ĐT. 714-541-9859, 714-423-0577                      THONG THIEN HOC

Google

Trang Chính

English

Việt Nam


Hoa Kỳ

Sinh Hoạt Cộng Đồng


Thế Giới
Diễn Đàn

Văn Học

B́nh Luận

Kinh Tế
Câu Chuyện ThờiSự

Chuyện Lạ 4Phương

Khoa Học

Sức Khỏe

Ẩm Thực

Nhân Vật

Người / Ngợm

Vui Cười


Biếm Thi

Linh Tinh

Rao Vặt

Nhạc Hoàng Vân

VNCH Foundation

Ca Dao Việt Nam

Thơ Hà Huyền Chi

Hà Phương Hoài

Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam

OVERSEAS
FREE VIETNAMESE
COMMUNITIES

RADIO
SAIGON-HOUSTON

 

Nhớ nghĩ về Thanh Tâm Tuyền, những điều chợt đến...

 

Trần Thanh Hiệp

 

Đau như thú dữ cháy rừng

Ta đập vỡ h́nh hài và thức giấc

T.T.T.

 

Vang vang trời vào xuân

Ngày ấy, dưới ṿm trời xám đen của trại tù cải tạo trong một khu rừng, sâu thẳm cây trút lá*, ở miền Bắc Việt Nam, Trần Kha bỗng nghe thấy Vang vang trời vào xuân. Hôm nay, trên thành phố Roseville vùng Minnesota Vạn hồ của nước Mỹ, khi xuân trở về trên cánh gió lạnh th́ Thanh Tâm Tuyền vừa nằm xuống trong giấc ngủ không thức dậy. Nhà thơ thôi không nói ǵ nữa. Mùa xuân như cũng nín lặng.

 

Tôi đă có nhiều dịp nghĩ lan man về cái chết của nhiều người, kể cả chính tôi. Nhưng chưa hề bao giờ tôi nghĩ tới cái chết của Thanh Tâm Tuyền. Anh là một tác giả không chút bận tâm về cái chết, tuy rằng các nhân vật của anh thường rung động với một cường độ rất mănh liệt. Với anh, chết là chuyện tự nhiên, tất nhiên của đời sống, chuỗi hành tŕnh bốn chặng tiếng phật giáo gọi là ṿng luân hồi sinh, lăo, bệnh, tử. Chết ở khắp nơi, ở trước mặt chúng ta, ở sau lưng chúng ta, Sartre viết thế. Trong văn thơ Thanh Tâm Tuyền, cái chết không mang màu sắc siêu h́nh, không có bóng đen ghê rợn của Tử thần, với lưỡi hái trên tay, trùm phủ. Chết không để t́m lối thoát cho một bế tắc, như ở các nhân vật của Nhất Linh. Thanh Tâm Tuyền không lư luận về cái chết, anh b́nh thản và lạnh lùng nh́n nó, thấy nó không ngăn cách với anh, tôi thèm sống như thèm chết, giữa hơi thở giao thoa. Ở cuối đường th́ ngủ cô đơn trên giường bệnh hay sẽ nằm măi măi ngoài nghĩa địa vẫn chẳng có ǵ khác lạ…

 

Sống hay chết chẳng có ǵ khác lạ, Thanh Tâm Tuyền không muốn bè bạn bận tâm về sức khỏe của ḿnh. Cách đây không lâu, anh gọi tôi nhiều lần qua đường dây viễn liên, cho tôi biết đầy đủ chi tiết về t́nh trạng hôn mê kéo dài của anh Nguyễn Sỹ Tế sau khi mổ tim, về tác phẩm trường thiên cuối đời Mây Trắng Bốn Phương của anh Tế và những giờ phút cuối củng lúc anh Tế nhắm mắt. Cũng như trước đây, anh đă kể lại rành rẽ cho tôi tại sao Ngọc Dũng mau lẹ ra đi v́ ung thư phổi. Nhưng tuyệt nhiên anh không đả động ǵ tới chuyện anh mới vào nhà thương khám bệnh, bác sĩ t́m ra anh bị ung thư phổi và dự đóan anh chỉ c̣n sống thêm chừng sáu tháng nữa. Trong cuộc trao đổi vui buồn lẫn lộn với anh về chuyện sống chêt của bạn bè, tôi không thấy có cảm giác ǵ khác thường về người đối thoại ở đầu dây bên kia. Quả thật tôi không hề nghi ngờ đă có thể có thay đổi đột ngột nào về sự sống của Thanh Tâm Tuyền. Cho đến không lâu sau, sáng ngày 22 tháng 3, gần trưa giờ Paris, tôi nghe qua diện thoại, chị Tâm nghẹn ngào nói vắn tắt anh Tâm “đang hấp hối trên giường bệnh”. Thế là trong cùng ngày - “nó”, chính “nó đấy, cái chết - đă xảy ra sớm hơn ba tháng. Tôi nghe rơ nhưng không tin, hay đúng hơn, chẳng muốn tin sự khám phá bất chợt của ḿnh (chữ khám phá Thanh Tâm Tuyền rất ưa dùng trong lúc chúng tôi chuyện tṛ thời chúng tôi làm báo Sáng Tạo; tôi không thể chấp nhận được cái chết  minh chứng cho sư toàn thắng của bất công trong cuộc đời, tại sao Thanh Tâm Tuyền lại phải trả giá cho bất công?). Câu thơ của Đỗ Phủ Thiên nhai cố nhân thiểu (cuối trời thưa bạn cũ) từ lâu tôi không c̣n nhớ bỗng trở lại ám ảnh tôi...

 

Đập vỡ h́nh hài và thức giấc.

Cùng một lứa bên trời lận đận, chúng tôi dăm ba người gốc miền Bắc miền Trung, tuổi khác nhau trên dưới ba mươi nhưng không quá cách biệt, v́ t́nh cờ do chiến tranh, đă gặp nhau vào một thời điểm - năm 1954 - và ở một nơi không định trước của miền Nam - Saigon. Trong môt bài đăng trên Tạp chí Thơ, tưởng nhớ Mai Thảo đă khuất, Thanh Tâm Tuyền viết về cuộc gặp gỡ t́nh cờ này, tôi trích lại một đọan ngắn:

 

“Khu lều bạt Thăng Long nơi tạm trú của Sinh viên Hà Nội di cư, nằm ngay trung tâm thành phố, trên đất Khám Lớn Sai Gon cũ, tháo dẹp. Sinh viên chuyển vào Đại Học Xá Minh Mạng, dù công tŕnh xây cất chưa hoàn tất. Đặc san Lửa Việt của HSVDHHN [Hội Sinh Viên Đại Học Hà Nội], do anh Trần Thanh Hiệp làm Chủ nhiệm, anh Nguyễn Sĩ Tế làm Chủ bút, sau số Xuân Chuyển Hướng cũng ngưng xuất bản.

Bấy giờ là năm 1955. Di cư đă đến hồi văn cuộc. Hà Nội khuất biệt từ tháng 10  năm trước.  Sai Gon vẫn c̣n xô bồ những mới mẻ, những hứa hẹn trong con mắt người di cư.

Chúng tôi - các anh Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, Doăn Quốc Sĩ và tôi - gặp nhau, cùng làm việc, quen dần nhau qua mấy số Lửa Việt - nơi đă in vở kịch Trắng Chiều của anh Tế viết khi c̣n ở Hà Nội, các truyện ngắn Chàng Nhạc Sĩ, Ǵn Vàng Giữ Ngọc của anh Sỹ và một vài bài thơ của tôi - đồng ư cần có một tờ báo của ḿnh để viết cho sướng tay, để may ra đóng góp được cái ǵ cho công việc chung.

Trong khi chờ anh Hiệp t́m kiếm nguồn tài trợ, chúng tôi nhận hợp tác với nhật báo Ḥa B́nh của anh Vũ Ngọc Các, làm trang Văn Nghệ hàng tuần cho tờ báo. Tôi được giao phó công việc đầu bếp lo việc sắp xếp bài vở cho trang báo v́ rảnh th́ giờ nhất và được nết chịu khó đọc.

Nhờ trang báo này mà tôi gặp thêm bạn (...)

Mai Thảo gửi đến chúng tôi Đêm Giă Từ Hà Nội

Tôi nhận được một bao thư dày cộm, không địa chỉ người gửi, trong đựng xấp bản thảo đánh máy. Bút hiệu Mai Thảo hoàn toàn xa lạ với tôi.

Liếc nh́n ḍng chữ đầu tiên của bài gửi, t6i giật ḿnh kinh ngạc :

Phượng nh́n xuống vực thẳm : Hà Nội ở dưới ấy (...).” 

 

Thanh Tâm Tuyền gặp Mai Thảo, anh em chúng tôi cho Tạp chí Sáng Tạo ra đời. Biến cố này đă chấm dứt giai đoạn mở đường, trong đó, chúng tôi mỗi người một cách, hung hăng coi trời bằng vung, chẳng khác ǵ những chàng hiệp sĩ Don Quichotte, làm báo, in báo, bán báo, viết văn, làm thơ, vẽ tranh, soạn kịch v.v...Chúng tôi sôi nổi phiêu lưu đi t́m một xứ Viễn Tây ở miền đất mới của nước non cũ. Thật ra sự ngông cuồng này cũng chỉ là những biểu hiện của sự tự do trời cho, tức là vào thời điểm những xiềng xích cũ bị chặt đứt chưa được xiềng xích mới thay thế. Con sông Bến Hải chia đôi đất nước thật đó, nhưng cùng lúc lại ngăn được làn sóng độc tài đỏ phương Bắc không tràn ngập phần c̣n lại của đất nước ớ phía Nam. Bộ máy cai trị ở miền Nam th́ chưa lắp ráp kịp để chiếm đóng xă hội. Trong một chừng mục nào đó, lịch sử miền Nam tạm thời bỏ trống cho dân chúng. Mấy anh em chúng tôi nắm lấy thời cơ, kịp thời tiếp thu t́nh trạng ưu đăi lịch sử hiếm có này để h́nh thành một dạng thức tự do vừa cho cá nhân, vừa cho xă hội. Chúng tôi hăm hở sáng tác. Xin nghe lại tiếng kèn vào trận của Nguyễn Sĩ Tế «...chính trị không c̣n là một đặc quyền của một thiểu số, một ‘quả cấm’ đối với đa số ». Thơ Thanh Tâm Tuyền vang lên đanh thép lời tuyên ngôn  « Đau như thú dữ cháy rừng. Ta đập vỡ h́nh hài và thức giấc ». Doăn Quốc Sĩ căn dặn : « Ǵn vàng giữ ngọc ». Trần Thanh Hiệp  đặt vấn đề «...nghệ thuật không phải chỉ là sự diễn tả tâm t́nh, hay là sự thần phục thực tại, hay là sự tuyên truyền chính trị, hay là sự cuồng loạn hư vô (...) chỉ có thể hiểu nghệ thuật bằng y cứ vào sự vận động biện chứng của chính nghệ thuật trong vận dộng của lịch sử (...) nghệ thuật là một nhận thức của đời sống (...) một tác động của con người để chinh phục thân phận của chính ḿnh (...) sự giao tranh đưa lại sự giải phóng tự giác và giải phóng xă hội để đạt tới một ‘toàn thể nhân tính’(...). Nghệ thuật bây giờ là sự tiêu hủy để sáng tạo. Là sự thống nhất tiêu hủy và sáng tạo ». Đoạn tuyệt với mọi công thức ước lệ cũ, dứt khóat như vậy, dù ḷng chẳng vui sướng ǵ. Làm mới lại h́nh thức cho văn học nghệ thuật, một điều đương nhiên. Nhưng c̣n phải giải phóng luôn cả văn học nghệ thuật khỏi ḱm kẹp ư thưc hệ của chính trị nữa. Sáng Tạo tự nguyện đi tiên phong tiếp tục ở miền Nam hành động của Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc công khai đối đầu với chính quyền độc tài cộng sản. Và có điều kiện để tiến xa hơn nữa, bằng tác phẩm, Sáng Tạo chĩa mũi tấn công vào đồn lũy toàn trị. Thái độ lên đường  để tiến công dủ ngắn ngủi này - đầu thập niên 60 Sáng Tạo tự ư im tiếng - đă mang ư nghĩa một chiến thắng giữa cuộc đời mà ng̣i bút trên tuyến đầu Thanh Tâm Tuyền trao tặng Quách Thọai ở bên kia thế giới. Đoạn kết luận sau đây, do Thanh Tâm Tuyền đưa ra và Mai Thảo ghi lại, của 4 cuộc thảo luận thân mật năm 1962 giữa anh em chúng tôi, có thể coi như một đoạn di chúc tinh thần chung của Sáng Tạo :

« Cùng với nhau bỏ những ám ảnh quá khứ, để nh́n vào thực trạng, khơi mở con đường tiến tới nghệ thuật hôm nay. Có thể thế hệ sau chúng ta sẽ làm lại hành động này với thế hệ chúng ta. Và chúng ta chấp nhận đó là một hành động tất yếu cho sự tiến hóa của nghệ thuật.

Nghệ thuật là một vận động biện chứng của hủy diệt và sáng tạo »

 

Người thi sĩ với 21 khuôn mặt

Hăy cho anh khóc bằng mắt em

Những cuộc t́nh duyên Budapest

.....................................................

Hăy cho anh chết bằng da em

Trong dây xích chiến xa tội nghiệp

Anh sẽ sống bằng hơi thở em

Hỡi những người kế tiếp

Người thưởng ngoạn ở miền Nam những năm giữa thập niên 50 rất yêu những câu thơ lộng lẫy này của Thanh Tâm Tuyền. Nhưng không phải mọi câu thơ khác của anh đều dễ thương như thế. Lê Huy Oanh, một người yêu thơ, thích đọc thơ của nhiều người từ khi c̣n mười ba, mười bốn tuổi, đă bỏ công nghiên cứu về thơ, công khai thú nhận rằng “lối thơ Thanh Tâm Tuyền đă giày ṿ, hành hạ óc thưởng ngọan” của ông, “khiến ông khổ sở đến độ có ác cảm” với thơ Thanh Tâm Tuyền. Có người nhận xét rằng v́ thơ mà Thanh Tâm Tuyền bị hiểu lầm suốt đời và không được đối xử xứng đáng khi c̣n sống. Bùi Vĩnh Phúc, người tự cho là hiểu và yêu thơ Thanh Tâm Tuyền, trong bài Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy viết cách đây 20 năm, đă dùng tới 21 tính từ để bàn về thơ Thanh Tâm Tuyền cũng như về con người Thanh Tâm Tuyền. Kiêu căng, ngạo mạn, lạnh lùng, cô độc, cô đơn, cô lữ, lăng mạn, tha thiết, dằn vặt, yêu thương, khô khan, bùng cháy, mệt mỏi, hoài nghi, thất vọng, siêu h́nh, trong sáng, rắc rối, phức tạp, xót xa, phẫn nộ... nếu Bùi Vĩnh Phúc c̣n kể thêm nhiều nữa chắc cũng chưa hết. Tôi cho rằng ông đă không quá lời. Chính Thanh Tâm Tuyền cũng viết trong bài Nỗi buồn trong thơ hôm nay rằng  “Mỗi tiếng, mỗi lời viết ra tôi đều thấy nó chứa đựng những hận thù, khinh bỉ, dày ṿ, đớn đau, tuyệt vọng, nhơ nhuốc, dối trá, hằn học, trơ trẽn, bệnh hoạn, xấc láo, thô bạo, cục cằn, tủi hổ, yếu đuối, bất lực, chết chóc”. Thơ mà xông xáo vào cuộc đời th́ không thể đơn giản, đơn điệu được. Vả lại người ta thường gọi thi sĩ là cây đàn muôn điệu. Đàn là nhạc khí chỉ có dây và cung bậc. Phải có nhạc công th́ đàn mới thành điệu. Thơ, ngoài chữ nghĩa c̣n phải kể đến người làm thơ nữa. Và sau cùng, điệu tùy thuộc vào nhạc công. Cứ theo ḍng suy tư của Bùi Vĩnh Phúc, muốn hiểu thơ Thanh Tâm Tuyền cần nhận diện ông qua 21 khuôn mặt. Thanh Tâm Tuyền, cũng trong Nỗi buồn của thơ hôm nay nh́n nhận rằng tất cả những lời trách cứ đối với thơ anh đều có lư. “Xua đưổi Hồn thơ muôn đời (...),  người làm thơ hôm nay chỉ là tên ăn mày lẫn giữa đám đông khốn cùng với một mẩu tự do sót lại” . Đám đông bị cuốn đi trong cơn lốc tối tăm khủng khiếp (...) để hiện lên cô đơn trong từng kẻ một. Anh, người làm thơ hôm nay, quay lưng lại với Nghệ thuật [Thi sơn, Tượng trưng, Siêu thực v.v..] ngoảnh mặt với Thiên nhiên [Lăng mạn], không chỉ nh́n trông từ ngôi cao vĩnh viễn mà muốn có mặt và cùng cô đơn,[cùng với đám đông], cô đơn hơn ai hết....[để mọi người ai cũng hết cô độc]...Thơ chỉ muốn bước sâu vào ư thức thăm thẳm (...) đưa người ta đi t́m sự thực. Anh biết rất rơ v́ sao thơ anh khó đọc, khó hiểu. Người đọc bị thơ anh lay động nên hốt hoảng, không nhận ra đâu là Thơ, đâu là Nghệ thuật, đâu là Thiên nhiên, đâu là T́nh ái. Nhưng không v́ thế mà anh uốn nắn lại thơ ḿnh để đổi lấy tên gọi thi sĩ. Anh đă khước từ tên gọi này, trả nó lại cho Nghệ thuật, cho Thiên nhiên, cho T́nh Ái những thứ người đời tôn sùng là vĩnh viễn. Anh không làm thơ để nói chí hay nói t́nh. Anh đi theo vận hành của ư thức trong cơn cuồng nộ khám phá sự thực ở trong hiện tại. Anh dứt khoát lựa chọn rồi. Và sẽ không thay đổi lựa chọn. Ngay từ đầu, khi in tập thơ đầu tay Tôi Không C̣n Cô Độc, anh thẳng thắn loan báo như thế. Có điều cách nói của anh lại càng làm cho người đọc hiểu lầm thêm. Rằng anh là vị Hoàng đế trong đất thơ của anh, người đọc không bị ép buộc phải đọc, phải chấp nhận. Cung điện của anh bỏ ngỏ để ra vào tự do.

Ở đây tôi là vị hoàng đế đầy đủ quyền uy

Bởi v́ người vào đất đai của tôi người hoàn toàn tự do

Để cai trị tôi có những luật lệ tinh thần mà người phải thần phục

Nếu người muốn nhập lănh thổ.

Người hoàn toàn tự do

Và có thể ném cuốn sách ra cửa sổ

 

Như thế rơ ràng giữa anh và người đọc không có sự hiểu lầm nhau. Chỉ không t́m hiểu nhau mà thôi. Hơn nửa thế kỷ đă trôi qua, từ khi anh chọn con đường làm thơ của riêng anh mà anh đă mô tả trong bài viết Nỗi buồn trong thơ hôm nay. Anh đă sáng tạo ra một không gian thơ, một phong cảnh thơ chưa từng thấy trong văn học tiếng Việt. Hay dở ra sao, điều này đến nay vẫn chưa ai định rơ được, nhất là nhiều hiểu lầm vẫn c̣n đó. Chắc phải đợi cho đến khi có người giải mă được thơ anh. Tôi nghĩ rằng đằng sau 21 khuôn mặt mà Bùi Vĩnh Phúc đă hài ra, chỉ có một Dzư Văn Tâm, một Thanh Tâm Tuyền bằng xương bằng thịt dưới một khuôn mặt duy nhất thôi. Khuôn mặt của một ḷng thương tự nhiên, thứ t́nh người tự phát, hay là ḷng trắc ẩn mà Mạnh Tử đă đưa lên hàng một trong bốn giềng mối của luân lư loài người. Nh́n dưới góc độ ngoài chữ nghĩa như thế th́ Dzư-Văn-Tâm-Thanh-Tâm-Tuyền-Trần Kha là một nhà thơ rất đơn giản với một ḷng thương vô nhiễm, vô hạn, ngay cả trong cơn cuồng nộ. Không phải tôi muốn nói rằng anh là một sản phẩm của nho giáo khi tôi nhắc lại ư kiến của Khổng Tử trong sách Luận ngữ Chỉ có người người có đức nhân mới biết yêu người, ghét người. Tôi nhấn mạnh, biết ghét người một cách chính  đáng trong cái hiện tại của áp bức, của bất công, bất luận toàn trị hay tự do.

 

Cái chết mang lại sự sống

Bùi Giáng đă kết thúc bài thơ Thức giấc và về Quách Thoại bằng hai câu

Tôi bưng mặt khóc bên thềm

Khi người thi sĩ êm đềm ra đi.

Chúng ta có thể coi như Bùi Giáng mấy chục năm trước khóc Quách Thoại nhưng đă vô t́nh khóc Thanh Tâm Tuyền, khi anh c̣n sống. Thanh Tâm Tuyền đă êm đềm ra đi lúc mùa xuân vừa tới. Nghe những lời thương tiếc anh là nghe tiếng nói t́nh cảm . Với Thanh Tâm Tuyền tất cả chỉ là ảnh tượng. Trong thơ anh, ảnh tượng có địa vị thống soái, ư thức, ư chí, kiến thức thậm chí cả vần điệu đều hiện ra bằng ảnh tượng. Baudelaire cho tôi cái nh́n để nghĩ về cái chết của Thanh Tâm Tuyền.

 

C’est la mort qui console, hélas, et qui fait vivre.

 

Cái chết, than ôi, đă mang lại niềm an ủi và tạo nên sự sống. Đây chỉ là những ảnh tượng trong đầu tôi. Có thể khi anh nằm xuống, Thanh Tâm Tuyền đă gián tiếp làm cho những người bị coi là hèn mọn, bị cuộc đời bạc đăi - chính là đám đông khổ đau - bất chợt khám phá ra rằng một nhà thơ đă từ bỏ hết để cúi xuống ở dưới ấy - vực thẳm - mà nói lời an ủi “những nỗi tuyệt vọng sầu thảm không được cứu vớt, những hồn chết dần trong thèm khát tương lai, những ràng buộc vô lư vào cuộc đời lạ mặt...”.  Có thể ngày anh từ trần sẽ là ngày anh khai sinh, là ngày anh phục sinh - ngôn ngữ của anh - với cả một không gian văn thơ bây giờ anh đă xây dựng trong suốt hơn nửa thế kỷ. Muốn hay không muốn từ nay anh đă đi vào đại sảnh của văn học sử bằng cổng chính. Một tờ báo lớn ở hải ngoại viết rằng cái chết của Thanh Tâm Tuyền là một mất mát lớn cho văn học. Một công thức nói, nghiêm chỉnh và nghi lễ. Nghĩ cho cùng, văn học Việt Nam không hẳn đă mất mát ǵ v́ cái chết của Thanh Tâm Tuyền. Phải nói văn học ấy đă bị mất mát ngay từ khi Thanh Tâm Tuyền c̣n sống th́ đúng hơn. Trong nước, những ông quan văn nghệ tự phong, đă ngang nhiên, sau khi bỏ tù anh, c̣n đóng vai ngự sử ngăn cản không cho tên tuổi anh được ghi vào danh sách những tác giả của một Từ Điển Văn Học. Ở ngoài nước, một lần nữa lịch sử lại được “bỏ trống” cho người Việt Nam như ở miền Nam những năm 50. Nhưng Thanh Tâm Tuyền , ngươi cầm bút xung kích sáng tạo văn nghệ từ những năm 50 dường như vẫn c̣n là một khách lạ. Tâp thơ của khuôn mặt văn hóa hàng đầu này của miền tự do đă chỉ là như tiếng vọng từ đâu xa vẳng đến. Có ai giải thích được tại sao có hiện tượng này không? Trong buổi phát thanh của Đài RFI ở Paris chiều thứ Bảy vừa qua, Thụy Khuê hỏi tôi Thanh Tâm Tuyền từ khi sang định cư ở Mỹ có ư muốn ở ẩn? (Đọan trả lời của tôi hơi dài nên Đài không phát đi). Tôi đă nói với Thụy Khuê là không có chuyện Thanh Tâm Tuyền ở ẩn. Anh vẫn tiếp tục cuộc sống b́nh thường giữa thân nhân và bạn bè. Anh vẫn góp tiếng nói để tưởng niệm Mai Thảo, Ngọc Dũng, để tuyên dương Doăn Quốc Sĩ và tham gia thảo luận ở một trường Đại học ở miền Nam nước Pháp về văn học Việt Nam lưu vong. Nhưng anh có nói riêng với tôi rằng nếu anh không t́m được ǵ thật mới th́ anh sẽ thôi hẳn không viết nữa. Tôi chắc anh đang dựng những ảnh tượng mới về con người, về đất nước. Những ngày bị lưu đày cải tạo anh đă thâu thập được ít nhiều khám phá để dựng những ảnh tượng mới này, có tên gọi rất lạ như “không sinh tồn”, “vô liên, “không lịch sử” v.v...Anh lục lọi trong kư ức những kinh nghiệm làm thơ ngay tại trại giam. Anh đă luyện được cách sáng tác lưu động bằng ảnh tượng của thực tại. Anh đă t́m gặp lại được thơ, thơ của anh. Rồi lại làm thơ nhưng thơ như ở đâu xa. Vậy nếu có cách biệt giữa anh và cộng đồng người Việt ở hải ngoại, chung qui cũng ở nơi anh đă đứng sang bên lề cuộc sống trong môi trường hải ngoại để đổi mới ảnh tượng.  Hay v́ đă đổi mới ảnh tượng không chừng. Trong anh suối nguồn ảnh tượng đang đợi dịp tuôn trào.

 

Chiều trên phi trường anh bỗng nhớ em, nhớ chuyến đi xa hẹn ước.

Không bao giờ nữa.

 

Câu kết này của bài thơ Chiều trên phi trường của anh như chiếc màn nhẹ nhàng tư từ buông xuống trên sân khấu. Những ǵ xảy ra sau đó? Không bao giờ nữa. Anh và em đă đi chuyến đi xa hẹn ước? Hay đă chẳng có chuyến đi nào? Hay đi mà không trở lại? Hay anh đi một ḿnh không có em, Liên chỉ c̣n là một tên gọi trống trơn, một ảnh tượng về em, về cuộc đời? Tôi liên tưởng tới h́nh ảnh sáng ngày thứ Bảy 25-03-2006, linh cữu anh, trên vai sáu người bạn, Cung Tiến, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Cao Đàm, Nguyễn Ngọc Diễm và Vũ Xuân Châu đă được đưa ra nghiă trang Roselawn trên đường Larpenteur, Roseville, nơi nằm sau cùng của anh. Có phải anh đi chuyến đi xa hẹn ước? Liên đêm mặt trời t́m thấy...Không bao giờ nữa...Hắn rũ bỏ kư ức mà đi... thơ anh ngân vang trong thinh không. 

Paris, 22-03-2006

Trần Thanh Hiệp

 

 

 

_______

[*] Những đoạn chữ nghiêng không ghi xuất xứ là để trích dẫn thơ Thanh Tâm Tuyền

Xin vui ḷng liên lạc với  butvang@yahoo.com  về mọi chi tiết liên quan tới Ánh Dương
Copyright © 2004 Anh Duong Online
Last modified: 08/10/06