ĐT. 714-541-9859, 714-423-0577                      THONG THIEN HOC

Google

Trang Chính

English

Việt Nam


Hoa Kỳ

Sinh Hoạt Cộng Đồng


Thế Giới
Diễn Đàn

Văn Học

B́nh Luận

Kinh Tế
Câu Chuyện ThờiSự

Chuyện Lạ 4Phương

Khoa Học

Sức Khỏe

Ẩm Thực

Nhân Vật

Người / Ngợm

Vui Cười


Biếm Thi

Linh Tinh

Rao Vặt

Nhạc Hoàng Vân

VNCH Foundation

Ca Dao Việt Nam

Thơ Hà Huyền Chi

Hà Phương Hoài

Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam

OVERSEAS
FREE VIETNAMESE
COMMUNITIES

RADIO
SAIGON-HOUSTON

Không Ai Bịt Miệng Được Nhà Văn Dương Thu Hưong

11/07/2005 -  Vietnam Review  (http://www.vietnamreview.com/index.php)

Tác giả: Alan Riding, New York Times, July 11, 2005

Người dịch: Nguyễn Quốc Khải, Vietnam Review


 

Paris, 09.07- Khoác bên ngoài một chiếc áo vét tông xần xùi và nhấm nháp nước trái cây trong một quán cà phê ở bên bờ sông [Seine], nhà văn Dương Thu Hương không có vẻ ǵ là một khuôn mặt dọa nạt được ai. Nhưng bà Hương, 58 tuổi, hiển nhiên là như vậy tại quê hương Việt-Nam của bà, nơi bà đă bị giam cầm, sách của bà bị cấm và bà bị từ chối không cho giấy thông hành để xuất ngoại trong 11 năm.


Có vẻ là bà có nhiều tội. Những cuốn tiểu thuyết của bà mổ xẻ đời sống dưới một trong những chế độ cộng sản cuối cùng được xuất bản và đón nhận niềm nở tại thế giới Tây phương. Bà là một cựu đảng viên Cộng Sản bị trục ra khỏi đảng v́ tội phản bội. Và trên hết, bà là một nhân vật chống đối – một lănh tụ cao cấp của đảng gọi bà là một “con điếm chống đối” (dissident whore) – đă không chịu ngậm miệng ngay cả sau khi đă bị nhốt trong tù tám tháng vào năm 1991.

 

Ngày nay, lần thứ hai, bà được phép qua Âu châu. Nhưng trong một nghĩa, nước Việt-Nam cùng đi theo với bà. Bà vui ḷng nói về đời của ḿnh và năm cuốn tiểu thuyết, gồm cả cuốn mới nhất, “No Man’s Land” (Chốn Vắng), xuất bản tại Hoa-Kỳ vào tháng Tư vừa qua. Nhưng ưu tiên của bà là công khai kết án chính phủ tham nhũng và lạm quyền Hà-Nội.


Bà nói lưu loát tiếng Pháp nhưng với một cách phát âm nặng: “Đây là nhiệm vụ phải làm của tôi nhân danh những người đă chết dưới chế độ đáng hổ thẹn này. V́ tôi có một chút tiếng tăm ở nước ngoài, tôi phải nói về những vấn đề này. Tôi phải nói ra những ǵ trong con người của tôi để lương tâm của tôi được trong sáng. Dân chúng đă mất sức mạnh để phản ứng, để suy tư, để nghĩ. Có lẽ tôi sẽ cho họ can đảm.”


Bà cảm thấy rằng lời nhắn nhủ của bà khẩn trương hơn bao giờ hết. Ba mươi năm sau chiến tranh Việt-Nam, bà thấy chế độ được chấp nhận ở nước ngoài bằng cách mở rộng kinh tế cho người ngoại quốc trong một chiến lược hỗn hợp cộng sản tư bản. Bà cũng nhận thấy với sự lo sợ rằng thủ tướng của Việt-Nam, Phan Văn Khải, đă được tiếp đón tại toà Bạch Cung vào tháng trước.


“Đây là một chề độ tàn bạo và đê tiện. Nó làm nhiều thứ để lừa phỉnh những người ngoại quốc,” bà nói trong một buổi mạn đàm lâu dài. “Nếu Bush ủng hộ chế độ này, nó sẽ bắt đầu dấn thân vào một cuộc chiến khác, và sẽ đưa dân chúng xuống đất đen. Lần này những kẻ phản bội địa phương, thay v́ phi cơ thả bom B-52, sẽ được sử dụng.”


Cho đến nay, bà tiếp tục nói, chiến tranh Việt-Nam được sử dụng để biện minh cho việc duy tŕ quyền lực trong tay của nhà nước.

 

“Tất cả tuyên truyền của nhà nước chỉ nhắm tạo một huyền thoại về chiến tranh, để tâng bốc và đe dọa dân chúng,” bà nói. “Dân được bảo rằng: ‘Dân tộc ta anh hùng. Chúng ta nên kiêu hănh về lịch sử của chúng ta. Nhưng đừng bao giờ quên rằng, đảng đă lănh đạo dân tộc đến thành công.’ Nhà nước lừa dối dân chúng bằng một niềm kiêu hănh mù quáng.”


Cuộc đời của bà Hương cũng không tránh khỏi ảnh hưởng của chiến tranh.


Bà nói, khi c̣n một đứa trẻ con bà không được học trường tốt v́ bà không thuộc vài giai cấp nông dân hoặc vô sản: Bà ngoại của bà là địa chủ đă di cư vào Nam vào giữa thập niên 1950. [1] Nhưng đến tuổi 16, Dương Thu Hương được cho phép gia nhập đoàn diễn kịch lưu động và chứng tỏ có tài, nên được gửi đi học trường đào tạo diễn viên, nghệ sĩ múa, và ca sĩ để giúp vui quần chúng.


Ở đó bà một lần nữa làm việc khá và được cấp cho cơ hội để đi học tại Liên Xô, Đông Đức hoặc Bulgaria. Bà nói: “Tôi chọn ra tiền tuyến bởi v́ nước chúng tôi đang có chiến tranh và tổ tiên tôi luôn luôn chiến đấu cho đất nước…Tôi gia nhập một đoàn nghệ sĩ trẻ lo tŕnh diễn cho bộ đội và nạn nhân chiến tranh. Khẩu hiệu là: ‘Những tiếng hát của chúng ta to hơn tiếng bom.’ Chúng ta có thể làm in những tiếng gào thét bằng những bài hát.”


Bà nhớ lại, bà nhận thấy ngay lúc đó những đảng viên có những đặc quyền. Sau đó bà có một xúc động khác mạnh hơn khi tù binh của miền Nam đến khu vực của bà. Bà nói: “Tôi khám phá ra sự thật là chúng tôi cũng chiến đấu chống lại người Việt-Nam…Vâng, chúng tôi luôn luôn bị Mỹ dội bom, nhưng họ ở trên trời cao và tôi không bao giờ được thấy họ. Tôi chỉ thấy người Việt.”


Bà giữ những ư nghĩ đó cho riêng ḿnh, và cũng làm như vậy sau chiến tranh khi bà gặp lại bà con ở thành phố Hồ Chí Minh (như Saigon đă được đổi tên) và bà nhận biết rằng kẻ bại trận khá hơn kẻ thắng trận. Trong khoảng thời gian đó, bà tổ chức những sinh hoạt nghệ thuật ở thành phố Huế. Khi 30 tuổi, bà trở về Hà-Nội để làm việc cho kỹ nghệ điện ảnh của chính phủ. “Bà nói “Tôi viết năm kịch bản. Chúng được làm thành những phịm dở… Nhưng lương tôi không đủ sống.”


Một việc làm bất chợt ngắn hạn mở ra một cơ hội mới. Làm việc cho một nhóm tướng lănh quân đội, bà viết cho họ về lịch sử chiến tranh Việt-Nam. “Những ông tướng này thảo luận với nhau làm thế nào để thay đổi bài viết của tôi để cho phù hợp với quyền lợi của họ… Các ông này muốn tăng số người Việt chết để chứng tỏ rằng không có sự hi sinh nào quá to lớn cho nhân dân.”


Bà Hương nói rằng bà được mời gia nhập đảng CSVN vào năm 1979 và miễn cưỡng chấp nhận với sự thúc đẩy của bạn bè v́ họ hi vọng bà có thể giúp họ. Cũng trong năm đó cuốn tiểu thuyết đầu tiên của bà “Bên Kia Bờ ảo Vọng” được xuất bản tại Việt-Nam bán được 100,000 bản. Nhưng hai năm sau, bà nói, với sự ra đời của “Thiên Đường Mù”, một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng khác, bà bắt đầu gặp nhiều vấn đề.


“Ông Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư của Đảng CSVN hứa cấp cho bà một căn nhà dành cho cấp bộ trưởng nếu tôi giữ yên lặng,” bà nói. “Tôi nói với ông, ‘tôi tranh đấu cho dân chủ, tôi đặt tôi về phía nhân dân và không bao giờ đồng ư như là một bộ trưởng.’ Nguyên tắc của tôi là ông có thể mất tất cả, kể cả mạng sống của ông, nhưng không bao giờ nên để mất danh dự của ḿnh.”


Ngay sau đó, bà nói, bà đă thoát hai âm mưu ám sát. Bà viết một bài diễn văn cho Nghị Hội Những Nhà Văn Việt-Nam vào năm 1989, tựa đề là “Đảng Nên Cám Ơn Nhân Dân” và tức th́ bị trục xuất ngay ra khỏi đảng. Vào năm 1991, bà bị tù v́ bán tài liệu mật cho ngoại bang. Đó là những bản thảo viết tay. Không có ǵ đáng ngạc nhiên cả, ba cuốn sách tiếp theo của bà – “Tiểu thuyết vô đề”, “Memories of a Pure Spring” và “No Man’s Land” – chưa được xuất bản tại Việt-Nam. [2]


Nhưng tất cả những tiểu thuyết của bà đă được dịch sang một số ngoại ngữ. Nhờ Will Schwalbe, lúc đó làm việc tại Willam Morrow và bây giờ là chủ bút tại Hyperion, những cuốn sách này được dịch sang Anh ngữ. Ô. Schwalbe nói trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại “Lần đầu tiên tôi dược nghe về bà là khi bà bị giam trong nhà tù…Tôi đọc 30 hay 40 trang của ‘Thiên Đường Mù’ và tôi đă xúc động. Đây là cuốn tiểu thuyết Việt-Nam đầu tiên được dịch và xuất bản tại Hoa-Kỳ.


Những tiểu thuyết của bà Hương không có mầu sắc chính trị rơ rệt, nhưng chủ đề của những cuốn sách này là sự vỡ mộng của những người bị kẹt bởi số mệnh ngoài sự kiểm soát của họ. Khi điểm sách cuốn “Memories of a Pure Spring” trên tờ New York Times vào năm 2000, Richard Bernstein viết: “Người ta đọc cuốn sách này v́ quan điểm chính trị của nó, nhưng hơn thế nữa là v́ chiều sâu và sự phức tạp của những nhân vật trong cuốn tiểu thuyết. Họ phấn đấu để định nghĩa chính ḿnh trong một thế giới mà mỗi sự vật và mỗi người đều bị xếp vào một trong những hệ tư tưởng và khát vọng đất nước.”


Vào năm 1994, với sự can thiệp của Đệ Nhất Phu Nhân của Pháp Danielle Mitterand, bà Hương đă được đến Pháp để nhận giải thưởng. Bà được hứa cấp cho quy chế tị nạn chính trị. “Tôi nói, ‘Cám ơn, nhưng tại nước tôi, sư sợ hăi đă nghiền nát mọi thứ, chiến sĩ can đảm trở thành dân chính hèn nhát.’ “ Bà nhớ lại. “Do đó tôi phải trở về. Tôi trở về để làm một việc: nhổ vào mặt chế độ.’ “


Lần này, Ṭa Đại Sứ Ư tại Việt-Nam đă lấy được hộ chiếu cho bà, nhưng sau vài tuần ở Ư và Pháp, một lần nữa bà muốn trở về Hà-Nội, nơi hai đứa con và bốn đứa cháu đang sống. (Bà Hương đă ly dị vào năm 1982.) Và một khi về nước, nếu chính phủ không có một kế hoạch nào khác, bà nói bà sẽ tiếp tục viết. “Tôi là một người có lư tưởng cao, “Bà nói, trước khi thêm một nụ cười tinh quái, “và cũng là một người đần độn “


Chú thích:

[1] Theo GS Nguyễn Ngọc Bích, nhà văn Dương Thu Hương có bà ngoại là địa chủ. Do đó chúng tôi dịch từ chữ “grandmother” ra là bà ngoại.

[2]: GS Nguyễn Ngọc Bích cho biết tên Việt của cuốn “No Man’s Land” là “Chốn Vắng.” Nhưng tên Việt của cuốn “Memories of a Pure Spring,” chưa biết. Các nhà sách ở Hoa-Kỳ đều không có cả hai cuốn này bằng tiếng Việt.



----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Richard Harbus for The New York Times

 

Vietnamese Writer Won't Be Silenced

 

By ALAN RIDING

New York Times

July 11, 2005

 

For 11 years, Duong Thu Huong was not allowed to travel abroad.

 

PARIS, July 9 - Wearing an elegant tweed jacket and sipping fruit juice in a Left Bank cafe here, the writer Duong Thu Huong hardly cuts a threatening figure. But Ms. Huong, 58, evidently does in her native Vietnam, where she has spent time in jail, has seen her books banned and for 11 years was denied a passport to travel abroad.

 

Her sins, it seems, are many. Her novels dissecting life under one of the last Communist regimes are published and well received in the West. She is a former Communist Party member who was expelled as a traitor. And above all, she is a dissident - a "dissident whore," one party leader said - who refused to be silenced even after spending eight months in prison in 1991.

 

Now, for the second time, she has been allowed to travel to Europe. But in a sense, Vietnam has traveled here with her. She is willing to talk about her life and to discuss her five novels, including her latest, "No Man's Land," published in the United States in April. But her priority is to denounce the Hanoi government as irremediably corrupt and abusive.

 

"It is my mission to do so on behalf of those who have died under this shameful regime," she said, speaking fluent but heavily accented French. "Because I have a small reputation abroad, I have to say these things. I have to empty what is inside me to feel my conscience is clear. The people have lost the power to react, to reflect, to think. Perhaps I will give people courage."

 

She feels her message is more urgent than ever. Thirty years after the Vietnam War, she sees the regime gaining acceptance abroad by opening up its economy to foreigners under a communism-with-capitalism strategy. She also noted with alarm that Vietnam's prime minister, Phan Van Khai, was received by President Bush at the White House last month.

 

"It is a brutal and ignoble regime that does lots of things to fool foreigners," she said during a long conversation. "If Bush supports this regime, it will be engaging in another war that will drive the people into the mud. This time, instead of using B-52 bombers, it will be using the hands of native turncoats."

 

Until now, she went on, the Vietnam War served to justify the government's grip on power.

 

"All its propaganda is designed to feed the myth of the war, to flatter and threaten the people," she said. "It tells them: 'You are a heroic people. You should be proud of your history. But never forget that it was the party that led the people to victory.' It deceives the people with blind pride."

 

Ms. Huong's life, too, was inevitably shaped by the war.

 

As a child, she said, she was refused a good education because she belonged to neither the peasantry nor the proletariat class: her grandmother was a landowner who in the mid-1950's moved to South Vietnam. But, at 16, Duong Thu Huong (pronounced zung tu hung) was allowed to join a nomadic theater troupe and, showing talent, was then sent to a college training actors, dancers and singers for popular entertainment.

 

There she again did well and in 1968 was offered the chance to study in the Soviet Union, East Germany or Bulgaria. "But I chose to go to the front because our country was at war and my ancestors have always fought for our country," she said. "I joined a group of young artists performing for the troops and victims of the war. The slogan was: 'Our songs are louder than the bombing.' We would silence the screams with songs."

 

But even then, she recalled, she noticed that party members enjoyed special privileges. A bigger shock followed when South Vietnamese prisoners arrived in her zone. "I discovered the truth that we were also fighting Vietnamese," she said. "Yes, we were being bombed all the time by the Americans, but they were high in the sky and I never saw them. I only saw Vietnamese."

 

She kept her thoughts to herself, as she did after the war when she met up with relatives in Ho Chi Minh City (as Saigon was renamed) and realized that the defeated were better off than the victors. By then, she was organizing artistic events in the city of Hue. When she was 30, she returned to Hanoi to work in the government's movie industry. "I wrote five screenplays which were made into bad films," she said, "but I couldn't live off my salary."

 

One freelance job proved to be another eye-opener. Working for a group of army generals, she ghost wrote a history of the Vietnam War. "The generals would discuss among themselves how to correct my text to suit their interests," she said. "They wanted to increase the number of Vietnamese who died to show that no sacrifice was too great for the people."

 

Ms. Huong said she was invited to join the Communist Party in 1979 and did so reluctantly in 1985 at the urging of friends who hoped she could help them. That was also the year that her first novel, "Beyond Illusions," was published in Vietnam to popular acclaim, selling 100,000 copies. But two years later, she said, with the publication of "Paradise of the Blind," another best seller, her problems began.

 

"The party's general secretary, Nguyen Van Linh, offered me a house of the kind reserved for ministers if I would remain silent," she said. "I told him, 'I fight for democracy, I place myself on the side of the people and would never agree to be like a minister.' My principle is that you can lose everything, even your life, but never your honor."

 

Soon afterward, she said, she evaded two assassination plots. She wrote a speech for the 1989 Congress of Vietnamese Writers called "The Party Should Thank the People" and was duly drummed out of the party. In 1991 she was jailed for selling secret documents to foreigners, the "secrets" being her manuscripts. Unsurprisingly, her next three books - "Novel Without a Name," "Memories of a Pure Spring" and "No Man's Land" - have not been published in Vietnam.

 

But all her novels have been published in several foreign languages. And thanks to Will Schwalbe, then at William Morrow and now editor in chief at Hyperion, they have also appeared in English. "I first heard about her when she was in prison," Mr. Schwalbe said in a telephone interview from New York. "I read 30 or 40 pages of 'Paradise of the Blind' and was blown away. It was the first Vietnamese novel ever published in the United States in translation."

 

Ms. Huong's novels are not openly political, but their leitmotif is the disillusionment of people trapped by a fate beyond their control. Reviewing "Memories of a Pure Spring" in The New York Times in 2000, Richard Bernstein wrote: "One reads it certainly for its politics, but even more for the depth and complexity of its characters who strive to define themselves in a world that still puts everything and everybody in one or another category of ideology and national aspiration."

 

In 1994, through the intervention of Danielle Mitterrand, France's first lady at that time, Ms. Huong was allowed to come to France to receive an award. She was offered political asylum. "I said, 'Thank you, but in my country fear crushes everything, brave soldiers have become cowardly civilians’, " she recalled. " 'That's why I have to return. I return to do one thing: to spit in the face of the regime.' "

 

This time, the Italian Embassy in Vietnam obtained her passport, but after a few weeks in Italy and France, she again intends to return to Hanoi, where her two children and four grandchildren live. (Ms. Huong was divorced in 1982.) And once there, if the government has no other plans, she says she will continue writing. "I am an idealist," she said, before adding with a mischievous smile, "and an imbecile, too."

 

            ***********************************************************************

 

Xin vui ḷng liên lạc với  butvang@yahoo.com  về mọi chi tiết liên quan tới Ánh Dương
Copyright © 2004 Anh Duong Online
Last modified: 08/10/06