Hội luận về Biển Đông do Hà Nội tổ chức chỉ là hỏa mù:

 

Việt Nam sẽ mất Hoàng Sa, Trường Sa và phần lớn vịnh Bắc Việt về tay Trung Cộng nếu Đảng CSVN tiếp tục cầm quyền

 

Nguyễn Thành

Điều-phối-viên “Ủy Ban Công Lư-Hoà B́nh cho Hoàng Sa-Trường Sa của VN”

  

 

Thông Báo của LHQ

 

Ủy Ban Thềm Lục Địa LHQ [từ đây gọi tắt là Ủy Ban = Commission] đă kết thúc khoá họp 24 về thềm lục địa mở rộng ra ngoài 200 hải lư tại trụ sở LHQ ở New York vào ngày 11 tháng 12 năm 2009. Bản tường tŕnh rất dài của Ủy Ban [Statement of Commision CLCS/64] đă được phổ biến trên trang nhà “UNCLOS” và chúng tôi xin tóm lược một số điều cần biết hay liên quan tới Việt Nam dưới đây.

 

1. Ủy Ban cho biết đă nhận được 35 hồ sơ mới của 41 nước ven biển nộp cho khóa họp thứ 24 của Ủy Ban, từ 10/8/2009 đến 11/9/2009. Tuy là khóa họp 24 của Ủy Ban nhưng là khóa họp đầu tiên về thềm lục địa mở rộng sau hạn kỳ nộp đơn 10 năm, tính từ 13/5/1999 đến 13/5/2009. V́ số lượng hồ sơ quá nhiều nên Ủy Ban đă phải kéo dài khoá họp thêm 2 lần, mỗi lần 1 tuần lễ vào đầu tháng 11 và 12/2009. Nhưng Ủy Ban vẫn chưa giải quyết được ǵ về 35 hồ sơ mới, trong đó có 2 hồ sơ của Hà Nội.

 

2. Ủy Ban đă dành gần hết thời gian khoá họp để giải quyết 5 hồ sơ [của Pháp, Barbados, Anh+North Ireland, Indonesia, Nhật] tồn đọng từ các khóa họp trước. Dù cả 5 hồ sơ này đều đă được các Tiểu Ban [Sub-Commission] thành lập bởi các khóa họp cũ để xem xét và đề nghị khuyến cáo, Ủy Ban chỉ giải quyết dứt điểm được 1 hồ sơ của Pháp nộp từ hơn 2 năm trước. Bốn hồ sơ cũ c̣n lại, Ủy Ban có giải quyết được th́ sớm nhất cũng là năm 2010 [và rất có thể c̣n trễ hơn nữa].

 

3. Ủy Ban cũng cho biết đă nghe đại-diện 18 nước tŕnh bầy về 15 hồ sơ xin mở rộng thềm lục địa [trong số 35 hồ sơ mới], trong số này đại diện Hà Nội [Huỳnh Minh Chính, Phó Ban Biên Giới, Bộ Nhoại Giao] đă tŕnh bầy về hồ sơ nộp với Mă Lai ngày 6/5/2009 liên quan tới Nam Biển Đông trong đó có quần đảo Trường Sa và tŕnh bầy về hồ sơ 7/5/2009 liên quan tới Bắc Biển Đông trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Vịnh Bắc Việt.

 

   Điều cần lưu ư ở đây là:

   -Ngày 13/5/2009 là ngày chót để nộp hồ sơ thềm lục địa mở rộng ra ngoài 200 hải lư. Tuy Hà Nội tuyên bố trên báo chí và trong lời mở đầu hồ sơ ngày 6/5/2009 là xin “mở rộng” thềm lục địa VN nhưng  thực ra th́ Hà Nội chỉ xác nhận lănh hải VN có 200 hải lư trong cà hồ sơ nộp Ủy Ban.

   -Vùng biển rộng 200 hải lư này, theo Luật Biển LHQ, là Vùng Đặc Quyền Kinh Tế mà các nước ven biển đương nhiên được hưởng, không cần phải đăng kư với Ủy Ban và chính Hà Nội cũng đă đăng kư Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư này từ ngày 12/11/1982 rồi.

   -Theo Các Qui Tắc về Thủ Tục của Luật Biển th́ Ủy Ban sẽ không cứu xét và phê chuẩn hồ sơ nếu có sự phản đối hay tranh chấp. Cả 2 hồ sơ của Hà Nội đều được rêu rao ầm ĩ là bị Trung Cộng và Phi Luật Tân phản đối ngay sau khi nộp nhưng vẫn được Ủy Ban cứu xét và rất có thể sẽ thông qua.

 

4. Về Thủ Tục Cứu Xét, muốn mở rộng thềm lục địa ngoài 200 hải lư, nước ven biển phải nộp hồ sơ cho Ủy Ban. Thời hạn nộp hồ sơ là 10 năm và hạn kỳ chót là ngày 13/5/2009 [như đă nói trên] và gồm các bản đồ kỹ thuật với toạ độ và cách tính để qui định đường ranh thềm lục địa ngoài 200 hải lư theo qui định của Luật Biển LHQ. Tổng Thư Kư LHQ phải thông báo bằng văn bản cho các nước hội viên Luật Biển khi nhận được hồ sơ. Văn bản thông báo này cũng phải được phổ biến trên trang nhà UNCLOS.

   Để giải quyết 1 hồ sơ, Ủy Ban trước hết phải chỉ định 1 Tiểu Ban 7 người để xem xét hồ sơ. Tiểu Ban họp riêng khi xem xét hồ sơ và có thể yêu cầu nước nộp hồ sơ cung cấp thêm tài liệu hoặc thay đổi hồ sơ, nếu cần. Tiểu Ban phải thông báo cho nước liên hệ biết kết luận về hồ sơ của Tiểu Ban và phải đọc cho nước này biết các khuyến cáo [Recommendations] của Tiểu Ban trước khi đệ tŕnh Ủy Ban.

   Trong lúc Ủy Ban hội họp để thận trọng duyệt xét các khuyến cáo do Tiểu Ban đệ tŕnh, nước liên hệ có quyền yêu cầu để được tŕnh bầy quan điểm của ḿnh về khuyến cáo của Tiểu Ban. Ủy Ban cũng có thể yêu cầu nước liên hệ thay đổi một phần hay toàn bộ hồ sơ cho phù hợp với các tiêu chuẩn của Luật Biển LHQ. Nếu Ủy Ban không có ư kiến khác th́ khuyến cáo của Tiểu Ban sẽ là quyết định của Ủy Ban. Quyết định của Ủy Ban có giá trị chung quyết và ràng buộc nước đệ tŕnh hồ sơ.

   Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa khoá họp thứ 24 [vừa kết thúc] do Đại Hội Đồng các nước hội viên Luật Biển LHQ [họp từ 14 đến 15/6/2007] bầu ra, gồm 21 ủy viên, với nhiệm kỳ 5 năm, từ 16/6/2007 đến 15/6/2012. Như thế, Ủy Ban chỉ có thể thành lập tối đa là 3 Tiểu Ban và đó là lư do khiến việc giải quyết hồ sơ rất chậm, thường mất nhiều năm. Các thí dụ sau đây chứng tỏ điều này: 1] Hồ sơ của Brazil nộp ngày 17/5/2004, Ủy Ban giải quyết ngày 9/4/2008, mất 4 năm. 2] Hồ sơ Barbados nộp ngày 8/5/2008, Ủy Ban hẹn sẽ giải quyết vào năm 2010. 3] Hồ sơ Cuba nộp ngày 1/6/2009 [tức sau 13/5/2009 17 ngày], Ủy Ban quyết năm 2030 mới giải quyết, tức 20 năm nữa.

   Một điều đáng lưu ư nữa là trong số 21 ủy viên của Ủy Ban có đại diện Trung Cộng, Bắc Hàn và Nga.

 

Như thế, Hà Nội vừa ở lợi thế cầm quyền và hội viên Luật Biển nên có thể nộp hồ sơ cho Ủy Ban về thềm lục địa mở rộng rồi có thể bổ túc hay thậm chí thay đổi toàn bộ hồ sơ sau khi nộp; thêm vào đó trong số 21 thành viên của Ủy Ban đương nhiệm [nhiệm kỳ 5 năm nên quyền hành c̣n kéo dài tới năm 2012] có đại diện của Nga và nhất là Trung Cộng và đàn em Bắc Hàn; Hà Nội gần như “muốn sao được vậy;” Hà Nội [và Bắc Kinh] biết rất rơ những điều trên đây nên đă và đang lợi dụng tối đa những lợi thế này để “hoàn tất” những ǵ 2 Đảng CS đă thỏa thuận ngầm từ bao năm nay. V́ thế, Đảng CSVN c̣n cầm quyền th́ Việt Nam [chí ít] sẽ mất và mất vĩnh viễn Hoàng Sa, Trường Sa và phần lớn Vịnh Bắc Việt vào tay bành trướng Bắc Kinh bằng chính Luật Biển LHQ.

 

 

[Dưới đây là tóm lược bài phân tích 2 hồ sơ của Hà Nội nộp Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa vào ngày 6 và 7/5/2009. Người viết thực hiện bài phân tích này vào đầu tháng 7/2009 [tức 1 tháng trước khi Ủy Ban Thềm Lục Địa khai mạc khoá họp 24 vào ngày 10/8/2009 và 5 tháng trước khi Ủy Ban phổ biến Thông Báo nói trên] để thuyết tŕnh tại 2 buổi Hội Luận “T́m Phương Cứu Nguy Đất Nước” do TS Nguyễn Thanh Liêm [cựu Thứ Trưởng Giáo Dục VNCH] tổ chức ở Little Sàig̣n, Thủ Đô của Người Việt Tị Nạn CS ở Hoa Kỳ, vào 2 ngày 25 và 26/7/2009, được trực tiếp truyền h́nh toàn Hoa Kỳ]

 

Nhận Định   

                                                                

1. Để có một nhận định chính xác về 2 hồ sơ của Hà Nội, trước hết cần lưu ư một số điều sau đây:

 

   -Ngày13/5/2009 là hạn kỳ chót để các nước ven biển nộp hồ sơ mở rộng thềm lục điạ đến tối đa 350 hải lư theo Luật Biển LHQ, không phải là ngày chót để xác định Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư.

   -Việc Hà Nội bỏ phí suốt 10 năm [từ 13/5/1999 đến 7/5/2009] và chỉ c̣n vài ngày là hết hạn mới nộp 2 hồ sơ là một dấu hiệu cần phải lưu ư.

   -Ai cũng biết hiện nay Đảng CSVN hoàn toàn lệ thuộc vào Đảng CSTH; do đó nếu không có sự đồng ư hay dàn dựng của Bắc Kinh th́ Hà Nội không khi nào dám nộp hồ sơ.

   -Trước khi Uỷ Ban nhóm họp, các nước hội viên Luật Biển LHQ đă họp trước, cũng tại trụ sở LHQ, để thông qua chương tŕnh khóa họp của Uỷ Ban.

   -Khoá họp 24 này của Ủy Ban sẽ không thể giải quyết hết hồ sơ mới cũ được v́ hồ sơ của Russia nộp từ 20/10/2001 mà ngày 1/6/2009 mới được giải quyết.

 

2. Theo Luật Biển LHQ, Vùng Đặc Quyền Kinh Tế rộng 200 hải lư thuộc chủ quyền tuyệt đối và đương nhiên của các nước ven biển, không cần phải đăng kư.

 

   -Nếu xảy ra tranh chấp ở vùng này th́ có thể nhờ Toà Án Quốc Tế Hamburg hay Toà Án Quốc Tế La Hague phân xử hoặc đưa ra trước Hội Đồng Bảo An LHQ nếu có xâm lăng.

   -Hà Nội kư Luật Biển ngày 10/12/1982, phê chuẩn ngày 25/7/1994, tức rất sớm tất biết rơ như trên. Khi Trung Cộng lấn chiếm Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư, bắn giết ngư dân VN hành nghề hợp pháp trong vùng và xâm lăng Trường Sa, Hà Nội có trách nhiệm phải đưa vấn đề ra trước các cơ quan thẩm quyền để phân xử, trừ khi đă thỏa thuận ngầm với Bắc Kinh nên Trung Cộng mới lộng hành như vậy.

   -Luật Biển LHQ rất phức tạp, ngoài 320 điều khoản, 9 phụ bản, c̣n có những thoả thuận riêng. Nếu việc ǵ Luật Biển LHQ không qui định th́ giải quyết theo tập tục và qui tắc tổng quát của Luật Quốc Tế.

   -Điều 8 Luật Biển LHQ qui định:

a. Đường căn-bản [baseline] là lằn nước thuỷ triều xuống thấp nhất tại các nước ven biển

b. Nội-hải [historic water] là vùng biển bên trong đường căn-bản

c. Lănh-hải [territorial sea] là vùng biển ngoài đường căn-bản, xưa là 3 hải lư, nay thường là 12 hải lư

d. Hải-phận [contiguous sea] là vùng biển 12 hải lư bên ngoài lănh-hải

e. Vùng đặc quyền kinh tế [exclusive economic zone] rộng 200 hải lư, tính từ đường căn-bản ra khơi

f. Thềm lục điạ [continental shelf] rộng 200 hải lư, cũng tính từ đường căn-bản ra khơi, có thể mở rộng đến 350 hải lư và gọi là Thềm Lục Địa mở rộng [extended continental shelf].

 

3. Biển Đông rộng gần 1 triệu 100 ngàn hải lư vuông, Vịnh Bắc Việt chiếm hơn 1/3 diện tích Biển Đông, VN nằm sát bên Biển Đông và bờ biển dài 3,260 km, trải qua 13 vĩ độ, từ vĩ độ 21 N đến vĩ độ 8 N.

 

   -V́ bờ biển VN rất dài [so với diện tích đất liền] nên Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư của VN có  diện tích gần gấp 2 diện tích 329,600 km2 đất liền. Nay nếu Thềm Lục Địa VN mở rộng ra 350 hải lư theo qui định của Luật Biển LHQ th́ lănh hải VN rộng gấp 4 lần đất liền và bao gồm luôn Hoàng Sa Trường Sa v́ khi đó hai quần đảo này nằm gần trọn trên Thềm Lục Địa “mở rộng” 350 hải lư của VN và lănh thổ và lănh hải VN sẽ rộng tới 1, 329,560 km2.

 

   -Nhóm đảo Hoàng Sa, Trường Sa chỉ có một phần nhỏ nằm cách bờ biển VN 200 hải lư, hầu hết các đảo của hai nhóm này đều nằm rất xa ngoài khơi, có nơi cách bờ biển VN tới 400 hải lư. Hà Nội biết  rơ điều này nên khi xác nhận thềm lục điạ VN 200 hải lư và không xin mở rộng ra 350 hải lư là phải có ư đồ? Hay đă đến lúc Bắc Kinh tăng tốc chiếm VN và buộc Hà Nội phải công khai hóa những ǵ đảng CSVN và CSTH đă thoả thuận ngầm từ lâu, như hiệp ước phân định lại Vịnh Bắc Việt 25/12/2000?

 

Hà Nội dâng Trường Sa cho Bắc Kinh qua hồ sơ nộp với Mă Lai ngày 6/5/2009?

 

1. Như đă nói trên, ngày 13/5/2009 là ngày chót để nộp hồ sơ mở rộng thềm lục địa đến tối đa 350 hải lư theo qui định của Luật Biển LHQ, không phải ngày xác định Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư. Nhưng hồ sơ ngày 6/5/2009 của Hà Nội không những không xin mở rộng thềm lục địa cho VN đến tối đa 350 hải lư mà VN có đầy đủ điều kiện để được hưởng mà chỉ xác nhận lănh hải VN có 200 hải lư và bản đồ kỹ thuật kèm theo hồ sơ th́ cố ư gạt hầu như toàn bộ nhóm đảo Trường Sa ra ngoài lănh hải VN.

 

                                         

  [Bản đồ  trong hồ sơ ngày 6/5/2009 của Hà Nội, đường ranh 200 hải lư của VN đụng tới Trường Sa]

 

  

2. Trung Cộng kư Luật Biển LHQ ngày 10/12/1982 và phê chuẩn ngày 7/6/1996 nhưng chưa bao giờ tôn trọng Luật Biển LHQ. Hơn thế nữai, Trung Cộng c̣n tự ban hành Luật Biển riêng và tự công bố bản đồ lưỡi ḅ chiếm 80% Biển Đông, bất chấp các qui định của Luật Biển LHQ.                                               

 

   -Bản đồ lưỡi ḅ lấn sát bờ biển VN, có nơi chỉ cách bờ biển VN 40 hải lư [tức vi phạm trầm trọng Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư của VN], chạy dài xuống tận đảo Natuma, Nam Dương, tức cách xa lục địa Trung Hoa khoảng 1000 hải lư, trong lúc Luật Biển LHQ qui định Thềm Lục Địa mở rộng không được vượt qúa 350 hải lư.

                                      

   -Trung Cộng chỉ cho đại diện tại LHQ gửi công hàm ngày 8/5/2009 cho Tổng Thư Kư LHQ để yêu cầu Ủy Ban không cứu xét hồ sơ của VN-Mă Lai. Kèm với công hàm là bản đồ lưỡi ḅ mà Trung Cộng biết rằng Uỷ Ban sẽ không thể nào chấp thuận được v́ nó không theo một qui tắc nào của Luật Biển LHQ cả.

 

3. Uỷ Ban Thềm Lục Địa LHQ không có thẩm quyền phân định ranh giới biển. Nguyên tắc của Uỷ Ban là khuyến khích các nước liên hệ tự giải quyết việc phân ranh với nhau. Nếu có tranh chấp giữa 2 hay nhiều nước th́ Uỷ Ban có thể không chấp thuận hồ sơ của cả 2 hay nhiều nước.  

   -Điều cần lưu ư ở đây là đường ranh giới 200 hải lư của Mă Lai mới thực sự lấn chiếm nhiều đảo của Trường Sa. Nên Trung Cộng phản đối hồ sơ 6/5/2009 là nhắm vào Mă Lai hơn là VN v́ đường ranh 200 hải lư VN không ảnh hưởng bao nhiêu đến Trường Sa nếu không muốn nói là không ảnh hưởng ǵ đến nhóm đảo này v́ hầu hết các đảo của Trường Sa đều nằm ngoài ranh giới 200 hải lư của VN. Trung Cộng phản đối ồn ào là để che đậy âm mưu “công khai hoá” và “hợp pháp hoá” hiệp ước 25/12/2000 trong đó Hà Nội đă lén lút dâng cho Bắc Kinh 20 ngàn km2 vùng Vịnh Bắc Việt và nay dâng Hoàng Sa qua hồ sơ ngày 7/5/2009.

   -Nới khác đi, hồ sơ 6/5/2009 chỉ là “diện” và hồ sơ 7/5/2009 mới là “điểm” v́ hồ sơ này liên quan tới Vịnh Bắc Việt và quần đảo Hoàng Sa và nhằm mục đích công khai hoá và hợp pháp hóa những ǵ đă dấu kín nhiều năm kể từ khi kư hiệp ước về Vịnh Bắc Việt 25/12/2000.

 

4. Tuy nhiên, vấn đề chưa hẳn kết thúc ở đây. Các nước liên hệ c̣n quyền đưa vấn đề ra trước Toà Án Quốc Tế chuyên về biển ở Hamburg, Đức-quốc hay Toà Án Quốc Tế ở La Hague, Hoà Lan.

    Đưa ra Toà Án Quốc Tế La Hague [1945] th́ cũng như không, chẳng giải quyết được ǵ v́ theo quy chế của Toà này th́ hai bên tranh tụng có quyền “không thi hành” phán quyết của Toà cho dù chính họ nhờ Toà phân xử. Trái lại, phán quyết của Toà Án Quốc Tế Hamburg [1996] chuyên về Luật Biển th́ có gía trị chung quyết và các bên tranh tụng phải chấp hành.

    Do đó, vấn đề là liệu Hà Nội có dám tiến tới hay không? Điều này rất khó xảy ra lúc này v́ ai cũng biết đảng CSVN hiện nay hoàn toàn lệ thuộc đảng CSTH. Bắc Kinh bảo sao th́ Hà Nội cúi đầu làm vậy.

 

Hà Nội âm mưu hợp pháp hoá hiệp ước 25/12/2000 qua hồ sơ ngày 7/5/2009

 

1. Ngày 7/5/2009, Hà Nội nộp Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa hồ sơ liên quan đến phía Bắc Biển Đông, tức liên quan đến Vịnh Bắc Việt và quần đảo Hoàng Sa. Tuy lời mở đầu hồ sơ này có nói Hoàng Sa và Trường Sa là của VN và nói tới việc mở rộng Thềm Lục Điạ VN ra ngoài 200 hải lư nhưng phần

                                                                                           

                                                                                                                                  

   

                                             Bản đồ trong hồ sơ 7/5/09 của Hà Nội-H́nh tam giác ngược                                                                   

                                đỉnh nhọn ở dưới, đáy nằm nghiêng ở trên, vĩ tuyến 15N067

 

chính văn bản cần xác định chủ quyền VN đối với Hoàng Sa hiện do Trung Cộng chiếm giữ bất hợp pháp bằng vơ lực, vi phạm Luật Biển LHQ, th́ Hà Nội không nói ǵ tới Hoàng Sa nữa và bản đồ kèm theo hồ sơ th́ rơ ràng là Hà Nội cố ư gạt Hoàng Sa ra ngoài đường ranh 200 hải lư của VN.

   -Đường ranh giới 200 hải lư của VN màu đỏ [trong bản đồ của hồ sơ 7/5/2009 trên đây] đi từ vĩ độ 10 N lên phía Bắc, khi gặp quần đảo Hoàng Sa ở vĩ độ 15 N th́ đột ngột dừng lại.

   -Đường vẽ trong bản đồ trên không chính xác. Hà Nội cố ư vẽ đường ranh 200 hải lư này nhô lên vĩ độ 16 N, trong lúc hồ sơ ghi rơ là đường ranh này dừng lại ở vĩ độ 15 N 067, tức chỉ nhô khỏi vĩ độ 15 N một chút, chứ không thể tới vĩ độ 16 N được. Đường ranh 200 hải lư của VN này dừng lại khi gặp Hoàng Sa..

   -Vùng biển Hà Nội xin mở rộng ra ngoài 200 hải lư trong hồ sơ 7/5/2009 có h́nh tam giác ngược, đỉnh rất nhọn phía dưới và ở vĩ tuyến 10 N 798, cạnh đáy hơi nghiêng nằm chếch ngang phía trên, cạnh phía Đông có đỉnh ở vĩ tuyến 15 N 067, và cạnh phía Tây với đỉnh ở vĩ tuyến khoảng 15 N 200.

   -Điều cần lưu ư là đỉnh h́nh tam giác ngược này nằm ở vĩ tuyến 10 N 798, cách rất xa quần đảo Trường Sa như cố tránh đụng nhóm đảo Trường Sa. Cạnh đáy nằm chếch ngang ở phía trên khi chớm đụng nhóm đảo Hoàng Sa là dừng lại ở vĩ tuyến 15 N 067, trong khi nhóm đảo Hoàng sa chỉ nằm từ vĩ độ 15 N này lên hết vĩ độ 17 N, tức cố ư gạt cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa ra ngoài vùng biển h́nh tam giác ngược mà Hà Nội nói là xin mở rộng cho VN.

   -Nói khác đi, vùng biển Hà Nội xin mở rộng ngoài 200 hải lư mang h́nh tam giác ngược chỉ là một vùng nước biển, dưới cố ư tránh đụng Trường Sa, trên cố né chạm Hoàng Sa, tức chẳng ảnh hưởng ǵ tới phần chính của hai quần đảo này hay có đụng chạm đôi chút đến quần đảo Trường Sa th́ cũng chỉ là một vài đụn hay đá không giá trị bao nhiêu.

 

   Tóm lại, tuy lời mở đầu hồ sơ 7/5/2009 có nói Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền của VN nhưng phần chính hồ sơ th́ lờ đi và đường ranh giới 200 hải lư th́ gạt Hoàng Sa ra ngoài Thềm Lục Điạ VN 200 hải lư với mưu toan xác định Hoàng Sa và Vịnh Bắc Việt đă được giải quyết qua hiệp ước lén lút phân định lại Vịnh Bắc Việt ngày 25/12/2000.

 

2. Hiệp ước phân định lại Vịnh Bắc Việt giữa Đảng CSVN và Đảng CSTH kư ngày 25/12/2000, cho đến nay vẫn được dấu kín nhưng dư luận đă ầm ĩ từ trong nước ra hải ngoại việc VN mất trên 11 ngàn km2 vùng Vịnh Bắc Việt. Đến khi 1 bản đồ trong hơ sơ mật của Hà Nội bị phát hiện th́ mọi ngưới mới hay Hà Nội đă hiến cho Bắc Kinh tới 20 ngàn km2 Vịnh Bắc Việt, không phải chỉ 11 ngàn km2.

   Trong số 21 điểm qui định trong bản đồ đính kèm hiệp ước 25/12/2000 [dưới đây], ngoại trừ điểm 1 nằm ở vĩ tuyến 21 độ Bắc, tức cửa sông Bắc Luân ở ranh giới tỉnh Móng Caí/VN và tỉnh Quảng Đông/TH, các điểm mốc từ số 2 đến số 21 đều lấn sâu vào bờ biển VN. Như điểm mốc 17 cách bờ biển VN 44 hải lư và cách Hải Nam 73 hải lư; tức sự phân chia vùng biển không đồng đều như Luật Biển qui định mà phía TH vượt trội phía VN tới 29 hải lư.

 

                                                

 

                     [Bản đồ Hà Nội trong hiệp-ước Phân Định lại Vịnh Bắc Việt 25/12/2000]

 

 

   Theo các nhà nghiên cứu và giới hiểu biết vấn đề th́ Hà Nội đă để cho Bắc Kinh lấy bằng hết vùng thủy tra thạch cửa sông Hồng VN, nơi có tiềm năng dầu khí.

 

3. Trước dư luận lên án đảng CSVN lén lút dâng biển cho đảng CSTH ngày càng dữ dội, ngày 28/1/2002 Lê Công Phụng -Thứ Trưởng Ngoại Giao và Trưởng Ban đàm phán về biên giới và phân định lại Vịnh Bắc Việt, lên tiếng thanh minh th́ lại lộ ra chẳng những Đảng CSVN đă bán nước cho Đảng CSTH từ lâu rồi mà chính Phụng cũng dối gạt dân chúng về cả Luật Biển LHQ.  

   Theo lời Phụng th́ chính TBT Đỗ Mười [năm 1993] và TBT Lê Khả Phiêu [1997] đă sang Bắc Kinh để “thoả thuận các nguyên tắc căn bản về biên giới và lănh hải” với TBT Giang Trạch Dân. Phụng c̣n dám dối gạt rằng y đă “căn cứ vào các qui định của Luật Biển LHQ và các nguyên tắc quốc tế và tập quán” trong lúc đàm phán với Bắc Kinh. Sự thực trái ngược hẳn lời Phụng tuyên bố và sau đây là vài thí dụ:

   -Theo Luật Biển LHQ, nếu 2 bên không thỏa thuận được với nhau th́ phân chia lănh hải theo “đường trung tuyến” [median line]. Đường trung tuyến trong trường hợp này là đường giữa đảo Bạch Long Vị của VN và đảo Hải Nam của TH; khoảng cách phải bằng nhau giữa 2 đảo này. Nhưng Phụng đă bất chấp điều luật này và chấp thuận đường phân chia cách Bạch Long Vĩ 15 hải lư và cách Hải Nam 55 hải lư, tức là phiá TH vượt trội phía VN 40 hải lư. Luật Biển LHQ cũng qui định đường trung tuyến phải chạy giữa 2 đường bờ biển hay giữa 2 giữa 2 đảo; Phụng đă bất chấp qui định này và chấp thuận đường truong tuyến giữa đảo Hải Nam với bờ biển VN, hy sinh luôn đảo Bạch Long Vĩ của VN.

   -Toà Án Quốc Tế, án lệ Lybia vs. Malta [1985], đă phán quyết đảo dù lớn đến đâu cũng không b́nh đẳng với lục địa được và không cho đảo Malta được có lănh hải bằng lục địa Lybia. Phụng đảo ngược Án Lệ Lybia khi cho đảo Hải Nam có lănh hải hơn hẳn lục địa VN.

 

   Theo giới am hiểu vấn đề th́ cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh đều không có một lư do nào để phân định lại Vịnh Bắc Việt. Hiệp ước Constans kư kết tại Bắc Kinh ngày 16/6/1887 giữa đại diện Pháp [đô hộ VN lúc đó] và đại diện nhà Thanh [đô hộ TH] vẫn c̣n hiệu lực và phù hợp với Luật Biển LHQ mà Hà Nội và Bắc Kinh đều đă kư kết. Ngày 12/11/1982, chính Hà Nội đă công bố lănh hải VN vùng Vịnh Bắc Việt phải theo hiệp ước 16/6/1887, tức 63% diện tích Vịnh Bắc Việt thuộc về VN. Bắc Kinh không chịu, buộc Hà Nội phải phân định lại vùng này và đảng CSVN đă cúi đầu khuất phục và lén lút kư hiệp ước 25/12/2000.

   Hậu qủa của hiệp ước 25/12/2000 là VN đi từ 63% diện tích cũ xuống c̣n 53%. Thực tế c̣n bi đát hơn nữa: Trung Hoa chiếm tới 55% và VN 45% là tối đa, tức VN mất 20% hay khoảng 20 ngàn km2 vùng Vịnh Bắc Việt và quần đảo Hoàng Sa vào tay Trung Cộng qua việc phân định lại Vịnh Bắc Việt. V́ mất mát quá nhiều như thế nên Hà Nội đă dấu kín hiệp ước suốt bao năm qua.

 

Đôi ḍng kết  luận

 

1. Với sự tiếp tay đắc lực của đảng CSVN, Bắc Kinh đang từng bước chiếm VN mà không cần phải động binh vừa hao người tốn của lại bị thế giới xúm vào lên án. Sau việc cho nhập cảnh không cần chiếu khán, đảng CSVN đă rước Trung Cộng vào ngồi ngay trên “mái nhà” VN giả danh khai thác bauxite bất chấp sự phản đối quyết liệt của người dân. Nay, lợi dụng việc xin mở rộng Thềm Lục Địa, đảng CSVN mưu toan dâng Trường Sa, Hoàng Sa và Vịnh Bắc Việt tức “nền nhà” VN cho Bắc Kinh qua hai hồ sơ nộp LHQ ngày 6 và 7/5/2009.  .

 

2. Đất nước đă đến bờ vực thẳm! Bắc Kinh đang chiếm VN bằng “diễn tiến hoà b́nh” với sự đồng loă công khai của Hà Nội và với đà này th́ VN sẽ lâm vào t́nh trạng Tân Cương và Tây Tạng một ngày không xa. Xin chớ nghĩ rằng VN từng bị ngàn năm Bắc-thuộc mà vẫn vùng lên giáng cho quân xâm lược những đ̣n chí tử v́ kẻ thù ngày nay thâm độc và tàn ác gấp ngàn lần; nh́n gương Tây Tạng và Tân Cương th́ rơ. Và cũng đừng ngây thơ mà trông chờ, tin tưởng vào bất cứ ai v́ chén đắng 30/4/1975 c̣n nguyên trước mặt.

 

3. Ngoại xâm đang ngang nhiên cấu kết với nội xâm và đang tăng tốc để thực hiện những bước cuối cùng chiếm trọn VN. Nếu đồng bào quốc nội không mau tỉnh giấc để nhận ra t́nh huống vô cùng nguy hiểm của chính ḿnh, người thân và dân tộc mà can đảm nhất loạt đứng lên th́ rồi đây sẽ rơi vào số phận đáng thương người Tây Tạng và Tân Cương! Nếu đồng hương hải ngoại không gạt bỏ tị hiềm phe phái, vô t́nh hay cố ư lôi kéo mọi người vào những việc làm tŕnh diễn hay chưa cần thiết và ngoảnh mặt làm ngơ trước t́nh thế cực kỳ mong manh của đất nước và dân tộc hiện nay th́ sẽ phải trả giá với lương tâm và với lịch sử một ngày không xa!

  

Ls Nguyễn Thành

Coordinator, “Justice & Peace Committeee for Paracel & Spratly Islands of Vietnam”

 

Tài liệu tham khảo:

-United Nations Convention on the Law of the Sea of 10 December 1982

-Joint Submission by Malaysia & VN- in the So.part of the So.China Sea and VN – in No. Area

-Vũ Hữu San, Địa Lư Biển Đông với HS-TS, 2007;

-Nguyễn Thành, Đưa Việt Cộng ra trước LHQ, Toà Án các Quốc Gia và Toà Án H́nh Sự Quốc Tế 2002?, tạp chí Tiếng Vang, Sacramento, Hoa Kỳ, số tháng 5 và tháng 6/2002.

 

Chú thích:

[1] 8 hồ sơ của Russia; Brazil; Australia; Ireland; New Zealand; hồ sơ chung của France, Ireland, Spain, United Kingdom; Norway; Mexico. [Hồ sơ về thềm lục địa của cựu Thủ Tướng VNCH Nguyễn Bá Cẩn không thấy liệt kê trong số 51 hồ sơ này].

 

[2] Nguyên văn điều 76 Luật Biển LHQ: “An Exclusive Economic Zone extends for 200 nautical miles [370km] beyond the baselines of the territorial sea, thus it includes the territorial sea and its contiguous zone. A coastal nation has control of all economic resources within its EEZ, including fishing, mining, oil exploration, and any pollution of those resources. However, it can’t regulate or prohibit passage or loitering above, on, or under the surface of the sea, whether innocent or belligerent, withinthat portion of its EEZ beyond its territorial sea.”

 

[3] Toà Án Quốc Tế chuyên về Luật Biển [International Tribunal for the Law of the Sea = ITLOS] do Luật Biển LHQ 1982 thiết lập, hoạt động từ năm 1996, trụ sở ở Hamburg, Đức, có quyền xét xử tranh chấp giữa các hội viên của Luật Biển LHQ và độc lập với LHQ hơn là Toà Án Quốc Tế La Hague.

    Toà Án Quốc Tế [International Court of Justice=ICJ] La Hague, Hoà Lan, thiết lập năm 1945 bởi LHQ. Đến nay, đă 54 năm nhưng Toà này chỉ xét xử được 144 vụ v́ quá lệ thuộc vào LHQ và nhất là “bất lực.”

 

[4] Nguyên văn điều 77 Luật Biển: “The continental shelf of a coast al nation extends out to the outer edge of the continental margin but at least 200 nautical miles from the baselines of the territorial sea margin does not stretch that far. The outer limit of a country’s continental shelf shall not stretch beyond 350 nautical miles of the baseline, or beyond 100 miles nautical miles from the 2,500 meter isobath.