoáy hiện thân của những dục vọng kiên cố, những thành kiến cứng nghắtc,
và sau cùng là những tình cảm và tư tưởng biểu lộ một tính khí ích kỷ.
Khi Đđệ
Ttử
xem hình hài của mình dường như không có thật, giống như cảnh vật thấy trong
giấc mơ lúckhi
thức giấc,.
kKhi
đã hết nghe tiếng vạn vật, Đđệ Ttử
có thể nhận ra Ðấng Duy Nhất - tiếng nội tâm giết chết tiếng ngoại giới.
C.W.L. Giấc mộng và giấc ngủ
thường được các Nnhà
Hiền Triết Ðông Pphương
dùng trong việc so sánh ; chúng có sự hữu ích riêng, nhưng
chúng ta không nên để chúng dẫn đến chỗ lầm lạc. Khi thức tỉnh sau một giấc mộng
bình thường, chúng ta nhận thấy các giác quan của mình đã bị lừa gạt
; điều mà chúng ta cho là kinh nghiệm thật chẳng có gì giống như
thế. Nhưng cũng không hoàn toàn đúng như sự việc xảy ra khi chúng ta tri giác
thực tại tinh thần. Chúng ta thức tỉnh trong một sự sống cao siêu và khoáng đạt
hơn. Lần đầu tiên chúng ta khám phá ra những giới hạn áp chế đã vây hãm chúng
ta từ trước đến nay mà chúng ta không ngờ. Tuy nhiên, chúng ta
không nên tưởng rằng trước lúc đó đời sống của chúng ta chỉ là hư
không và mộng ảo. Do đó chúng ta thức tỉĩnh
trước những thực tại cao siêu, nên thái độ tinh thần xưa kia của chúng ta mang
tính chất phi lý. Nhưng dù sao tất cả điều nầy cũng đều tương đối. Rồi chúng ta
hành động theo sự sáng suốt và theo kiến thức của mình ;
bây giờ chúng nó tăng đến nỗi biến đổi tư tưởng và hành động của chúng ta.
Chính Mmôn
Đđồ
của Pphái
Phệ Ðà cũng nhìn nhận giấc mộng, đời sống tại Ccõi Hhồng
Ttrần, không
phải là không có giá trị hữu ích. Trong giấc mơ một người thấy mình bị một con
rắn đe doạ rất khủng khiếp và rốt cuộc bị nó cắn ;
sự kích động đó khiến y thức giấc, y cảm thấy vô cùng khoan khoái, vì biến sự
chỉ là một ảo giác ; tuy nhiên chính sự tấn công của con
rắn tưởng tượng ấy đã khiến y ý thức một đời sống thực tế hơn.,
Ccũng
thế, trong Kinh Gita, khi Ðức Krishna nói với Đđệ Ttử
của Ngài rằng sự Mminh
Ttriết
quý hơn những
của cải Tthế
Ggian,
Ngài đã dạy như sau : “Nầy Partha ! Ttrong
toàn thể của nó, mọi hành động đều đi đến tuyệt đỉnh trongcủa
sự Mminh
Ttriết.”[7] [7]. Chẳng những không chê bai một
đời sống hoạt động, Vvị
Ðại Huấn Sư nầy lại tuyệt đối khuyến khích nó ;
nhưng Ngài nói rằng thay vì tự ràng buộc vào sự hoạt động và những đối tượng
đang theo đuổi, thì chỉ nên tìm sự minh triết mà sự hành động có thể đem lại
cho chúng ta. Chính nhờ sự Mminh
Ttriết
mà con người mới có sự sống thật sự của nó, như một phần tử của Ðức Thượng Ðế.
Nếu con người nghe tiếng gọi của sự Mminh
Ttriết,
y sẽ dần dần làm chủ được mình và đời sống của mình. Tiếng nói nội tâm sẽ chấm
dứt sự náo loạn bên ngoài, chính sự náo loạn ấy đã khiến
cho hạng người trung bình hành động một cách cuồng nhiệt.
Có lẽ con người không còn chú ý đến
hàng ngàn sự việc chung quanh và đang cảm
nhiễm đến y, thì khiến y phải chú ý vào nội tâm của mình, vào
chứng nhân duy nhất của tất cả điều ấy, nhưng y không có toàn
quyền tự do làm
như thế,
bao lâu y chưa làm tròn bổn phận của mình dưới Tthế
Ggian.
Trong bất cứ lúc nào, dù có bổn phận gì, con người cũng đều có thể “hướng đến
những điều cao siêu, chứ không phải đến những sự việc dưới Tthế
Ggian,”[8] [8] , nhưng có lẽ y không được quyền
hy sinh trọn vẹn đời sống của mình cho công việc cao siêu, bao lâu y chưa trả
hết Nnghiệp
Qquả
do y gây ra trong kiếp quá khứ hoặc trong giai đoạn đầu của hiện kiếp
; chắc chắn y có thể cảm nhận tinh thần từ bỏ, nhưng bao lâu y còn
bổn phận phải thi hành dưới Tthế Ggian,
y phải hăng say hoàn thành nó một cách hết sức hoàn hảo.
Nếu khát vọng giải thoát của y khá
mãnh liệt và Nnghiệp
Qquả
của y không dựng lên một chướng ngại không thể vượt nổi trên con đường đi của
y, thì có lẽ không bao lâu con người sẽ thấy mở ra trước mắt y con đường giải
thoát. Chính tôi đã có kinh nghiệm thuộc loại ấy. Sư Pphụ
tôi gởi một thông điệp giao cho tôi vài cơ hội mà tôi đã nhận lãnh vớiơí
một tấm lòng biết ơn nồng nhiệt. Nếu đề nghị tốt đẹp đó được đưa ra sớm hơn một
chút, có lẽ tôi không thể chấp nhận được, vì lúc đó tôi chưa rảnh rang
; tôi còn một bổn phận thật rõ rệt phải hoàn thành mà tôi không
thể bỏ qua.
Có hai mức độ của Ssự
Ttừ
Bbỏ
(Vvairagya)
: Aapara
hay Vvairagya
bậc thấp, và Ppara
hay Vvairagya
bậc cao.
Sự từ bỏ mọi ràng buộc với sự vật
bên ngoài gồm ba giai đoạn. Ðầu tiên con người chán ngán những đối tượng mà xưa
kia đem lại lạc thú cho y, tuy nhiên y còn nối tiếc khi y đã chán nản nó
; y còn muốn hưởng thụ nữa, song vô ích. Rồi sự chán mứa ấy thúc
đẩy y đi tìm sự thỏa mãn khác ở nơi khác. Sau cùng, sau khi đã thoáng
thấy rõ ràng đời sống cao cả, những khát vọng Ttinh
Tthần
của y phát khởi và sức lôi cuốn của chúng mãnh liệt đến nỗi y không còn nghĩ
đến sự ham muốn khác. Hoặc khi biết những sự vật cao cả có thật và quyết định
đi đến chúng, y đã đi vào giai đoạn thứ hai, hoặc ghi nhận sự thiếu sót ở những
sự vật thấp kém bằng cách gây ra nơiở y
một thứ chán mứa giả tạo, hoặc đặt tất cả ý chí của y vào sự
quả quyết không thể lay chuyển nổi để xua đuổi sự quyến rũ của chúng và tiêu
diệt lạc thú do chúng gây ra. Sau rốt, cũng như trong trường hợp trước, có lẽ
sau nhiều cuộc thăng trầm, con người mới mở mắt trước đời sống cao thượng
; y nghe tiếng nói nội tâm giết chết tiếng bên ngoài
; từ đó y thu hoạch được Ssự Ttừ
Bbỏ
( Vvairagya
) cao siêu.
Giữa cuộc chiến đấu nội tâm, con
người thường đi đến trạng thái thực sự ghê tởm những đối tượng trước kia đã làm
cho y vui sướng ; thường thường đây chính là dấu hiệu chứng tỏ
y mới được giải thoát khỏi chúng và y vẫn còn sợ hãi sự cám dỗ của chúng
; y run sợ trước ý nghĩ ấy; y lẫn tránh chúng và tìm cách tiêu
diệt chúng một cách hăng say mà không cần lý luận. Tất cả những trạng thái dị
biệt trong giai đoạn thứ hai là những hình thức Vvairagya
(Ttừ
Bbỏ
) bậc thấp.
Bấy giờ và chỉ đến bấy giờ thôi, Đđệ
Ttử
sẽ bỏ miền Asat, Ccảnh
giả, để đi vào lãnh địa của Sat, Ccảnh
chơn.
Ở đây chúng ta phải cẩn thận, không
nên hiểu lầmkhinh
thường. Trong giai đoạn nầy người ta thường cho rằng những Ccõi
thấp toàn là ảo ảnh, nhưng ý nghĩa của nó hoàn toàn khác. Tôi đã đề cập đến Ccõi
chơn và giả, và đã giải thích rằng mọi Ccõi
đều thật đối với ý thức hoạt động trong đó. Quả thật người ta không nghe tiếng
nói nội tâm và xem xét nó như người ta đã xem xét tại những Ccõi
cao, con người không thể nắm lấy được chân lý dưới bức màn hiển hiện vô cùng
phức tạp đang bao quanh chúng ta.
Trước khi Linh Hồn có thể thấy, phải
có sự điều hòa bên trong và mắt Ttrần
không còn thấy một huyễn cảnh nào nữa.
Trước khi Linh Hồn có thể nghe, con
người phải không còn để lọt vào tai tiếng gầm thét huyên náo cũng
như tiếng thì thào, tiếng voi rống cũng như tiếng vo vo trong trẻo của con đom
đóm vàng.
Trước khi Linh Hồn có thể hiểu và
nhớ, nó phải hiệp nhất với Ðấng thốt lời không tiếngtrầm mặc,
cũng như hình
thể mà cái khuôn mẫu do đó mà đất sét theo khuôn mẫu nắn
nên hìnhđã hiệïp
nhất với tinh thần của người thợ làm đồ gốm.
Sự điều hòa nội tâm là sự điều hòa
ngự giữa Chơn Nhơn và các Tthể
của nó và dĩ nhiên cũng chính là sự điều hòa giữa các Tthể
nầy. Trong con người bậc trung luôn luôn có sự tranh đấu giữa Thể Vía và Thể Trí,
giữa nhữngsự
dục vọng và trí
thông minh. Các Tthể
nầy đều không hòa hợp với Chơn Nhơn và chưa thể làm vận cụ để phụng sự nó. Phàm
Nngã
phải được thanh lọc ; con kinh nối liền nó với Chơn Nhơn
phải được khai thông và mở rộng. Bao lâu việc nầy chưa hoàn thành, thì Pphàm
Nngã
còn thấy mọi sự vật và mọi người một cách rất hời hợt theo quan điểm riêng của nó. Chơn
Nhơn không thể biết rõ những gì xảy ra thật sự ;
nó chỉ thấy hình ảnh bị biến thể do Pphàm
Nnhơn
thu nhận ; sự kiện nầy giống như cái máy ảnh
trang bị một miếng kính hư hỏng đã làm biến dạng những tia sáng và từ tấm kính
hay phim ảnh lệch lạc đó tạo ra hậu quả của tất cả sự lu mờ, không rõ ràng và
thiếu chính xác.
Ðó là lý do vì sao ở đại đa số
người, Chơn Nhơn không tìm thấy một sự thỏa mãn nào trong Pphàm
Nnhơn
trước khi nó được bước vào đời sống trên Ccõi Tthiên
Đđàường.
Chơn Nhơn phân biệt được điều chơn với điều giả ;
vừa thoáng thấy nó đã nhận ra được điều chơn và dứt bỏ điều giả, nhưng thường
khi phóng tầm mắt về phía Pphàm
Nnhơn
ở dưới nó, nó thấy những hình tư tưởng rời rạc lẫn lộn trong một sự cuồng loạn hòa
hợp hỗn tạp đến nỗi nó không thể phân biệt điều
gì một cách rõ rệt. Nó quay đi một cách thất vọng và quyết định chờ sự thanh
tịnh trên đời sống Tthiên
Đđàường
trước khi tìm cách khám phá những mảnh chân lý trong sự hỗn độn thê thảm ấy. Dưới
Trong
những điều kiện an tĩnh hơn đó, khi nhữkhông
xúc động và những tư tưởng mới đây dướiở Ccõi
Ttrần
lần lượt xuất hiện và phô bày dưới ánh sáng rực rỡ của Ccõi
Trời, chúng sẽ được đánh giá một cách chính xác ;
cái gì vô dụng sẽ bị sa thải, cái gì quý báu sẽ được giữ lại. Vị Đđệ
Ttử
phải tìm cách thu hoạch kết quả nầy trước khi rời bỏ xác phàm bằng cách thanh
lọc Pphàm
Nnhơn
và tạo sự hợp nhất giữa nó với Chơn Nhơn.
Có thể những sự lầm lạc riêng tư không
mấy quan trọng. Bạn hãy tưởng tượng một con sâu, một con chim, một con khỉ và
một người bộ hành cùng nhìn một gốc cây. Con sâu sẽ thấy thức ăn trong đó, con
chim sẽ thấy một chỗ trú ẩn, con khỉ sẽ xem đó là một trường thể dục, và con
người sẽ cho là một nơi che mát ;
những hình ảnh nầy không hoàn toàn giống nhau, lại còn
khác nhau do ý niệm về chính gốc cây.
Nếu cái nhìn liên quan đến các đối
tượng bên ngoài, thì sự nghe liên hệ đến những gì đến từ bên
trong chúng ta. Muốn phân biệt được tiếng nói linh diệu cần phải có sự an tịnh
; người ta có thể đạt đến đó bằng sự định trí hoặc tập trung tư
tưởng. Muốn cho Llinh
Hhồn
nhận thấy một cách chắn chắn và rõ rệt tiếng nói bên trong, thì không nên để
cho một ảnh hưởng nào bên ngoài lay chuyển đến chúng
ta, không nên để cho tiếng ồn ào của sóng to gió lớn dưới Tthế
Ggian
tấn công chúng ta và cả đến tiếng thì thào êm dịu lúc sóng lặng gió im
; phải tập giữ một sự an tĩnh vĩ đại và không cảm thấy mnột
sự ham muốn hoặc oán hận nào.
Con người không thể cầu cứu đến trực
giác, nếu y không hoàn toàn quyết định dùng nó làm tay hướng dẫn tuyệt hảo và
chắc chắn hơn hết, và dẹp bỏ mọi dục vọng riêng tư. Có ích lợi gì mà phải đòi
hỏi trực giác giải quyết một vấn đề liên quan đến hạnh kiểm khi mà cùng một lúc
con người muốn giải pháp nầy hay giải pháp khác. Trừ trường hợp hiếm có khi
trực giác mạnh mẽ một cách đặc biệt, chỉ khi nào những dục vọng và hận thù
riêng tư đã chấm dứt, tiếng nói bên ngoài không còn ảnh hưởng đến y nữa, con
người mới có thể nghe tiếng nội tâm, tay hướng đạo không bao giờ sai lầm ấy đã
thuộc về y. Trước khi Llinh
Hhồn
có thể cùng một lúc hiểu đầy đủ tầm quan trọng của những bài học nhận được từ
bên ngoài và trực giác nảy sinh ra từ bên trong, thì một sự hòa hợp mới phải
được thiết lập ; Cái Trí phải từ từ tuân theo ý chí,
và từ đó nắm quyền điều khiển sự sống.
Người ta phân biệt có ba thời kỳ
trong sự phát triển tâm thức. Trên đường Nnhập
Mmôn
tâm thức cao hơn hết của con người hoạt động trên Ccõi
Thượng Thiên ; sau Ccuộc
Đđiểm
Đđạo
lần thứ Nnhứt
đến lần thứ Ttư,
nó không ngừng vươn lên xuyên qua Ccõi
Bồ Ðề, và ở mỗi cuối giai đoạn nầy, nó đi vào Ccõi
Niết Bàn và Ccõi
Tinh Thần. Rồi con người hiệp nhất với ý chí là tay điều khiển, là chúa tể nắm
vận mạng mình. Trong giai đoạn trung gian con người có thể nói
: “Theo ý của Ngài chứ không phải của tôi”;
; còn bây giờ y nói : “Ý
chí của Ngài và của tôi là một.”.
Cũng giống như khuôn mẫu của cái bình có từ trước của anh thợ làm đồ gốm, cũng
như kiểu mẫu của một Ggiống
Ddân
có trước trong trí của Ðức Bàn Cổ đã nhận được từ Ccõi
trên, như thế mục đích mà mỗi người trong chúng ta phải đạt đến đã được Chơn
Thần định trước; rồi nguyên tắc Ttinh
Tthần
trong con người cũng y theo đó mà thích ứng với sự tiến hóa của đời sống.
Vậy chữ Llinh
Hhồn
được dùng trong ba câu châm ngôn trên rất hợp lý. Chính Llinh
Hhồn
đi theo con đường tiến hóa, chứ không phải Pphàm
Nnhơn.
Ðến nửa đường nó dần dần hiệp nhất chặt chẽ với Thể Bồ Ðề, và như thế trở thành
Llinh
Hhồn
thiêng liêng, Mmanas
- Ttaijasi.
Nhưng mọi công việc đó đều tác động dưới sự điều khiển của Atma, tức là Tiếng
Nói Vô Thinh.
Bây giờ Linh Hồn sẽ nghe, và sẽ nhớ.
Bấây
giờ bên tai của Linh Hồn
Tiếng Nói Vô Thinh
sẽ thốt lên, những lời sau đây
:
Nếu Hồn con mỉm cười trong Áánh
Tthái
Ddương
của cuộc đời; nếu Hồn con ca hát trong lốt nhộng máu thịt Ttrần
Ggian
; nếu Hồn con than khóc trong đền đài mộng huyềễn
ảo,
nếu Hồn con vẫy vùng để bứt đứt sợi chỉ bạc cột liền nó với Sư Phụ, thì hỡi Đđệ
Ttử,
con hãy biết Hồn con thuộc về Ttrần
Tthế.
C.W.L.- Những
tác phẩm Hhuyền
Bbí
thường đề cập đến Ttiếng
Nnói
Vvô
Tthinh
và chúng ta nhận thấy rằng những gì được đề cập trong tác phẩm nầy không phù
hợp với những điều mà chúng tôi đọc trongnơi
những trang sách khác. Trong những buổi
đầu của Hội Thông Thiên Học, chúng tôi tự hỏi đâu là ý nghĩa thật đúng của từ
ngữ nầy và chúng tôi tìm được một ý nghĩa không thay đổi của nó. Chúng tôi phải
nghiên cứu lâu dài mới khám phá ra được
đó chính là một thuật ngữ tổng quát. Ðối với một người thường Ttiếng
Nnói
Vvô
Tthinh
phát xuất từ Ccõi
mà tâm thức y chưa thể đạt đến và dĩ nhiên tiếng nói nầy biến đổi theo thời kỳ
tiến hóa. Ðối với những người hiện giờ còn kết hợp với Pphàm
Nnhơn,
thì Ttiếng
Nnói
Vvô
Tthinh
là tiếng nói của Chơn Nhơn, nhưng khi Pphàm
Nnhơn
được hoàn
toàn chế ngự, đã hiệp nhất với Chơn Nhơn đến nỗi có thể phụng sự nó nhưtrong
một dụng cụ hoàn hảo, thì tiếng nói ấy là tiếng nói của Atma - ba Nngôi
tinh thần tại Ccõi
Niết Bàn. Khi đã đạt đến Ccõi
Niết Bàn thì còn một Tiếng Nói Vô Thinh nữa, đó là tiếng nói của Chơn Thần trên
Ccõi
cao hơn. Con người sau khi đã đồng nhất Chơn Nhơn với Chơn Thần và đạt đến quả
vị Chơn Tiên, sẽ còn nghe một Tiếng Nói Vô Thinh nữa chuyển xuống y, nhưng bây
giờ có thể là tiếng nói của một trong các Vvị
Ðại Thiên Thần, hay một trong các Vvị
mà người ta gọi là Hành Tinh Thượng Ðế. Ðối với Ðức Hành Tinh Thượng Ðế, Tiếng
Nói Vô Thinh sẽ là tiếng nói của Ðức Thái Dương Thượng Ðế và nếu đối với Ðấng
sau cùng nầy mà có một Tiếng Nói Vô Thinh thì nó phải là tiếng nói của một
Thượng Ðế cao hơn, Ðấng sau rốt. Ai có thể tin chắc như thế không
?
“Vầng Tthái
Ddương
của cuộc đời bạn” có nghĩa là trong kiếp sống cá
nhân có những
lúc vận may chào đón chúng ta, bây giờ tất cả đều huy hoàng và tốt đẹp.
Chơn Nhơn nếm được thú vui nầy và xem đnó
là hạnh phúc lớn lao thật sự của Ðại Ngã, nên chưa có tính từ bỏ cao siêu để
tiêu diệt âm thanh bên ngoài. Như Bà Hội Trưởng của chúng ta đã giải thích
trong quyển “Minh
Triết Cổ Truyềnhời,” người ta
đi đến chỗ cảm thấy không có gì ở Tthế Ggian
nầy có thể thỏa mãn y, ngay cả những sự vật đem sự vui thú nhất đến cho những
người thường có thể nhờ một sức cố gắng mạnh mẽ song an tịnh của ý chí vươn lên
để hiệêïp
nhất với tâm thức cao siêu và giải thoát cho thân xác ;
nhưng muốn đạt được điềuviệc
ấy phải tuân theo điều kiện đầu tiên và thấy trong sự hiệp nhất đó phương tiện
duy nhất đem lại sự thỏa mãn.
Ba Tthể
Xác, Vía và Trí với những thói quen của chúng tạo thành Pphàm
Nnhơn,
thật ra chúng là con nhộng trong cái kén từ từ tạo thành một con bướm. Tình
trạng hiện thời của chúng ta là tình trạng của con sâu, Llinh
Hhồn
phải khoát vào mình nó một Tthể
để sống tại Ccõi
Ttrần,
nhưng không phải lệ thuộc vào chúng ;
nó phải quan niệm đời sống Tthế Ggian
đó không phải là đời sống riêng của nó, nhưng nên hiểu rằng chính nó độc lập
với các Tthể
của nó. Ở đây chúng ta còn phải cẩn thận tránh xem thường chúng. Chắc chắn
trên con đường đi lên của nó, thật tốt và cũng cần thiết cho Llinh
Hhồn
phải thỏa thích, vui cười và ca hát trong lốt nhộng của nó ;
sự vui thú đó vô hại ; tôi còn có thể nói là rất hữu ích.
Ðiều mà Llinh
Hhồn
không nên làm là ca hát với chính lớp nhộng hoặc vì lợi lạc cho lớp vỏ bên
ngoài đó, Linh Hồn sẽ phạm phải một lỗi lầm trầm trọng hơn cả, nếu nó khóc than
“trong lầu đài mộng huyễn mộng của nó,”,
vì nhượng bộ sự ngã lòng và buồn bực luôn luôn là một sự lầmn
lạc. Quả thật đúng như thế, nhưng vấn đề ở đây không phải là điều đó. Qua sự
duyên dáng và thi vị của ngôn từ, Ðức Aryasanga tìm cách nói với chúng ta rằng
lốt nhộng, hoặc đền đài, hoặc hình thức bên ngoài phải tuyệt
đối không phải thể là vấn đề hoan hỉ hay sầu thảm đối với Llinh
Hhồn
; Nnó
phải lãnh đạm trước những hình thức đó. Ðiều nầy xảy đến với chúng phải không
hề làm Nnó
xúc động. Nếu Nnó
chưa thể dửng dưng được, tức Nnó
còn thuộc về Tthế
Ggian
và như thế Nnó
chưa sẵn sàng thưởng thức sự tự do hoàn toàn.
Ở khắp nơi chung quanh chúng ta,
những cuộc tang thương biến đổi diễn ra không ngớt, nhưng Llinh
Hhồn
phải theo đuổi con đường của mình một cách thật cương quyết, đừng kinh hãi vì chúng.
Quý bạn hãy nhớ lại các đoạn thơ sau đây của Shakespeare :
Khi
tôi thấy bàn tay của thời gian nghiêm khắc
Chôn
lấp tuổi đời dưới lớp áo giàu sang,
Những
tháp cao bị san thành bình địa,
Và
đến đồng thau bất diệt cũng hàng phục trước tử thần;
Khi
tôi thấy trên triền núi và ven biển hao mòn,
Ðại
dương vẫn mãi xâm nhập không bao giờ chán.n,
Và
khối đất chôn vùi bao quần chúng gớm ghê,
Các
quốc gia hết suy rồi đến thịnh ;
Khi
tôi thấy biết bao tang thương biến đổi,
Cả
căn nguyên mọi vật cũng điêu tànn ;
Tôi
nghĩ rằng Thời Ggian
đã giết chết tình thương,
Sẽ
chiếm mất bạn tôi trong cơn phẫn nộ điên cuồng
Và
phải chăng tử thần theo tôi nghĩ
Sẽ
khiến người tiếc rẻ những gì phải mất một ngày kia ?
Khi
đất liền, biển cả, đồng thau và đá tảng
Sau
cùng phải nhượng bộ trước quyền uy của thần chết
Còn
vẻ đẹp mỹ miều của cánh hoa vừa mỏng manh vừa thanh khiết
Có
thoát khỏi số phận phũ phàng chăng ?
Ôi
! khi bàn tay của Thời Ggian
làm tiêu tan thành cát bụi
Cả
cổng sắt kiên cố vững bền
Biết
mùa hè có tìm được một nơi nương tựa trong hơi gió
Ðể chống lại cơn phẫn nộï
cuồng sát chăng ?
Phải
giấu ở đâu châu báu thiêng liêng, kỳ diệu
Ðể
Thời Ggian
không thể làm giàu cho hộp tư trang ?
Vậy
cánh tay nào sẽ ngăn được bước tiến của TThời
Ggian.
Ðể
giữ lại vẻ mỹ miều, phản công điều
hung ác
Và Ðể
giữ lại vẻ mỹ miều, phản công điều hung ác
Hỡi
ôi! Tất cả sẽ hoài công, nếu không có chi là phép lạ
Trong
lời thơ của tôi, tình thương rạng rỡ đến bao giờ ?[9] [9]
Nhưng thật ra thời gian là bạn thân
của người chí nguyện, vì những sự thanh quý, cao siêu và thâm sâu hơn cả mới
thoát khỏi sự tàn phá của nó hơn hết. Ðối với Nnhà Hhuyền
Bbí
Hhọc,
chân lý đó trở thành một vấn đề kinh nghiệm và chắc chắn, do đó những sự biến
đổi xảy ra bên ngoài rốt cục không hề làm cho người bối rối.
Ðó là một sợi chỉ bạc tượng trưng
cho sự thanh khiết, liên kết Llinh
Hhồn
với Ðại Ngã cao siêu. Mỗi khi Llinh
Hhồn
giao tiếp với sự bất tịnh của Xxác Tthân,
Ttình
Ccảm
và Cái Trí, nó vẫy vùng để bứt sợi chỉ bạc đó ;
nó bị cám dỗ khiến cho quên mất Ttiếng
Nnói
Llinh
Ddiệu.
Bà Blavatsky thêm những chú thích
như sau :
Ðại Sư là danh từ mà các vị Đđệ
Ttử
Lanous hoặc (Chelas) dùng để
gọi “Cái Ta Cao Siêu” của chúng ta. Ðó là chữ đồng nghĩa với danh từ
Avalokiteshvara hay là danh từ Adi-Buddha của Phật Giáo Bbí
Ttruyền,
Atma, Cái Ta cao siêu của người Bà Lla Mmôn
và Christos của những người theo Cao Ðẳng Thần Học xưa.
Chữ “Hồn” dùng để chỉ Chơn Nhơn của
con người hay Manas, trong phép phân chia huyền bí theo số bảy của chúng ta gọi
là “Hồn Người” để phân biệt với Thần Hồn và Hồn Thú.
Ở đây Bà Blavatsky dùng chữ Chơn Sư
theo một ý nghĩa hơi khác thường so với nghĩa mà các Đđệ
Ttử
đã dùng. Sau nầy trong văn chương Thông Thiên Học, danh hiệu ấy được dùng cho
một số ít Nhân Vviên
tTrong
Quần Tiên Hội được quyền thu nhận Đđệ Ttử
trong hàng sơ tu còn sống dưới Tthế Ggian.
Như vậy các Chơn Sư rất ít. Hình như trên mỗi Ccung,
chỉ có một Vvị
Chơn Tiên đảm nhiệm vai trò nầy và mọi người tiến hóa theo Ccung
riêng của mình, đều phải qua sự dìu dắt của Ngài. Dưới Bbậc
Chơn Tiên không ai được quyền đảm trách sự liên hệ đầy đủ với một Đđệ
Ttử,
mặc dù những người được thu nhận lâu năm thường nhận trách nhiệm và đặc quyền
giúp đỡ lẫn chỉ giáo những người chí nguyện trẻ trung và đầy triển vọng. Những Đđệ
Ttử
kỳ cựu đó được học hỏi dần dần để thi hành công việc của họ trong tương lai,
khi đến lượt họ sẽ trở thành các Vvị
Chơn Tiên, họ tập gánh vác công việc hằng ngày để làm nhẹ bớt gánh nặng cho Sư
Phụ của họ, nhờ vậy các Ngài mới rảnh rang thực hiện những công việc cao siêu
mà không ai có thể đảm đương nổi. Thường thường trong sự lựa chọn sơ khởi, các vị Đđệ
Ttử
tương lai được giao phó cho những vị Mmôn Đđồ
kỳ cựu nầy và các vị thí sinh được tạm thời liên lạc trực tiếp với họ hơn là
các Vvị
Chơn Tiên cao cả. Nhưng sự hợiệp
nhất giữa Đđệ
Ttử
và Chơn Sư hết sức kỳ diệu mà ở đây hầu như có “một sự phân biệt nhưng không hề
dị biệt.”.
Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn
những thuật ngữ mà Bà Blavatsky dùng trong các chú thích của Bbà,
nếu chúng ta nghiên cứu chút ít về sự khác biệt của Bba
Nngôi
trong Vvũ
Ttrụ
và trong con người. Kinh nghiệm cá nhân chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng nó có
một nhị nguyên - trí khôn nhận thấy và đối tượng được thấy, người thấy và các
vật được thấy, chủ thể và đối tượng. Ðó là lối cố hữu để phân biệt hai phần
trong thế giới thực nghiệm : Ttinh
thần và vật chất, khi hiểu các chữ nầy theo một ý nghĩa chung hay tổng quát.
Tinh thần hay tâm thức và vật chất hợp thành một cặp tương đối nhau
: Ttinh
thần là một nguyên tắc hoạt động, vật chất là một nguyên tắc thụ động (hay tĩnh
chỉ) ; tinh thần có một trung tâm nhưng
không có một viên chu vi
; vật chất có một viên chu vi, nhưng
không có một trung tâm, tinh thần hoạt động do chính nó, vật chất hoạt động
được nhờ ảnh hưởng bên ngoài. Hai nguyên tắc đó cũng là biểu hiện của một sự
phân chia thực tại - thiêng liêng và phàm tục ;
cái được tự do và cái bị ràng buộc ;
cái tự chiếu sáng và cái chỉ phô bày một thứ ánh sáng phản chiếu.
Nếu nghiên cứu kỹ lưỡng hơn chúng ta sẽ thấy hai nguyên tắc đó hiện ra trước chúng ta và chúng không phải là các nguyên tắc số 1 và số 2, nhưng đúng là số 2 và số 3, vì bấy giờ chúng có một nhân chứng là số 1. Nguyên tắc thứ 2 là Ðức Thượng Ðế được thấy, còn nguyên tắc số 1 là Thượng Ðế hay Ðại Ngã thật sự, nguyên nhân của tất cả những sự liên hệ giữa những nguyên tắc số 2 và số 3.
Trong thuật ngữ Thiên Chúa Giáo,
Ðấng Christ là Ðức Thượng Ðế được thấy. “Không ai được thấy Thượng Ðế bao giờ.”
[10] . [10] Tuy
nhiên Ðấng Christ có nói : “Cha Ta và Ta, chúng ta là Một.”[11] [11].
Ðiều nầy đưa chúng ta đến với danh từ
Avalokiteshvara : Nnó
liên kết các chữ Aavalokita
(được thấy) và Ishvara ( Thượng Ðế, Ðấng Chúa Tể ) và như thế có nghĩa là Ðại Ngã
cao siêu trong nhị nguyên tinh thần - vật chất, chi phối khắp Vvũ
Ttrụ.
Thánh John nói : “Vì trong đó có Bba
Nngôi
mới chứng minh được” Ðức Chúa Cha, Ngôi Lời và Thánh Thần.[12] [12]. Ngôi Lời, Ðức Thượng Ðế,
Avalokiteshvara, là Ngôi Hai, đó là Christos, Ðức Thượng Ðế thấy được
; đó chính là tinh thần phổ quát haytức
purusha tương phản với vật chất haytức prakriti.
Con người là một tâm thức chiêm niệm vật chất ;
và Thượng Ðế chúng ta vừa đề cập đến là con người vinh quang hay phổ quát là
chủ thể tối thượng. Bạn hãy phân tích chính bạn, bạn sẽ thấy sự phản chiếu
trong đó. Ðức Thượng Ðế nội tại đang ngụ trong bạn. Tuy nhiên Thượng Ðế thấy
được đó chỉ là nhân chứng của Thượng Ðế thật sự, và trong con người là nhân
chứng của Ðại Ngã, Ðại Ngã ấy kết hợp cả chủ thể lẫn và đối
tượng.
Ðại Ngã nầy không
phải là một chủ thể mới, mà là nhân chứng của một chủ thể và một đối tượng cũ,
bây giờ hợp lại thành một đối tượng mới và phức tạp. Ðó chính là “Ðại Ngã” và
người ta không thể nói gì hơn được nữa. Mọi người khi suy tư đều có thể nhìn
thấy thể xác của chính mình, vả lại, trong vài trường hợp, có thể thấy Thể Vía
và Thể Trí của mình và gọi chúng là “cái đó”; nói cách khác, y có thể xem chúng
như một đối tượng. Y cũng có thể quan niệm tâm thức ( hay
chủ thể ) ở người bên cạnh y và kết luận rằng
nó cũng đồng bản tính với tâm thức ( gồm
có ý chí, tình cảm và tư tưởng )
mà y nhận biết ở y trong lúc ấy. Nhưng trên một điểm khác, lúc bấy giờ sự lầm
lẫn của y thậtrất
lớn lao ; vì y gọi một căn nguyên duy nhất
bằng hai tên khác nhau, y gọi bằng “Anh” khi y thấy nó ở bên cạnh, và y gọi
bằng “Tôi” khi y chiêm niệm nó ở chính y ! Y
hãy coi tâm thức hay chủ thể ( toàn
diện ) ở chính y như y xem nó ở những kẻ
khác mà y gọi bằng “Anh”; y hãy xem Tâm thức đó một cách đơn giản như thành
phần của đại dương bao la của những cái “Anh” tạo thành Thượng Ðế, như những
giọt nước tạo thành biển cả ; rồi y có thể vươn lên khỏi tâm thức
và đạt đến cái “Ngã” thật sự, Tư Ngã hay Thượng Ðế vô hình.[13] [13] Tâm thức, cái “Anh” là thành
phần của Avalokiteshvara, Ðức Thượng Ðế có thể thấy được, Ðấng Christ, ánh sáng
rọi chiếu mọi người sinh ra dưới Tthế Ggian
cũng như các Tthể
là thành phần của đại dương vật chất trong Vvũ Ttrụ
; tuy nhiên không phải Ttâm Tthức,
cũng không phải các Tthể
tạo thành Ccái
Ngã. Không ai thấy được Ðức Thượng Ðế tối thượng bao giờ, kể cả Ðức Chúa Con.
Ba Ngôi ấy được khảo sát dưới nhiều
hình thức khác nhau :
Avalokiteshvara được định nghĩa theo
Swami T. Subba Raow như sau : “Parabrahman
trong bản chất của nó không thể được thấy đúng như chính nó dưới mắt Ðức Thượng
Ðế ; nó bị bao phủ bởi một tấm màn và
tấm màn nầy là khoảng rộng bao la bằng vật chất của Vvũ
Ttrụ.”.
Chỗ khác, Ngài lại định nghĩa :
“Parabrahman sau khi xuất hiện, một phần mặt là Chơn
Nhơn, và mặt phần khác thành là
Mulaprakriti, rồi hành động như năng lực duy nhất, nhờ trung gian
của Ðức Thượng Ðế .”. Sự
nguy hại của tất cả những sự mô tả như thế thật vô hạn ;
chỉ có một mình nó, chữ “cái đó” có thể làm hư hỏng tất cả. Phải tìm sự giải
thoát và chân lý ở chính mình chỉ có con người, trong bản thể của nó, mới có
thể giải đáp sự huyền diệu đó, thực ra nó giản dị biết bao, nhưng con người
không muốn nhìn thấy nó. Chúng ta phải tuyệt đối bác bỏ ngay cả việc gọi
Parabrahman bằng danh từ “Thượng Ðế “ vì nghĩ đến Thượng Ðế tức là nghĩ đến Ðức
Thượng Ðế hữu hình, nghĩa là nghĩ đến Ðức Avalokiteshvara; và tóm lại Ðức
Thượng Ðế đó là một cái “Anh,bạn”,
hoặc hơn nữa là toàn thể những cái “Anh.bạn”.
Khái niệm về một chủ
thể, một cái “Anhbạn”
bao gồm một giới
hạn trong thời gian. Vài người xưa chủ trương rằng thật ra không có gì có thể
chuyển động “vì đối tượng không thể chuyển động trong không gian mà nó choán
chỗ và chắc chắn cũng không phải trong không gian mà nó không ở trong đó.”.
Nhưng những chủ thể có thể chuyển động trong thời gian và những đối tượng có
thể chuyển động trong không gian, vì tất cả đều chuyển động trong lòng Parabrahman.
Nói cho đúng, thời gian và không gian, cả hai tùy thuộc vào chuyển động
[14].[14]
“Và cả ba thứ nầy đều là một.”[15] [15] . Mulaprakriti, cội rễ của sự
biểu hiện, vật chất căn bản, sự sống bên ngoài không khác với Parabrahman,
chính Ngài giống như tâm thức hạn định của chúng ta cho phép ta thấy Ngài.
Trong thời gian Parabrahman ở bên ngoài giới hạn ấy, do đó dường như Ngài bất
động ; cũng bởi thế mà bề ngoài của không
gian là đặc tính của Mulaprakriti ;
thật ra đó là một không gian mà nơi ấy chứa đựng tất cả những gì hiện hữu mãi
mãi trong ba chiều của thời gian là quá khứ, hiện tại và tương lai. Sau cùng,
tâm thức phổ quát ( Con người cao cả )
cũng gọi là Daiviprakriti (sự biểu hiện Tthiêng
Lliêng
) đối nghịch với Mulaprakriti ( sự
biểu hiện của vật chất ) là Avalokiteshvara, Ishvara hoặc là Ðấng
Chúa Tể có thể thấy được trái ngược với Parabrahman, là Nngôi
thứ Nnhứt
trong Tam Vvị,
mà chính Ðấng Ishvara cũng không thể chiêm ngưỡng một cách trực tiếp.
Vả lại trong Ttam
Tthể
của tâm thức con người, chúng ta có sự phản chiếu của Tam Vvị
cao cả ấy, do đó mà Bà Blavatsky nói rằng Ðại Ngã cao siêu tương đương với
Avalokiteshvara, và theo Bbà
chữ đó có nghĩa là tình thương thuộc về trực giác. Tất cả những sự hỗn độn
trong sự suy tưởng giữa thực tại phổ quát và Atma, Buddhi và Manas - ba hình
thái của tâm thức con người - sẽ tạo ra một sự sai lầm nghiêm trọng; tuy nhiên
có một sự tương tự giữa hai bên. Tam Vvị
cao cả phản chiếu trong con người bằng nhiều cách ;
ba trạng thái ấy của tâm thức là một trong những cách thế đó. Cũng thế, Atma,
Buddhi và Manas trong phạm vi giới hạn của chúng, là sự phản chiếu những đặc
tính của Tam Vvị
phổ quát. Atma là ý thức của Chơn Ngã và cũng là ý chí tự điều khiển lấy mình.
Ở nơi khác, Mmanas
là ý thức về thế giới ; năng lực tinh thần của nó tạo ra sự
lao tác, kể cả việc làm bằng tay chân. Nhưng giữa hai trạng thái đó, Buddhi là
tinh hoa của Tâm Thức, của chủ thể tính. Như thế Tam Vvị
cao cả được sinh ra trong tâm thức của Chơn Nhơn.
Ngoài bộ phận thành phần trung
bình nầy, với đặc tính của Ttam Tthể,
Chơn Thần ngụ trong con người; Ngài tiêu biểu cho Parabrah-
man trong y, trạng thái của Niết Bàn thật sự và tuyệt đối, cao hơn
Tâm Thức. Atma là trạng thái Niết Bàn giả tạo và tương đối của nó, trạng thái
của Ccõi
Niết Bàn, ảo ảnh cuối cùng còn lưu lại giữa cuộc Ðiểm Ðạo lần thứ Ttư
và lần thứ Nnăm.
Vì Chơn Thần ngự
cao hơn Tam Vvị
của Tâm Thức, do đó các Tthể
của con người đều ở bên ngoài và ở dưới Ngài ;
chúng ta chỉ hiểu biết sự phản ảnh của chúng do nơi Cái Trí (Mmanas)
. Trong nửa phần đầu của con Ðường Ðạo ( từ
cuộc Ðiểm Ðạo lần thứ Nnhứt
đến lần thứ Ttư
) con người chuyên lo cởổi
bỏ những giới hạn ấy của Pphàm
Nnhơn,
của ảo ảnh về “cái đó”; ;
trong nửa phần thứ hai, y giải thoát khỏi ảo tưởng của cái “bạnAnh.”.
Chúng ta còn lại vài điểm khác phải
xem xét trong những chú thích của Bà Blavatsky. Ðấng mà Bbà
gọi là Phật A Di Ðà và Atma đã gợi cho chúng ta vài nhận định
; dù là trái lại tất
cả những gì đã được đề cập ở trước đã làm sáng
tỏ điều Đấng mà Bbà
nói về Christos của những người theo Tthuyết
Ngộ Ðạo Trực Quan (
Gnostics ) .
“Atma của người Bà Lla
Mmôn”
theo ý nghĩa của người Phật Ttử
còn hơn điều mà người Bà Lla Mmôn
hiểu về danh từ đó (và có thể những gì mà người Bà Lla
Mmôn
nghĩ một cách thực tế đã thoát khỏi tinh thần Ttriết
Llý
chơn chánh của họ ) ;
Ðức Phật tuyên bố rằng Atma trong con người chính là Tthần
Hhồn
không trường tồn một cách tuyệt đối. Thật thế, ngay cả Ðấng Christ (
Ðại Ngã) cao siêu trong con người )
sau cùng cũng phải bị hủy diệt. Dù Ngài đẹp rực rỡ và mắt Pphàm
hoàn toàn không thể thấy, nhưng sau rốt Ngài cũng phải hy sinh sự sống của mình
để hiệp nhất với Ðức Chúa Cha. Chính cái “bạnAnh” trong
những người đạo hạnh muốn tự chuyển hóa thành “Chơn Ngã.”.
Cũng như ở vào một thời kỳ thật xa xưa của cuộc tiến hóa, Pphàm
Nnhơn
vô minh hay “cái đó” ước muốn trở thành “Chơn Ngã.”.
Nhưng khi nói rằng sự tin tưởng của những người Bà Lla
Mmôn
về Atma sai lầm, người Phật Ttử
chính thống đã không nắm được tất cả chiều sâu của tư tưởng Bà Lla
Mmôn,
đặc biệt là về
giáo lý của Ðức Shankaracharya, mà thật sự học thuyết về Aanatma
phù hợp với giáo lý của Ðức Phật, vì theo chữ Aatma,
Ngài hiểu là Chơn Thần, là trạng thái Parabrahman không thể diễn tả được củaở
con người. Vì thấy người ta gọi cái “Anhbạn”
là Linh Hồn ( Chơn Ngã ),
Ðức Phật đánh đổ sự ngộ nhận đó khi Ngài tuyên bố rằng cái mà
người ta gọi là “Chơân
Ngã” đều có thể bị tiêu diệt.
Trong phần chú thích nói rằng Ðức
Avalokiteshvara cũng chính là Ðức Phật A Di Ðà,. Bà
đã khai triển dài dòng về vấn đề nầy trong bộ “Giáo Lý Bí Truyền” như sau
:
“Trong Phật Ggiáo
Bbí
Ttruyền,
và kể cả Công Ttruyền
ở Bắc Pphương,
Ðức Phật A Di Ðà, … . Ðấng
Ðộc Nhất Vô Nhị, Ðấng Bất Khả Tư Nghị, vô thủy vô chung như Ðấng
Parabrahman, phát ra một luồng ánh sáng từ những Ccõi
tối tăm của Ngài. Ánh sáng đó chính là Ðức Thượng Ðế ( Tthe
Logos ), Ngôi Thứ Nnhứt
hay là Vajradhara, Ðức Phật Tối Thượng, cũng được gọi là Dorjechang. Vì Ngài là
Chúa Ttể
của mọi lẽ Huyền Ddiệu,
Ngài không thể tự biểu hiện, nhưng Ngài phóng vào thế giới đang biểu hiện Trái
Tim Ngài -– “Quả Tim bằng Kim Cương,”,
“Vajrasattva hay là Dorjesempa. Ðó là
Ðức Sáng Tạo Ngôi Hai.”[16] [16].
Trong đoạn nầy, Bbà
trình bày rõ ràng rằng Ðức Thượng Ðế Ngôi Thứ Nhứt và Ngôi Thứ Nhì theo thứ tự làcủa
Ðức Phật A Di Ðà và Ðức Avalokiteshvara - giống như Ðức Vajrasattva. Như vậy
khi Bbà
nói đến sự đồng nhất của hai Ngài, điều nầy chỉ có thể theo ý nghĩa của thuật
ngữ Thiên Chúa Ggiáo
: “Ðấng Christ ( Ðức
Chúa Con ) là một với Ðức Chúa Cha.”.
Ðây là điều tôi viết về vấn đề nầy trong bộ “Huyền Bí Học Ttrong
Thiên Nhiên”
:
“Ý nghĩa chính xác của các danh từ Adi-Buddha
(Phật A Di
Ðà ) và Avalokiteshvara đã gây ra nhiều
cuộc tranh luận. Tôi không có nghiên cứu một cách đặc biệt các vấn đề nầy theo
quan điểm Ttriết
Hhọc,
nhưng những cuộc đàm luận của tôi với các Nnhà
lãnh đạo Tôn Ggiáo
hiện thời đã giúp tôi hiểu vấn đề ấy, Adi-Buddha (Phật A Di Ðà
) dường như là từ ngữ tối cao chỉ một trong các hệ thống vĩ đại
của sự phát triển siêu nhân loại - điều nầy có thể gọi là nguyên lý trừu tượng
của tất cả Chư Phật. Avalokiteshvara là một danh từ của Phật Ggiáo
Bắc Ttông
và dường như có nghĩa là cách thức hiểu Ðức Thượng Ðế của các Phật tử. Các học
giả Âu Châu dịch danh từ nầy như sau : “Ðấng
Chúa Tể nhìn xuống Tthế Ggian”
( Ðức Quán Thế Âm )
nhưng sự phiên dịch nầy hình như bao hàm một sự thiếu xác đáng, vì hiển nhiên
là Ðức Thượng Ðế luôn luôn biểu hiện, hoặc Ðức Thái Dương Thượng Ðế, hoặc Ðức
Thượng Ðế cao hơn nữa, nhưng luôn luôn phải biểu hiện. Chúng ta nhớ rằng các
những
Nnhà
sáng lập các Ttôn
Ggiáo
lớn đã thấy và biết đúng những các danh
hiệu mà các Ngài nêu lên; thường thường những tín đồ của các Ngài không thấy
; họ chỉ có các danh hiệu và họ dùng chúng như những biểu tượng
tinh thần ; do đó mới xảy ra nhiều sự lệch lạc
và mâu thuẫẩn
nhau.”[tle2][17] [17] .
Như chúng ta đã thấy, Bà Blavatsky
hiểu Chơn Ngã ( Higher Self )
là Bbồ
Đđề
Ttâm
trong con người, là thành phần chính trong Ttam Vvị
thuộc tâm thức trường cửu của con người. Ðó là sự Mminh
Ttriết
trong con người, nhưng nó chỉ là phản ảnh của một sự minh triết phổ quát, nếu
không có sự minh triết phổ quát ấy sẽ không có sự minh triết trong mỗi người.
Cũng thế, không có Dhyani- Buddha (Thiền Ðịnh Phật),
Avalokiteshvara, “Trung Tâm Năng Lực” của sự Mminh
Ttrhiết
Ttối
Tthượng
hay Adi-Buddha, thì không bao giờ có một người nào đắc Qquả
Vị Phật.
Vậy sự thành Ðạo của Ðức Cồ Ðàm chủ yếu không phải là việc nâng cao một người
lên hàng Thần Thánh, nhưng mà hiệpợp nhất tâm
thức một người đã trở nên trọn lành với trí huệ của Thượng Ðế.
Lời chú thích thứ nhì được xét đến ở
đây chẳng những nói về Cái Trí (Mmanas
) như là Linh Hồn con người, mà còn đề cập đến Hhồn
Tthú
trong con người. Hồn Tthú
đó là Mmanas
thấp hay Kkama-Mmanas
; tại Ccõi
của nó có những Hhồn Kkhóm
của thú vật, còn Hhồn Kkhóm
của loài thảo mộc ở Ccõi
dưới, và Hhồn
Kkhóm
của loài kim thạch còn ở dưới thấp hơn nữa. Từ đầu đến cuối quyển sách của Bà
Blavatsky, không có ngoại lệ, Bbà
đều giữ nguyên nghĩa đó đối với các danh từ “Linh Hồn,”,
“Chơn Ngã”, v.v…ân
vân.
Khi Linh Hồn con bắt đầu nẩy nở để
tai nghe tiếng huyên náo của Tthế Ggian
; khi con đáp lại tiếng gầm thét của cảnh đại ảo mộng, khi Linh Hhồn
con kinh hãi trước những giọt lệ nóng bỏng vàì
đau khổ, điếc tai bởi tiếng kêu trước những cảnh khốn cùng mà chui rút lại như
con rùa nhút nhát trong cái mai ích kỷ ;
thì con hãy biết, hỡi Đđệ Ttử,
Hồn con là một Tthánh
Đđiện
không xứng đáng cho Ðức Thượng Ðế im lặng của con.
Khi trở nên dũng mãnh hơn, Hồn con
thoát ra ngoài chốn ẩn thân an toàn của nó và khi đã cởổi
bỏ được lớp vỏ bảo vệ nó, Hồn con tháo phăng sợi chỉ bạc và bay nhảy tự do, khi
Hồn con nhìn thấy hình ảnh của nó trên những lượn sóng của không gian, nó thì thầm:
“Ðây chính Ta,”,
thì hỡi Đđệ
Ttử,
con hãy thú nhận là Hồn con đã bị mắc vào trong màng
lưới lầm lạc.
C.W.L.- Trong
phần đầu đoạn nầy, thành ngữ “Linh Hồn bắt đầu nẩy nở” đã gợi lên ý niệm của sự
tiến hóa, ý niệm mà trải qua nhiều thế kỷ chưa xuất hiện ở Châu Âu; người ta
giả định rằng thế giới và tất cả những sinh vật sống trên đó đều được đồng loạt
tạo ra, mà không ngờ rằng dù những hình thái phức tạp nhấứt
cũng đều phát sinh từ sự tiến hóa, và theo dòng tiến hoá đó, những
hình thái thấp kém tiến dần đến chỗ hoàn toàn. Khoảng 150 một
trăm năm mươi năm nay đã phát sinh ý niệm cho
rằng những hình thái vật chất của những sinh vật đều bị lệ thuộc vào sự tiến
hóa, một sự phát triển được quy định, mà kẻ nầy thì do sự thúc đẩy của đời sống
nội tâm thâm sâu, kẻ khác thì do luật đào thải tự nhiên của hoàn cảnh.
Tuy nhiên từ lâu đã có một lý thuyết
về sự tiến hóa của Linh Hồn, giáo lý luôn luôn chiếm một chỗ đứng thật quan
trọng trong các truyền thống Ấn Ðộ và Phật Ggiáo.
Người Thông Thiên Hhọc
đã truyền bá nó khắp nơi ở Âu Châu cùng với học thuyết về Lluân
Hhồi trong vòng 50 năm nay..
Luật Lluân
Hhồi
được trình bày như một lý thuyết hợp lý và có tính cách đạo đức nhất định về
định mệnh con người, từ khi nó được thiết định lập trên
nền tảng Kkhoa
Hhọc
cũng như Ttôn
Ggiáo
cho rằng Linh Hồn con người bất tử. Linh Hồn luân hồi nhiều lần để thu hoạch
kinh nghiệm, do đó, sau cùng mỗiột
người chẳng những trở nên thiên tài trong địa hạt nầy hay địa hạt khác về trí
thức hoặc về lãnh vực hoạt động của nhân loại, mà còn trở nên một người hoàn
toàn, sẵn sàng thọ lãnh tâm thức thiêng liêng một cách hoàn mãn.
Sự tiến hóa của con người diễn tiến
qua hai giai đoạn : Ggiai
đoạn thứ nhứt là Ppravritti
Mmarga
hay Ccon
Đđường
Rra
Đđi
; giai đoạn thứ nhì là Nnivritti
Mmarga
hay là Ccon
Đđường
Ttrở
Vvề.
Trong giai đoạn thứ nhứt sự phát triển xảy ra ở Pphàm
Nnhơn
; trong giai đoạn nầy Pphàm
Nnhơn
tích lũy rất nhiều Nghiệp Qquả,
Linh Hồn cũng không ngừng tìm cách thỏa mãn vô số dục vọng của nó ở thế giới
bên ngoài ; trong giai đoạn thứ hai, Linh Hồn
dần dần chuyển hướng đối với thế giới bên ngoài, và quay về với Tthiêng
Lliêng
là cội nguồn và mục đích của nó, nó theo đuổi những sự tiến bộ để hoàn thành
thời kỳ tiến hóa của nhân loại.
Giai đoạn thứ hai nầy, tức con đường
trở về được chia thành : Con Ðường Nhập Môn và Con Ðường
Ðiểm Ðạo, được mô tả đầy đủ trong quyển “Con Ðường của Người Ðệ Tử và Trước Thềm
Thánh Ðạo,”
sau cùng ở trong quyển “Chơn Sư và Thánh Ðạo.” Con đường
nầy bao gồm một sự tiến hóa có tính cách tự nguyện, trong đó người thí sinh
chuyên tâm thu hoạch có phương pháp những đức tính đạo đức cao
thượng. Sự tiến hóa của những sinh vật thấp kém, cũng như sự tiến hóa của con
người còn trên Đđường
Rra
Đđi
đều không có tính cách Ttự Nnguyện
; họ tìm kiếm, họ chịu đựng sự kinh nghiệm và sự tự học hỏi mà
không hiểu rõ điều gì xảy ra cho họ.
Trong một chú thích liên hệ đến chữ “ảo
mộng,”,
Bà Blavatsky gọi nó là Maha - Maya,
đại ảo mộng, vũ trụ khách quan. Chúng ta đã khảo sát ý nghĩa của danh từ “ảo
mộng” trong khi áp dụng cho thế giới bên ngoài. Chúng ta không nên
lầm lẫn ý niệm nầy với ý niệm mà bản văn gọi là “màng
lưới lầm lạc” và theo một chú thích khác, được áp dụng cho “Sakkayaditthi, sự
lầm lạc của Pphàm
Nnhơn.”.
Khi Ðức Phật của chúng ta mặc khải
cho nhân loại biết Bát Chánh Ðạo là con đường đưa đến giải thoát, là phương
tiện thực hành để diệt trừ phiền não, Ngài còn nói với chúng ta về 10 mười
chướng ngại mà thí sinh phải loại trừ từ cái nầy đến cái khác.
Chướng ngại thứ nhứt là Sakkayaditthi, sự lầm lạc của Pphàm
Nnhơn.
Sự lầm lạc ấy phát xuất từ đâu ?
Một đứa trẻ sinh ra ; nó phải chịu ảnh hưởng của Nghiệp Qquả
- đó là kết quả của những hành vi của nó trong những kiếp quá khứ
; nó có một xác thân được cấu tạo theo một cách nào đó và nhiều sự
việc sẽ xảy đến cho nó. Theo thời gian trôi qua, nó biết rõ dư luận của kẻ khác
đối vớơi
nó và khám phá ra nó có làm được, hoặc không làm được điều gì
; như thế nó nhận thấy như đứng trước một gương soi - một trong
các gương ấy bị biến dạng, đôi khi được trưng bày trong những cuộc triển lãm,
để giúp vui cho những người thấy hình dạng của họ bị dồn cục lại hoặc kéo dài
ra một cách kỳ quái ; do đó nó tự tạo ra một ý niệm về
chính nó : Nnó
thông minh hay đần độn, đẹp đẽ hay xấu xí, yếu đuối hay cường tráng; nó tự giáo
dục như thế ; rồi nó hoạch đắc được một đẳng cấp,
một địa vị xã hội, một tính tình, nó tập được thói quen về thể chất và tinh
thần của một y sĩ, một nhà doanh nghiệp, một bà mẹ trong gia đình - hoặc bất cứ
cái gì có thể làm được (whatever it may be ) -
và như thế nó tự
tạo cho mình một Pphàm
Nnhơn
nhất định ; khi nghĩ rằng mình là Pphàm
Nnhơn
đó, nó hoạch đắc được cái mà người ta gọi là “Pphàm
Nnhơn
của Bbản
Nngã”
- đúng
như chính ảo mộng ám ảnh những người khốn khổ trong các Ddưỡng
Ttrí
Vviện,
họ tưởng tượng mình là bình trà, cái ống nghe, cực Bbắc,
Nữ Hoàng Elizabeths và Napoléeons.
Một loạt xác thân được sinh ra liên
tiếp với một Pphàm
Nngã
được huấn luyện có kỷ luật, có thói quen tốt dĩ nhiên đem lại nhiều lợi lạc
cũng giống như một cái hộpc
đựng dụng cụ tốt hay một chiếc xe ô tô hoàn hảo. Chúng ta không thích Pphàm
Nnhơn
bạc nhược và thiếu đức hạnh. Tuy nhiên dù Pphàm
Nnhơn
của chúng ta có toàn hảo đến đâu, cũng không nên xem nó là chính chúng ta
; trái lại, chúng ta phải vừa sử dụng nó như dụng cụ, vừa vận dụng
tất cả sức mạnh hãn hữu của ý chí, của tình thương và
của tư tưởng để bắt nó phục vụ đời sống tinh thần của chúng ta tại Ccõi
trần. Phàm Nnhơn
không nên nghĩ việc sống trường tồn hoặc tìm cách lẩẫn
tránh những sự tàn phá do vật chất hoặc do sự hao mòn và thời gian gây nên.
Có lần Một ngày kia, một người trung niên nói với
người con y
muốn tình nguyện làm công việc thế cho cha mấy lời sau đây
: “Không, không con ạ. Bao giờ cũng phải dùng những người già
trước đã.”.
Phàm Nnhơn
phải chịu sử dụng và thích nghi với mục đích Ttinh
Tthần
từng lúc cho đến khi bị tiêu mòn, nó phải bằng lòng với phần thưởng duy nhất lmà
sau khi bỏ xác phàm sẽ được sống trên Ccõi
Thiên Ðàường
lâu dài và đầy
vinh quang, đó là những gì đã dành cho những ai phụng sự Chơn Ngã thiêng liêng
; những vị nầy từ chối phần thưởng đó và tái sinh một cách nhanh
chóng để làm việc cho nhân loại.
Hỡi Đđệ
Ttử,
Ttrần
Ggian
nầy là phòng đau khổ; nơi đây dài theo con đường thử thách
gian lao ở đây
rải rác biết bao cạm bẫẩy
để nhốt Chơn Nhơn của con vào trong vòng ảo ảnh gọi là “đại mê tín.”.
Cõi Pphàm
Ttrần
là một trường đau khổ : Đđó
là một ý niệm rất phổ biến đối với Phật Ttử
và tín đồ Ấn Ðộ Ggiáo.
Một sự việc trái với sở thích tự nhiên thường làm cho con người biến thể và suy
nhược, như sự áp bức, bệnh tật, đồi trụy, lo âu; đó là số phận của một phần lớn
nhân loại. Những kẻ mà định mệnh đã dành cho họ một sự sung túc, có thể nói
rằng họ chấp nhận điều ấy một cách rất sung sướng, nhưng theo một thành ngữ của
Patanjali thì : “Ðối với người sáng suốt, mọi sự
đều là đau
khổ.
”. Biết bao sự việc không có gì khó
chịu đối với những người tương đối kém tiến hóa - chẳng hạn mùi rượu, thịt hay
củ hành, còi nhà máy hay nhạc kích động, những cử chỉ khiếm nhã, y phục và nhà
cửa xấu xí và cả ngàn sự việc khác gây phiền lụy cho những người nhạy cảm hơn.
Chúng ta còn phải kể tiếp thêm sự lo lắng để bảo đảm nhu
cầu của mình, sự lo sợ đã mất món tiền đã kiếm được, sự đau khổ vì
những người khác ở chung quanh, nếu không phải là
do chính mình. Phải thật là những người điên mới ưa thích những chuỗi
xiềng xích như vậy. Phải, Tthế Ggian
đúng là một chốn lưu đày đau khổ ;
bạn hãy nghĩ xem điều đó có thể đem đến hạnh phúc ít ỏi biết bao, theo
quan điểm của những người biết được các Ccõi
cao.
Nhưng trước hết chính con người chịu
trách nhiệm về điều đó. Bạn hãy nghĩ đến đại dương mênh mông của sự sống tràn
đầy trong Tthiên
Nnhiên
các loài khoáng vật, thực vật và động vật ; ở
đâu cũng rung động vì hạnh phúc. Một Tthi Ssĩ
đã quan niệm hình ảnh bi thảm như sau : “Thiên
Nnhiên
với hàm răng, bộ móng đẵẫm
máu,”,
chính nó cũng làm cho chúng ta tê tái, nếu chúng ta biết rõ rằng loài thú “không
bao giờ tính trước nghĩ sau“ như con người đã làm vì bị xâu xé bởi những dục
vọng và lo sợ đau lao khổ, và trong những cuộc chiến đấu của
chúng, khi cảnh huyết lưu và thương vong khiến cho kẻ chứng kiến phiền
sầu
não, thì thú tính của chúng được kích thích đến cực độ và chúng thường
thụ hưởng một sự khoái lạc tột cùng. Nếu Tthế Ggian
là một trường đau khổ, cũng chỉ do con người, vì sự tham lam và sân hận, hậu
quả của một sự tưởng tượng mãnh liệt đã nuôi dưỡng những nhiệt vọng của họ, rồi
truyền đến cho đời sống cá nhân cũng như xã hội món độc dược vô cùng kinh tởm.
Tuy nhiên, sự chiến thắng lòng ích
kỷ đủ sức hủy diệt tất cả những sự kinh tởm đó và muốn hiến dâng trọn vẹn cho
nhân loại những sự hoan lạc dưới Tthế Ggian
nầy, chúng ta phải tạo nên sự cảm xúc và sự hòa bình sâu xa trường cửu về sự mỹ
lệ, khám pháphát minh,
công cuộc sáng tạo hạnh phúc xã hội và vật chất.
Chú thích của Bà Blavatsky đề cập
tiếp :
Attavada, tà thuyết tin vào Linh Hồn hay đúng hơn là tin có sự chia rẽ giữa Linh Hồn hay Tiểu Ngã với Ðại Ngã duy nhất, phổ quát vô cùng.
Atta là chữ Pali, tương đương với
chữ Sanskrit là Atma, và Vvada
có nghĩa là học thuyết. Lý thuyết về Atma mà chúng ta đã nghiên cứu là nguyên
nhân lớn lao của những cuộc xung đột giữa người Ấn Ggiáo
và Phật Ggiáo,
nhưng thật ra chỉ có sự dị biệt hoàn toàn trên phương diện ngôn từ thôi, vì khi
nói rằng cái Ngã hay Atma trong con người là một Ðại Ngã phổ quát, người Ấn Ðộ
hiểu chữ nầy không giống như người đời thường hiểu khi họ nghĩ hoặc nói về
chính họ, nhưng là cái gì thâm sâu hơn vô cùng; mà chỉ có những người Yogi tiến
bộ mới có thể quan niệm nổi. Vài đoạn trong Kinh Shri Vakya Sudha báo cho người
chí nguyện biết trước khi lặập
lại công thức trọng đại về Đđạo Ggiáo
“Tôi là Ccái
Đđó, “,
thì phải hiểu thật rõ nghĩa chữ “Tôi” là gì. Theo lời những giải
thích trong bản văn nầy thì chúng ta phải xem cá nhân riêng rẽ đó như là Ttam
Tthể
(Bbộ
Bba
). Công thức “Ngươời
là Ccái
Ấấy”
và những câu khác công bố sự hiệp nhất độc đáo giữa chúng ta với Phạm Thiên (
Brahman ) cao hơn ba nguyên lý đó. Như chúng
ta đã nói ở trên, Pphàm
Nnhơn
không phải là “Cái Ngã,”, và
ngay cả “Ccái bạnAnh” trong
tôi cũng không phải là “Cái Ngã,”,
nhưng “Cái Ngã” không thể phân biệt được với Ðại Ngã phổ quát trong đó cái nhất
đa
thể và Ðấng Duy Nhất là một. Giáo lý của Ðức Phật chúng ta phủ nhận sự
trường tồn của “Ccái
bạn Anh” mà nhiều người gọi là “Cái Ngã.”.
Rất tiếc là hai Ttôn
Ggiáo
lớn như Ấn Ðộ Ggiáo
và Phật Ggiáo
lại chia rẽ nhau, nhất là vì một sự hiểu lầm nhỏ nhặt và đồng thời sự ngộ nhận
nầy làm cho sự truyền bá Ggiáo
Llý
Thông Thiên Học trong giới Phật Ttử
bị trì trệ quá nhiều. Bây giờ chúng ta đã có một nền văn chương Thông Thiên Học
phong phú mà trong đó chúng ta không ngớt gặp những chữ “Aatma”
và “Chơn Ngã”; điều nầy làm cho nhiều Phật Ttử
xa cách chúng ta, vì họ không chịu khó dẹp bỏ chướng ngại về ngôn từ mà chúng
ta đã vô ý dựng lên trên con đường của họ.
Trần Ggian
nầy, hỡi Đđệ
Ttử
còn vô minh, chỉ là cái cái cửaổng tối tăm
dẫn đến cảnh lờ mờ trước khi đến thung lũng đầy ánh sáng thật, thứ ánh sáng
không có gió
nào có thể thổi tắt, thứ ánh sáng cháy không cần có dầu, có tim.
Trong châm ngôn nầy và những câu
khác tiếp theo, chúng ta có những tên đầy thi vị về các Ccõi
trong Tthiên
Nnhiên.
Một lần nữa, những Nnhà Hhuyền
Bbí
Hhọc
Ðông Pphương
thường kết hợp Ccõi
Trung Giới và Ccõi
Hạ Thiên và Bà Blavatsky cũng thường làm như thế trong những bài giáo huấn của Bbà.
Chúng ta thấy một thí dụ của sự kết hợp ấy trong hình ảnh : “Cảnh
lờ mờ trước khi đi vào thung lũng đầy ánh sáng thật.”.
Vậy sự mô tả “thung lũng đầy ánh sáng thật” dĩ nhiên là Ccảnh
Ggiới
của Linh Hồn và Ðại Ngã Cao Siêu, những Ccõi
của Bồ Ðề và Thượng Trí ngụ.
Nếu chúng ta phân chia các Ccõi
bằng một đường phân cách Hạ Trí và Thượng Trí, chúng ta sẽ nhận thấy có một sự
dị biệt căn bản giữa
các Ccõi
dưới và các Ccõi
trên. Trong các Ccõi
dưới, Vvật
Cchất
làm bá chủ ; người ta nhận thấy ra điều ấy
tức khắc ; tâm thức bủa ra để đi xuyên qua các
hình thể một cách khó khăn. Trái lại, trên các Ccõi
cao Ssự
Ssống
chiếm ưu thế, và các hình thể chỉ hiện diện để phục vụ nó. Tại các Ccõi
thấp, muốn cho sự sống biểu hiện trong các hình thể thật khó khăn
; trên các Ccõi
cao, trái hẳn lại, duy trì luồng sinh lực và quy định hình thể cho nó mới thật
khó. Ở phía trên đường giới tuyến, và chỉ ở đó, ánh sáng của tâm thức không
chịu sự tác động của một luồng gió nào và chiếu tỏa ánh sáng riêng của chính
nó. Biểu tượng về ngọn lửa tinh thần áp dụng cho tâm thức trên các Ccõi
cao đó rất thích
đáng, trái lại đối với các Ccõi
thấp hơn, nơi đây rất thích hợp cho biểu tượng về ngọn lửa đang thiêu đốt nhiên
liệu.
Ðại Luật có nói : “Trước
khi biết được Ðại Ngã, con phải biết Chơn Ngã của con.”.
Muốn biết được Chơn Ngã của con, thì phải lìa bỏ tư ngã như không có nó, lìa bỏ
con người của con như không có con.”.
Trong một chú thích, Bà Blavatsky có
nêu lên một sự phân biệt giữa Atmajnani được đề cập ở đây và Tattvajnani. Trong
văn học Ấn Ðộ sự phân biệt nói chung không đáng kể và thường ít ai biết, nhưng Ttác
Ggiả
giải thích thêm : “Tattvajnani là người hiểu biết tức
hay
phân biệt được những nguyên lý trong Tthiên
Nnhiên
hay trong con người ; còn Atmajnani là người biết được
Atma hay Ðại Ngã phổ quát, duy nhất.t”.
Giáo Llý
Thông Thiên Học bao giờ cũng dạ¡y
rằng, muốn tiến bộ phải thực hành câu châm ngôn cổ Hy Lạp “Ngươi hãy tự biết
mình.”.
Do đó, đại đa số những tác phẩm Thông Thiên Học hiện đại của chúng ta đều đề
cập đến sự tạo lập, lịch sử và số phận mệnh con
người. Chính sự nghiên cứu những nguyên tắc khác nhau và thể xác con người dần
dần giúp chúng ta phân biệt được nó là gì và bằng tư tưởng, phân
tách Ccon
Nngười
với các Tthể
của nó sử dụng, bằng tư tưởng, cho đến sau cùng chúng ta đi
đến Chơn Ngã thật sự. Rồi nhờ Chơn Ngã ấy biểu hiện trong chúng ta, chúng ta
đạt đến chỗ hiểu được Ðại Ngã phổ quát ; và
do đó, cả hai chỉ là một.
Muốn biết được Chơn Ngã thật sự
trong chính chúng ta, chúng ta phải dẹp Pphàm
Nngã
qua một bên và phải xem nó chẳng ra gì. Như chúng ta đã thấy, sự hủy diệt tận
gốc “Pphàm
Nnhơn
của Ttiểu
Nngã“
là công việc đầu tiên đặt ra cho người được chánh thức thừa nhận vào Thánh Ðạo, vì
Sakkayaditthi, ảo mộng của Ttiểu
Nngã,
tạo thành chướng ngại thứ nhứt cần phải hủy bỏ.
Bây giờ con mới có thể yên nghỉ trên
đôi cánh của con Ðại Ðiểu. Thật thế, êm đềm thay khi được yên nghỉ trên đôi cánh của cái
bất sanh, bất diệt, chỉ là Aum trải qua sự vĩnh cửu của các thời đại.
Về vấn đề con Ðại Ðiểu, nó đã chiếm
một chỗ rất quan trọng trong Kkhoa
Bbiểu
Ttượng
Ttôn
Ggiáo
Ðông Pphương,
nên Bà Blavatsky đã thêm vào chú thích sau đây :
Kala Hamsa, con chim hay là con hạc. Nó được đề cập đến trong Kinh Nadavindupanishat (Rig Veda) do
Hội Thông Thiên Học ở Kumbakonam dịch ra như sau :
“Vần A được xem như cánh phải của con chim ; U
như cánh trái, vần M như cái đuôi, và Ardhamatra ( nửa
thước ) như cái đầu”.
Chữ Aum thường đọc là Om
; trước khi làm mọi việc thiện hay phát sinh một tư tưởng lành, vì
nó chính là một công thức của quyền năng, biểu tượng của sự sáng tạo thiêng
liêng. Vô số tác phẩm bằng chữ Bắc Phạn đều đồng ý và xác nhận rằng thính giác,
xúc giác, thị giác, vị giác và khứu giác đều tương hợp với những loại vật chất
gọi là Aakasha
( chất Ddĩ
Tthái
hay bầu trời ), Vvayu
( không khí )
, Ttejas
hay Aagni
( lửa ), Aapas
hay Jjala
(nước ) và Pprithivi
( đất ),
nghĩa là tương ứng vớơi 5 năm
Ccõi
rất quen thuộc với sự biểu hiện trong con người : Ccõi
Niết Bàn, Bồ Ðề, Thượng Giới, Trung Giới và Hồng Trần, tất cả đều được sáng tạo
theo thứ tự đó, bắt đầu bằng Ccõi
Niết Bàn khi âm thanh được dùng như năng lực sáng tạo. Dĩ nhiên âm thanh nầy
không hề giống với âm thanh Pphàm
Ttrần
, nó là một thứ dao động trong không khí hay trong một chất
nào đó dưới Tthế
Ggian
; nó đồng bản tính với tiếng nói vô thinh hay ý chí của Ttinh
Tthần
( Aatma
). Tuy nhiên, dù trên Ccõi Ttrần
của chúng ta, âm thanh là một đại kiến tạo các hình tướng, nó đã tạo ra những
thí nghiệm của Chaldni hay những thí nghiệm đồng loại khác, như mọi sinh viên Kkhoa
Hhọc
sơ đẳng đều biết. Người ta thấy trong những bản Kinh Ấn Ðộ nhiều biểu tượng
trình bày ý tưởng thế giới được sáng tạo bằng âm thanh đó.
Người ta nói rằng chữ Aum có một giá
trị đặc biệt như Tthần
Cchú
vì nó chính là chữ hoàn hảo hơn hết nhất của
nhân loại. Nó bắt đầu bằng nguyên âm A và được đọc trong cổ họng, kế đó là
nguyên âm U đọc ở giữa miệng và chấm dứt bằng phụ âm M đọc bằng cách khép đôi
môi lại ; như thế nó gồm tất cả âm giai của
ngôn ngữ nhân loại và thể hiện được từ ngữ tiếng sáng
tạo trọn vẹn trong con người. Ba phần âm tiết của nó cũng tượng trưng cho sự
biểu hiện của Tam Vvị (
the Trinity ) và người ta có thể viết thành một
quyển sách về điều nầy theo không biết bao nhiêu phương thức; chẳng hạn
: Parabrahman, Daiviprakriti và Mulaprakriti ;
Shiva, Vishnu và Brahma ; ý chí, minh triết và hoạt động
; Aananda,
Cchit
và Ssat,
hoặc hạnh phúc, tâm thức và hữu thể ; Aatma,
Bbuddhi
và Mmanas
; Ttamas,
Rrajas
và Ssattva
; và nhiều hơn nữa. Như thế chữ Aum luôn luôn nhắc đến Ttam
Tthể
tính hiện hữu trong mọi sự vật ;
nó chính là bí quyết giải đáp nhiều vấn đề huyền bí và đồng thời là một công
thức về quyền
năng. Ðầu con chim được xem như biểu thị nguồn
gốc của tiếng
từ tam nguyên chưa biểu hiện.
Chữ Kala có nghĩa là “Tthời
Ggian”
là một trong những danh hiệu của Vishnu hay là Alokiteshvara. Do đó Kala - Hhamsa
là con hạc của thời gian hay trong thời gian, hamsa là con hạc. Biểu tượng con
chim ấy ám chỉ thời gian, vì con chim bay xuyên qua không gian. Tâm thức có một
đặc tính là nó tiến bộ tức hay tiến hóa; vậy nó hiện hữu trong thời
gian. Tâm Thức
của Ðức Thượng Ðế là thời gian ;
nó không bắt đầu, cũng không chấm dứt trong thời gian ;
do đó nó bất sinh và bất diệt.
Vậy con chim nầy là một biểu tượng
của Ðức Thượng Ðế Ngôi Hai, và Thượng Ðế Ngôi Hhai
cũng là Ðại Minh Triết. Một bài ngụ ngôn rất phổ biến ở Ấn Ðộ cũng được đề cập
đến hamsa hay con hạc gắn liền với ý niệm về minh triết, vì câu chuyện kể rằng
nếu người ta pha nước với sữa đưa cho nó, con hạc có thể tách rời nước và sữa
riêng ra được. Trong đời sống nhân loại sự minh triết cũng có công hiệu như thế
: Nnó
chọn lọc chất dinh dưỡng chính yếu của Llinh
Hhồn
trong
những kinh nghiệm đa tạp của chúng ta. Khi những kinh nghiệm chấm dứt, sự minh
triết vẫn sống mãi trong Tthần
Hhồn
(the Sspritual
Ssoul)
con người, vì theo lời dạy của Kinh Bhagavad Gita thì : “Trong
toàn thể của nó, mọi hành động đi đến chỗ tối thượng trong sự minh triết.”[18] [18].
Trên Thánh Ðạo, người được Ðiểm Ðạo
lần thứ Ba cũng được gọi là Hamsa hay Ccon Hhạc.
Vì người chú tâm dứt bỏ raga và dvesha chướng ngại thứ tư và thứ năm, nghĩa là
sự ưa thích và chán ghét,.
nên người chuyên luyện tập nó để đạt được sự minh triết. Trên Tthế
Ggian,
con người bị sự ưa thích và chán ghét chế ngự ;
do đó những ý kiến riêng tư của họ làm cho họ đau khổ rất nhiều. Giải thoát
khỏi hai cái chướng ngại nầy vị Hamsa trở nên một Nnhà
Hhiền
Ttriết
được đề cập đến trong Kinh Gita, người sống hoàn mãn trong trí huệ và sự hiểu
biết, không chút phân biệt một cục đất, hòn đá với khối vàng trước
và
dưới con mắt của người, bạn thân và kẻ thù, người công chính và kẻ tội
lỗi, đều như nhau. Vậy người ấy không quý trọng vàng và mến bạn y sao
? Có chứ, người ấy ưa các thứ đó, nhưng y cũng quý trọng đất sét
và mến kẻ thù của chính mình. Nhà Hhiền
Ttriết
lợi dụng đủ loại kinh nghiệm; mỗi kinh nghiệm đều hữu ích cho Llinh
Hhồn.
Chính Epictetus đã quả quyết điều đó khi ông nói rằng: “Thượng Ðế đưa tôi xuống
Ccõi
Ttrần
chỉ vì mục đích duy nhất là để tôi tiến bộ về đạo đức ;
do đó mà ở dưới Tthế Ggian
nầy cái gì cũng có thể giúp cho tôi được cả.”.
Hamsa cũng đồng nghĩa với câu châm ngôn:
”Aham Sah,”,
hay “Tôi là Ccái
Đđó, ”,
thường đọc là “Soham,”, ở
đây cũng là mấy
tiếng đó đọc ngược lại. Vậy khi người chí nguyện lặập
lại câu châm ngôn nầy y cũng nghĩ đến cách cỡi của con Hamsa hay con chim của
cuộc đời, chính là nhận biết được Chơn Ngã nơi mình. Người ta nói rằng Nnhà
Yogi thành tín đọc công thức đó theo mỗi nhịp thở. Người ta đếm được 21.600 nhịp
thở trong một ngày và một đêm, vì giả sử rằng không khí được hít vào trong ta
theo tiếng “sah” và được thở ra theo tiếng “ha”.
Bao giờ con chim đang bay,
tiếng sáng tạo vang dội và thời gian hiện hữu. Mặc dù thời gian vô thủy vô
chung, nhưng nó có thể đo lường được, và đó chính là một điều rất huyền bí vô
cùng. Ở đây Bà Blavatsky thêm vào chú thích như sau :
Người Ðông Pphương
hiểu nghĩa chữ đời đời khác hơn người Tây Pphương.
Thường nó có
nghĩa là 100 năm hay là tuổi của Ðấng Brahma (Phạm Thiên ),
là kỳ gian của một Maha - Kalpa
( Ðại Kiếp ),
hay một chu kỳ của 311.040 tỉ .000.000.000 năm.
Phần nầy của chủ đề kết thúc bằng
mấy tiếng sau đây :
Hãy ngồi trên lưng Con Chim của Cuộc
Ðời, nếu con muốn hiểu biết.
Hãy bỏ Cuộc Ðời
Ssống
của con, nếu con muốn sống.
Tiếp theo là chú thích nầy
:
Theo Kinh Nadavindu
: “Ðối với một Vvị
Yogi được lên lưng con Hamsa ( tham
thiền về tiếng Aum ) thì ảnh hưởng của Nnghiệp
Qquả
hoặc vô số tội
lỗi không chạm đến người được.”.
Hãy từ bỏ đời sống Ttrần
Ttục
của Pphàm
Nngã
nếu con muốn sống trong Tinh Tthần.
Một crore bằng mười triệu. Tuy nhiên
chúng ta không nên kết luận rằng Vvị
Yogi được phép phạm các lỗi ấy; nếu không, y sẽ chẳng phải là Nhà Yogi. Ðó
chỉ là một lối diễn tả của người Ðông Pphương,
cho biết rằng đời sống vật chất dưới Tthế Ggian
không hề ảnh hưởng đến họ. Người nào suy tư và hành động vô vị lợi và hoàn toàn
vị tha, thì không bao giờ mắc phải Nnghiệp
Qquả
; kết quả của tất cả những cố gắng của y sẽ được thu
thập trong kho năng lực tinh thần vĩ đại để giúp đỡ nhân loại, như chúng ta đã
từng giải thích.
Hỡi kẻ hành hương mệt mỏi, con phải
trải qua ba Ggian
Pphòng
mới hết những nỗi khó nhọc. Hỡi kẻ chiến thắng Ma Vương, ba Ggian
Pphòng
sẽ dắt con qua ba trạng thái để đến trạng thái thứ tư và từ đó bước vào bảy Ccõi,
là những Ccõi
yên nghỉ đời đời.
Nếu con muốn biết tên ba Ggian
Pphòng
đó, con hãy nghe và nhớ.
Tên của các Ggian
Pphòng
thứ nhứt là Pphòng
Vô Minh -Avidya.
Chính Pphòng
đó là nơi con sinh ra đời, nơi con sống và con sẽ chết.
Tên Pphòng
thứ nhì là Pphòng
Học Tập. Nơi đó Hồn con sẽ thấy những bông hoa của cuộc đời, nhưng dưới mỗi đóa
hoa đều có một con rắn nằm khoanh.
Tên của Pphòng
thứ ba là Phòng
Minh Triết; phía bên kia là nước biển Akshara không bờ bến, nguồn toàn
tri vô tận.
C. W.
L.- Ba Ggian
Pphòng
có thể được giải thích bằng hai cách : Hhoặc
có thể xem như những Ccõi
khách quan, hoặc có thể xem như tình trạng chủ quan của con người.
Trong trường hợp thứ nhứt, Pphòng
Vvô
Mminh
là Ccõi
Ttrần
và và Pphòng
Hhọc
Ttập
được định nghĩa theo một chú thích là “Pphòng
nơi đó Đđệ
Ttử
Nnhập
Mmôn
đang học hỏi,”,
đó là Ccõi
mà người ta có thể gọi là Ccõi
Trung Giới - Hạ Thiên (Tthe Aastral
---
Mmental
Pplane)
(gồm cả Ccõi
Trung Giới và Hạ Thiên ). Khi viết trong “The Inner
Life,”[19] [19] cách đây 16 mười
sáu năm, tôi cứ tưởng Bà Blavatsky cho rằng Ccõi
Trung Giới là Pphòng
Hhọc
Ttập
và Ccõi
Hạ Thiên là Pphòng
Mminh
Ttriết.
Từ đó, sau khi suy nghĩ thật nhiều và nghiên cứu thường xuyên về vấn đề nầy,
tôi tin chắc rằng chúng ta phải giải thích trung thực với tư tưởng của Ttác
Ggiả
hơn, đúng như Bbà
đã thấy rằng Pphòng
Hhọc
Ttập
không những là Ccõi
Trung Giới mà còn gồm cả Ccõi
Hạ Thiên và khi vươn lên đến Pphòng
Mminh
Ttriết
tức gồm cả Ccõi
Thượng Thiên và Ccõi
Bồ Ðề.
Ðức Aryasanga cũng không cho Ccõi
Trung Giới là Pphòng
Hhọc
Ttập
và Ccõi
Hạ Thiên là Pphòng
Mminh
Ttriết.
Một lát nữa chúng ta sẽ gặp bằng chứng khi Ngài đề cập đến Ccõi
thứ hai như một Ggian
Pphòng
mà “ở đó mọi bóng tối đều biến mất và chính nơi đó ánh sáng của chân lý chiếu
diệu một sự vinh quang bất diệt.”.
Cõi Hạ Thiên không đáp ứng được sự mô tả đó ;
tuy sáng chói và tinh anh hơn Ccõi
Trung Giới, nhưng nó vẫn là Ccõi
vật chất, nơi cư ngụ của Pphàm
Nnhơn.
Sau đó nữa, Ðấng Ggiáo
Cchủ
cũng nói rằng cái gì bất sinh mới được trú ngụ trong Pphòng
Mminh
Ttriết;
vả lại chính Chơn Nhơn mới là bất sinh, chứ không phải Pphàm
Nnhơn.
Trên Ccõi
Hạ Thiên cũng như trên Ccõi
Trung Giới, có một con rắn nằm khoanh dưới mỗi đóa hoa, vì sự đam mê và dục
vọng điên rồ đầu độc Ccõi
Trung Giới, sự kiêu căng và những thành kiến vẫn tồn tại trên Ccõi
Hạ Thiên. Trên Ccõi
Thượng Thiên, dù Chơn Nhơn thu thập được nhiều kiến thức, nhưng những kiến thức
Nnó
đã thu thập được đều chân xác, còn Ccõi
Hạ Thiên là Ccõi
của Pphàm
Nnhơn
và những sự sai lầm.
Người ta có thể xét đoán đến một mức
độ nào đó những Ccõi
thấp là những thế giới ảo mộng, theo cách dùng các giác quan và năng lực của
chúng ta. Chẳng hạn về thị giác, sở dĩ chúng ta thấy vì thị giác của chúng ta
gặp một chướng ngại vật. Nếu cái nhìn của chúng ta được tự do xuyên
qua vách tường, chúng ta sẽ không thấy tấm tường ấy. Người ta cũng có thể nói
như thế đối với bước đi : Cchúng
ta di chuyển được thong thả vì có mặt đất chịu đựng dưới bước chân của chúng
ta. Trên những Ccõi
cao, người ta sống trong ánh sáng.
Ở Ðông Pphương,
các Ttrường
Hhuyền
Bbí
Hhọc
thường kết hợp hai Ccõi
Trung Ggiới
và Hạ Thiên lại. Những tín đồ Phệ Ðà chỉ nói đến một Tthể
duy nhất ( họ gọi là Mmanomayakosha,
hay Ccõi
làm bằng chất Tthượng
Tthanh
Kkhí
), còn giáo lý Thông Thiên Học của chúng ta thì phân biệt làm hai Tthể
( Thể Vía và Thể Trí )
, và đối với các Tthể
đó, chúng ta ở trong trạng thái hoạt động, trong lúc chúng ta thức
; và chúng ta cũng cung cấp những kinh nghiệm thuộc hai Ccõi
Trung Giới và Hạ Thiên. Trong các Ttrường
Raja Yoga, bao giờ thí sinh cũng phải tập dùng Thể Trí trước nhất, và sau đó
mới tập dùng Thể Vía. Phép luyện tiệm tiến rất khôn ngoan nầy được thấy trong
học thuyết của Patanjali. Trong đó hai bước đầu được thực hiện trong phạm vi
đạo đức và người ta đòi hỏi những sự tiến bộ đúng đắn về phương diện nầy trước
khi được quyền đánh thức những Ssiddhis
hay những Qquyền
Nnăng
Ttâm
Llinh.
Trong tác phẩm “Raja Yoga :
The Occult Training of the Hindus,” Ggiáo
Ssư
Wood gọi các bước đầu đó là “mười giới răn” và dịch chúng thành ra năm giới cấm
: “Cấm sát sinh, vọng ngữ, trộm cắấp,
tà dâm, và thọ lãnh lễ vật”, và năm hạnh : “Thanh
khiết, an phận, tự chủ, chuyên cần và hy sinh.”.
Các phương pháp nầy đã thịnh hành đã lâu đời,
trước thời kỳ của Ðức Aryasanga. Nhà thông thái N. Bhashyacharya và nhiều học
giả Phạn ngữ khác đều cho rằng Ðức Patanjali không phải là Ttác
Ggiả
của hệ thống trên, dù là Ngài đã cống hiến cho Tthế
Ggian
nhiều quyển Kinh nổi tiếng từ thế kỷ thứ chín trước Tây Llịch
kỷ nguyên.
Như tôi đã giải thích trong quyển “Chơn Sư và
Thánh Ðạo,”
trongở
các Ccuộc
Ðiểm Ðạo xưa, người ta thường dành nhiều thì giờ để huấn luyện thí sinh về
phương diện làm việc trên Ccõi
Trung Giới, vì sự đánh thức những hoạt động của y trên Ccõi
nầy xảy ra tương đối chậm hơn thường lệ, so với những Nnhà
Thông Thiên Học hiện đại. Y thường tập làm việc khá nhiều trên Ccõi
Trung Giới, do đó y đã học nhiều chi tiết của Ccõi
nầy trong thời gian lâu dài trước khi được Ðiểm Ðạo.
Nếu chúng ta xét một cách khách
chủ
quan ba Ggian
Pphòng
ấy như những giai đoạn của sự phát triển con người, chúng ta sẽ có ba thời kỳ
rất quen thuộc nầy :
1-/
Ccon
người còn vô minh sống tại Ccõi Ttrần
; y bị lôi cuốn hay bị xô đẩy bởi những đối tượng chung quanh, những
đam mê và dục vọng bất trị kích thích y hành động; đó là thời kỳ vô minh.
2-/
Ccon
người biết rằng Tthiên
Nnhiên
có những Đđịnh
Lluật
chính xác và biết rõ nếu y thích ứng công việc của mình với những Định Lluật
đó, y có thể thu hoạch được những quyền năng thật cao siêu hơn những quyền năng
con người đã có trong thời kỳ còn vô minh ;
đó là Pphòng
Hhọc
Ttập.
3-/
Ccon
người biết được sự hiện hữu của những Đđịnh
Lluật
Ttinh
Tthần
; y tập sống theo các Định Lluật
đó, y biết rõ về Lluật
Lluân
Hhồi,
Nnhân
Qquả,
những Lluật
về Lluân
Llý
và Đđạo
Đđức
chi phối sự tiến bộ của chính Llinh
Hhồn
y và Llinh
Hhồn
những kẻ khác ; như thế là y đang ở trong Pphòng
Mminh
Ttriết
vậy.
Bà Blavatsky đã mô tả bốna
giai đoạn tâm thức trải qua như sau :
Ba trạng thái của tâm thức là
Jagrat, trạng thái thức tỉĩnh;
Svapna, trạng thái chiêm bao ;
và Sushupti, trạng thái ngủ say. Ba trạng thái Yoga nầy dẫn đến trạng thái thứ
tư, hay là trạng thái Turiya, bên kia ngoài trạng
thái không chiêm bao : Đđó
là trạng thái tối cao, trạng thái siêu việt của tâm thức Tthần
Bbí.
Các trạng thái tâm thức nầy không có
gì là cố định, nhưng có thể liên hệ với các Ccõi cao
hay các Pphòng
cụ thể đã đề cập rồi, khi nhắm đến thí sinh chuẩn bị để được Ðiểm Ðạo ở bậc La
Hán. Trong trường hợp nầy trạng thái thức tỉĩnh
có thể xảy ra tại Ccõi Ttrần
; trạng thái chiêm bao tại Ccõi
Trung Ggiới
và Hạ Thiên ; trạng thái ngủ say tại Thượng Thiên
và Bồ Ðề; sau cùng trạng thái Tturiya
tại Ccõi
Niết Bàn.
Các danh từ nầy hơi kỳ lạ - thức
tỉnh, chiêm bao, ngủ mê - dường như chúng được dùng theo quan điểm ở Ccõi
Ttrần
để chỉ định những cao độ của tâm thức mà thí sinh đã đạt được vào lúc đó. Khi
con người hoạt động tại Ccõi Ttrần,
với tất cả những quan năng đã thức tỉĩnh của y
của y, là y ở trong trạng thái thứ nhứt. Muốn hiểu trạng thái thứ
hai, chúng ta nên hiểu rằng có hai loại giấc mơ - những sáng kiến thường là vô
lý của óc não ( Xxác Tthịt
và Ddĩ
Tthái
) và những kinh nghiệm thật sự của con người đã lìa xa xác phàm để
đi học trên Ccõi
Trung Giới và Hạ Thiên ; chính trường hợp thứ hai nầy mới
thật đúng là chiêm bao. Thí sinh đang ngủ hay sắp ngủ giữa ban ngày, rồi nhớ
lại đã thu thập những kinh nghiệm về loại đó và gán cho chúng là “tâm thức
trong trạng thái chiêm bao.”.
Bây giờ giả sthử
sau khi rời bỏ xác thịt, người chí nguyện rơi vào trạng thái mà người ta gọi là
giấc ngủ thứ hai, và vượt lên đến các Ccõi
cao hơn để trở nên có ý thức trong chốc lát trên Ccõi
cao đó. Khi thức dậy tại Ccõi Ttrần,
có lẽ y không nhớ được những gì đã xảy ra ngoài thể xác, vì bộ óc xác thịt của
y không ghi nhớ được những kinh nghiệm đến từ Ccõi
cao trong “trạng thái chiêm bao” của nó ;
như vậy y có cảm tưởng đã trải qua một giấc ngủ thật ngon và không mộng mị; cảm
giác duy nhất thường chỉ là một sự sảng khoái, dễ chịu vô cùng. Như vậy “trạng
thái ngủ say” tiêu biểu cho tâm thức trong Ccõi
ấy còn cao hơn nữa.
Trạng thái thứ tư đôi khi còn gọi là
Xxuất
Tthần
; sau đây là lý do. Như chúng tôi thường
giải thích khi người chí nguyện không còn ở
trong xác thân, thình lình y đạt đến trình độ tâm thức cao siêu hơn tâm thức
của y hiện có trong xác thân ấy. Ðối với một Đđệ Ttử,
cũng có thể trong cơn thiền định thâm sâu, y đạt đến Xxuất
Tthần
ở một trạng thoái cao siêu, rồi truyền kinh nghiệm
đó cho trí nhớ trong trạng thái thức tỉĩnh.
Lúc ở trong xác phàm, vị La Hán có thể đạt đến Ccõi
Bồ Ðề ; và Nngười
đạt đến Ccõi
Tinh Thần ( Aatmic
Pplane
) hay Ccõi
Niết Bàn khi rời bỏ khỏi xác phàm hoặc trong cơn thiền định hay
xuất thần sâu thẳm. Danh từ Aakshara
được dùng ở đây để chỉ định Ccõi
thứ tư ấy chỉ có nghĩa là cái không thể tiêu tan, đó là cái không thể bị mai
một.
Ðối với những sinh viên kém tiến hóa
những loạt từ ngữ kêu gọi như
thế cũng có thể dùng được trong một ý nghĩa tương đối. Có người tâm thức trong
lúc thức tỉĩnh
có thể hiện hữu tại Ccõi Hhồng
Ttrần,
trạng thái chiêm bao tại Ccõi
Trung Ggiới,
trạng thái ngủ say tại Ccõi
Hạ Thiên. Ðối với những người khác, có thể sử dụng được quan năng thuộc Ccõi
Trung Giới trong tâm thức lúc thức tỉĩnh
tại Ccõi
Hhồng
Ttrần,
lại có tâm thức chiêm bao trên Ccõi
Hạ Thiên và trạng thái ngủ say trên Ccõi
Thượng Thiên, và cứ như thế. Tâm thức Turiya là một trạng thái cao siêu, có thể
đạt được bằng một cố gắng đặc biệt của ý chí kiên trì và bằng sự thiền định, mà
kết quả là nâng tất cả ba trạng thái lên trên một mức độ cao hơn trước. Trong
giai đoạn giao thời và trước khi đạt đến mức độ mới, trạng thái thứ tư nầy luôn
luôn xuất hiện.
Người ta nhận định được điều đó
trong lúc tham thiền. Thí sinh ngồi xuống và tập trung ý thức vào một đối tượng
nào đó - một con mèo chẳng hạn ;
kế đó y nâng tâm thức lên “trạng thái chiêm bao”; ;
y cố gắng nhìn thấy thể vía của con vật ấy. Rồi y nâng tâm thức
lên đến “trạng thái ngủ say” và chú ý đến Tthể Ttrí
con mèo. Trạng thái thứ tư là trạng thái nhập định - hay trầm tư mặc tưởng -
một cố gắng để nắm lấy ý nghĩa và thực tại mà con mèo có thể có dưới mắt của
Chơn Nhơn, sau cùng để vượt qua ba hình tướng của nó và đạt đến ý nghĩa chủ
quan. Trong trường hợp thứ nhứt, sự tập trung tinh thần vào con mèo, gọi là sự
định trí ; sự nâng tâm thức lên cao gọi là
tham thiền ; sự tập trung sau cùng trong một tầm
nhìn thị trường cao siêu, vượt lên trên mọi trạng
thái trước gọi là Nnhập
Đđịnh
(Ssamadhi).
Sự cố gắng sau cùng có thể so sánh với việc đi xuyên qua một đám mây hay sương
mù, rồi từ đó mới có thể thấy được cái gì mới mẻ hiện ra từ từ hoặc xẹt ra như
một tia chớp. Dù trong trường hợp nào hành giả cũng phải giữ một sự yên tịnh
hoàn toàn để duy trì sự cảm giác càng lâu càng tốt; chỉ có một chút ý nghĩ về Ccái
Nngã,
về cái nthân
già cỗổi
tương đối nầy cũng có thể làm tan biến tất cả, đến đỗi y không còn nhớ gì về
cảm giác đã nhận biết.
Bạn nên chú ý, kinh sách nói rằng
phải trải qua Bba
Ggian
Pphòng
mới hết những nỗi nhọc nhằn, chứ không phải mới chấm dứt sự làm việc. Tại các Ccõi
thấp ấy, chắc chắn chúng ta có ý niệm về sự làm việc khác hẳn với những gì mà
người ta nghĩ về làm việc trên những Ccõi
cao. Dưới Tthế
Ggian
chữ làm việc gần như đồng nghĩa với cực nhọc và thường là khổ
dịch, nhưng theo quan niệm trên Ccõi
cao, sự thật nó chính là một trò chơi. Khổ dịch chỉ là cử động, không hơn không
kém; người làm công việc ấy không thể sáng tạo. Trái lại, bất cứ ai, dù làm một
việc nhỏ mọn, nhưng làm với tất cả tấm lòng của mình “để hiến dâng cho Thượng Ðế
chứ không phải cho con người” thì y sẽ được tiến bộ. Chẳng hạn nếu viết một bức
thư, chúng ta cố gắng viết cho sạch sẽ, có nghệ thuật và diễn tả bằng những
ngôn từ gọn gàng, sáng sủa và thanh nhã, thì trong lúc đó chúng ta sẽ phát
triển được khả năng của bàn tay, đôi mắt, khối óc, sức mạnh tinh thần, tình
thương và ý chí. Việc làm chân chánh - như công việc của Nhà Nnghệ
Ssĩ
- sẽ là nguồn sáng tạo và hoan lạc. Dù trong ngành hoạt động ấy, chúng ta cũng
gặp vài lao khổ vì những trở ngại đặc biệt tại các Ccõi
thấp, trong lúc đó dưới Tthế Ggian
không có sự phân biệt thật rõ ràng giữa sự khổ nhọc và trò chơi. Ta hãy lấy thí
dụ về một cuộc du hành dài bằng ngựa; lúc đầu người và ngựa đều thích thú
; dần dần sự vui thích suy giảm và sự mỏi mệt hiện ra, rồi thình
lình người ta nhận thấy trò chơi trở thành cực nhọc, hay hơn nữa, là một khổ
dịch. Trong những
trường hợp khác; việc làm có thể khá ngắn hạn, nhưng hơi vượt quá sức của chúng
ta; như thế một cảm thức khổ nhọc lại nảy sinh. Nhưng thật ra mọi công việc đều
là trò chơi khi chúng ta thực hiện với tất cả thiện chí, không lao khổ, không
cố gắng quá sức.
Về phương diện nầy chúng ta phải học
hỏi nhiều ở loài vật và cả đến thảo mộc nữa. Trong quyển “Ánh Sáng
Trên Ðường Ðạo”
dạy : “Con hãy phát triển như một đóa hoa
tăng trưởng” và “hãy mở tâm hồn ra để đón Áánh Tthái
Ddương.”.
Ðấng Christ cũng nói : “Hãy quan sát hoa huệ ngoài đồng
xem chúng tăng trưởng như thế nào ?
Chúng không làm việc, cũng không kéo chỉ. Tuy nhiên Ta nói với con rằng ngay cả
Salomon trong sự vinh quang của người cũng không ăn mặc như chúng.”[20] [20] . Chính sự lo âu do con người
cảm thấy khi nghĩ đến ngày mai đã biến công việc của họ thành cực khổ và sự
gắng công quá sức. Nhưng Ðịnh Lluật
đã cho chúng ta biết rằng : “Hôm nay phải hãy hoàn
thành cái gì khôn ngoan và tốt lành, mà đừng bận tâm đến kết quả.”.
Ðó không phải là một lý thuyết khuyến khích sự lười biếng, mà dạy cách làm việc
- lối làm việc như một trò chơi chớ không phải khổ nhọc.
Chúng ta cũng thấy
thví
dụ khác trong cách mà nhiều người chịu đựng ở một cuộc di chuyển lâu dài. Một
người kia đáp xe lửa từ Chicago đến San Francisco sẽ ở trong tình trạng nóng
nảy, thiếu kiên nhẫn trong ba hoặc bốn ngày; tập trung tất cả tư tưởng vào
những gì y định làm; trong khi chờ đợi, cuộc hành trình đối với y là một sự vất
vả và khốn khổ. Trong cuộc hành trình ấy, một người khác lại quan sát được cả
ngàn điều hứng thú - phong cảnh, nhân sự được gặp gỡ, cả đến chiếc xe lửa; cuộc
hành trình đối với y là một sự giải trí tốt đẹp và rốt cuộc, y được lợi lạc hơn
người thứ nhứt. Người dân quê Ấn Ðộ sống hòa hợp mật thiết với Tthiên
Nnhiên
và chắc chắn y “tăng trưởng như đóa hoa.”.
Một người rời làng; y đi lấy thư hoặc gởi thư ở Nnhà
Bbưu
Đđiện
cách xa lối 16
mười sáu hoặc 20 hai
mươi dặm đường. Bước đi của y không