Kính Dâng

 

HỒN THIÊNG SÔNG NÚI

D̉NG GIỐNG RỒNG TIÊN

 

QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG LẬP QUỐC

ANH THƯ HÀO KIỆT ĐỜI ĐỜI BẢO QUỐC AN DÂN

 

ĐẠI VIỆT NAM    

 

NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ

TIỆT NHIÊN ĐỊNH PHẬN TẠI THIÊN THƯ

NHƯ HÀ NGHỊCH LỖ LAI XÂM PHẠM

NHỮ ĐẲNG HÀNH KHAN THỦ BẠI HƯ !

 

LƯ THƯỜNG KIỆT

    

 

       Sông núi trời Nam của nước Nam

       Sách trời định rơ tự muôn ngàn

       Cuồng ngông giặc dữ vào xâm lấn

       Rước lấy bại vong  lấy nhục nhằn !

 

                           PHẠM TRẦN ANH

                                    cẩn dịch

 

 

DI CHÚC MUÔN ĐỜI !

                  

"Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. V́ rằng họ cho ḿnh cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, th́ gậm nhấm ta.


Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn
:

 

" Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau."

 

Quá khứ là gốc rễ của tương lai, rễ càng đâm sâu th́ cây mới vững vàng và càng vươn cao.

 

TRẦN NHÂN TÔN

(1279-1293)

 

TỔ QUỐC LÂM NGUY

 

 

     Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm nổi trôi của vận nước từ khi lập quốc đến ngày nay. Trong suốt tiến tŕnh lịch sử Việt, Hán tộc là một kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Ngay từ thời lập quốc, triều Thương khởi đầu của Hán tộc đă đánh đuổi Việt tộc, chiếm cứ địa bàn cư trú của Việt tộc ở hạ lưu sông Hoàng Hà để thành lập triều đại Thương, mở đầu lịch sử Trung Quốc.

 

    Dân tộc Việt đă trải qua hàng ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch văn hóa ngoại lai của chủ nghĩa CS. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc luôn luôn chủ trương xâm lược tiêu diệt Việt tộc bằng mọi giá, ngay cả sau khi Việt tộc đă giành lại độc lập tự chủ. Các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều đem quân xâm lược Việt Nam nhưng đều bị quân dân ta đánh cho tan tành không c̣n manh giáp. Thế nhưng Hán tộc vẩn luôn t́m cách xâm lấn nước ta mỗi khi nội t́nh chúng ta chia rẽ khiến tiềm năng đất nước suy yếu.

 

     Bản chất xâm lược của Hán tộc trước sau như một, từ Hán tộc du mục xâm lược xa xưa và Trung Cộng bành trướng ngày nay vẫn t́m cách xâm lấn đất đai, biển cả của chúng ta.

 

    Chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử của Ngô Quyền năm 938 đă mở đầu một thời kỳ Độc lập tự chủ của dân tộc. Sau hơn một ngàn năm độc lập với các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lư , Trần, Lê, Nguyễn th́ thực dân Pháp lại vào xâm chiếm nước ta. Vận mệnh dân tộc Việt trải qua nhiều thăng trầm dâu bể, hết gần một ngàn năm chịu nô lệ của giặc Tàu lại đến trăm năm đô hộ của giặc Tây.

 

     Trong khi toàn dân đang đấu tranh giành lại độc lập dân tộc th́ đảng CSVN đă núp dưới danh nghĩa kháng chiến, lợi dụng ḷng yêu nước của toàn dân đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp để bành trướng chủ nghĩa CS, đưa dân tộc vào thế khốn cùng nhất trong lịch sử.

 

     Chúng ta cùng nh́n lại những diễn biến lịch sử cận đại để hiểu rơ hơn về những ǵ đă và đang ảnh hưởng tới vận mệnh của dân tộc và đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.

 

- Ngày 14 tháng 1 năm 1950, Trung Cộng công nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa là thành tŕ công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Sau đó, ngày 31 tháng 1 năm 1950, Liên Xô công nhận VNDCCH. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa chính thức đứng vào hệ thống Xă hội chủ nghĩa đối đầu với thế giới Tự do.

 

- Ngày 7 tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ, Anh công nhận chính phủ Quốc gia do Đức Quốc Trưởng Bảo Đại lănh đạo. Cuộc chiến Việt Nam đă chuyển sang một cuộc đối đầu quyết liệt giữa chủ nghĩa Cộng sản do Liên Sô chỉ đạo và Thế giới tự do do Hoa Kỳ lănh đạo.

 

- Năm 1954, Trung Cộng chỉ thị cho VNDCCH kư hiệp định Genève chia đôi đất nước ngày 20-7-1954.

 

- Năm 1956, Trung Cộng đánh chiếm đảo Tuyên Đức phía Đông của quần đảo Ḥang Sa lănh thổ VNCH.

 

- Ngày 15 tháng 6 năm 1956, Thứ trưởng ngoại giao VNDCCH, Ung văn Khiêm nói với Đại lư sự vụ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) là Li Zhimin rằng: “Về phương diện lịch sử, Hoàng Sa và Trường Sa là một phần đất của Trung Hoa”.

- Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Trung Cộng tuyên bố quyền làm chủ biển Đông.

 

- Ngày 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng VNDCCH Phạm văn Đồng gửi công hàm cho Chu Ân Lai, Tổng lư Sự vụ CHNDTH công nhận Hoàng sa Trường sa thuộc lănh thổ Trung Hoa.

 

- Sau khi Trung Cộng đánh chiếm Tây Tạng năm 1959. Đảng CSVN nhận chỉ thị thành lập Mặt trận Giải phóng miền Nam ngày 20 tháng 12 năm 1960.

 

- Ngày 19 tháng 1 năm 1974, TC đánh chiếm nốt khu Nguyệt Thiềm phía Tây quần đảo Hoàng Sa do quân lực VNCH trấn giữ. Việt Nam Cộng ḥa ra Tuyên cáo về chủ quyền của Việt Nam Cộng ḥa trên những đảo ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam.

 

- Ngày 14-3-1988, Hải quân Trung Cộng huy động toàn bộ hạm đội Nam Hải tấn công xâm chiếm 6 đảo trong quần đảo Trường Sa. Hải quân TC đánh ch́m 3 Hải vậm hạm của Hải quân CHXHCNVN, 64 lính hải quân hy sinh mà nhà nước CHXHCNVN giấu nhẹm sự kiện bi thảm này. Hai mươi năm sau 14-3-2008 mới làm lễ truy điệu cho những người lính vô tội đă anh dũng hy sinh để bảo vệ đất nước này.

 

- Năm 1992, Trung Cộng chiếm thêm 4 đảo và dựng cột mốc trên đảo Đa Lạc của VN.

 

- Tháng 2 năm 1992, Quốc hội TC ban hành đạo luật tuyên bố chủ quyền. Tất cả tàu bè kể cả tàu chiến và tàu nghiên cứu khoa học đi qua phải xin phép, nếu không sẽ bị đánh ch́m.

 

- Tháng 5-1992, TC kư khế ước với công ty khai thác dầu Crestone trên 1 diện tích 25.000 cây số vuông.

 

- Ngày 25 tháng 12 năm 1999, Lê Khả Phiêu TBT đảng CSVN và Trần Đức Lương, chủ tịch nước CHXHCNVN đi Bắc Kinh kư kết Hiệp ước phân định biên giới. Hiệp ước này chính thức nhượng một phần lănh thổ thuộc Ải Nam Quan, một nửa thác Bản Giốc và nhiều dăy núi thuộc Hà Giang, Lạng Sơn.

 

- Ngày 30 tháng 12 năm 2000, nhà nước CSVN kư kết 2 hiệp ước phân định vùng vịnh Bắc Việt và Hợp tác nghề đánh bắt cá. Với 2 hiệp ước này, Trung Quốc chính thức khai thác tài nguyên hơn 11 ngàn cây số vuông trong vùng vịnh Bắc Việt.

 

- Tháng 6 năm 2007, Trung Cộng phổ biến một bản đồ vẽ biển Đông của Việt Nam bao gồm cả Hoàng Sa Trường Sa là lănh hải mới của Trung Cộng.

 

- Tháng 11 năm 2007, Trung Cộng chính thức công bố quyết định thành lập Huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản lư 2 quần đảo này th́ Thủ Tướng CHXHCNVN Nguyễn tấn Dũng kư giấy phép chính thức cho Trung Cộng độc quyền khai thác bauxite và sản xuất nhôm tại Lâm Đồng và Đắc Nông ở Cao nguyên. Vùng đất này được dành riêng cho TC, người Việt không được lai văng v́ lư do an ninh !!!

 

- Ngày 12 tháng 12 năm 2007 sau khi Bắc Kinh phàn nàn về việc thanh niên sinh viên Việt Nam biểu t́nh chống TC xâm lược, Tổng Bí thư đảng CSVN Nông Đức Mạnh lại khúm núm bày tỏ tấm ḷng khuyển mă của những tên Thái thú xác Việt hồn Tàu với lănh đạo Bắc Kinh: “V́ t́nh hữu nghị đời đời bền vững với Trung Quốc, lănh đạo Việt Nam sẵn sàng hiến dâng tất cả …”.

 

     Vấn đề hiệp định phân chia lănh thổ và lănh hải đang gây nhức nhối cho tất cả những người Việt Nam yêu nước th́ ngày 1 tháng 11 năm 2007, Nguyễn Tấn Dũng đặt bút kư cho phép Trung Quốc khai thác bauxite th́ cao nguyên Lâm Đồng đă chính thức trở thành một “Tô giới” của Trung Cộng. Với cả một vùng cao nguyên rộng bao la lại do người của TC quản lư nên Trung Quốc dùng trăm ngàn cách để tuồn vũ khí vào cất giấu sẵn một cách dễ dàng. Hàng ngàn công nhân TQ sẽ trở thành hàng ngàn tay súng cùng với hàng chục ngàn du khách Trung Quốc có mặt ở Việt Nam bất cứ lúc nào th́ đến một thời điểm nào đó, Trung Cộng sẽ có cả chục sư đoàn Hồng quân chiếm giữ cao nguyên, khống chế chia cắt Việt nam ra từng mảnh.

 

      Tất cả người Việt Nam yêu nước chúng ta đều nh́n thấy ư đồ thâm độc của Tầu Cộng qua những bước chiến lược núp dưới vỏ bọc hợp tác phát triển kinh tế của chúng. Ngay cả một viên tướng cộng sản Nguyễn Trọng Vĩnh đă từng làm đại sứ ở Bắc Kinh, trước nguy cơ mất nước cũng đă lên tiếng cảnh báo:

 

Điều đáng lo hơn cả là an ninh quốc gia. Chúng ta đều biết TQ đă xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam… không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là để đe dọa VN và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đă nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài G̣n.

 

    Nay lại để TQ khai thác bauxite ở Tây Nguyên th́ sẽ có năm, bảy ngh́n hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ h́nh thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào th́ không khó ǵ). Phía Bắc nước ta, trên biển, (TQ) có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta (TQ) có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ, th́ độc lập chủ quyền mà chúng ta đă phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?! Đảng cộng sản sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước lịch sử và nhân dân”.

 

      Thực tế lịch sử đă cho chúng ta thấy rơ vai tṛ Địa lư chiến lược và địa lư chính trị của vùng cao nguyên này. Bán đảo Đông Dương với cao nguyên Boloven nằm giữa 3 quốc gia Việt Miên Lào, trải dài xuống cao nguyên Trung phần Việt Nam. Chính v́ vậy, cao nguyên được xem như “yết hầu của Việt Nam”, nắm được cao nguyên sẽ khống chế Việt Nam nói riêng và 3 nước Việt Miên Lào nói chung một cách dễ dàng. Tất cả những thế lực quốc tế đều quan tâm đặc biệt đến cao nguyên không chỉ ở vai tṛ chiến lược của nó, mà dưới ḷng đất cao nguyên c̣n tiềm tang một trữ lượng Uranium cần thiết cho vũ khí nguyên tử. Chính v́ vậy, các thế lực quốc tế c̣n lợi dụng yếu tố sắc tộc cư trú trên vùng đất này là đồng bào Chàm và đồng bào Thượng bản địa, để phân hóa và khống chế chủ quyền dân tộc của Việt Nam để thực hiện mưu đồ của họ.

 

     Gần đây, tổ chức The Cham National Federation of Cambodia (CNFC) đă được Liên Hiệp Quốc công nhận dưới qui chế “Deparment of Economic and Social Affaires” viết tắt là DESA kể từ năm 2009. Tổ chức The Overseas Cham Unity Organisation thành lập chính phủ lưu vong Chăm (Cham’s Government in Exile). Chính phủ Chăm lưu vong định ra mắt tại Hải Nam TQ nhưng thấy bất lợi nên ra mắt tại Thụy Điển. Điều này cho thấy đế quốc mới Trung Cộng đă tạo dựng ra tổ chức này để phục vụ cho ư đồ khống chế Việt Nam trong lănh vực kinh tế, quân sự và chính trị qua việc kiểm soát vùng cao nguyên Trung phần.

 

     Trung Cộng sẽ lợi dụng ưu thế của một cường quốc có chân trong Hội đồng Bảo An LHQ để vận động một qui chế tự trị cho 2 sắc dân này, biến vùng nầy thành một vùng "ảnh hưởng" lệ thuộc Trung Quốc. Một khi đă làm chủ cao nguyên, đế  quốc mới của thời đại sẽ  từng bước biến Việt, Miên, Lào thành một tỉnh của Trung Quốc theo thời gian để khai thác tài nguyên uranium và  mở con đường chiến lược xuống eo biển Malacca.

 

     Ngày 13 tháng 5 năm 2009, nhà nước CHXHCNVN dă nạp hồ sơ thềm lục địa tại Liên Hiệp Quốc không bảo vệ quyền lợi của Việt Nam mà chỉ là một văn kiện hợp thức hóa trước Liên Hiệp Quốc việc nhường biển cho Trung Cộng.

 

    Chúng ta đang đứng bên bờ vực thẳm của nguy cơ mất nước !!! Chúng ta sẽ trở lại thời “ngàn năm đô hộ giặc Tàu”?

 

     Lịch sử của ngàn năm Hán thuộc với những đau thương tủi nhục, những u uất căm hờn lại tái diễn trên đất Việt, chúng không bắt dân ta phải lên rừng t́m ngà voi, xuống biển ṃ ngọc trai nữa mà tinh vi hơn, thâm độc qủi quái hơn ngàn lần.

 

      Mới đây, Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Trung Quốc  trong thực tế là “Thứ sử Đại Hán” lên Biện Biên Phủ để truy điệu các “Liệt sĩ Trung Cộng” và xây dựng nghĩa trang Liệt sĩ Trung Cộng trên đất nước Việt Nam. Sau đó, nhà nước CHXHCNVN đă kư quyết định thành lập Viện Khổng Tử để tuyên truyền rao giảng văn hóa Hán nhằm nô dịch Hán hóa Việt Nam.

 

    Để thực hiện ư đồ xâm thực văn hóa, sau khi hoàn tất việc cắm cột mốc dâng đất và nộp hồ sơ trước Liên Hiệp Quốc để nhường biển th́ Trung Cộng chính thức viện trợ cho không 30 triệu đô la để xây kư Túc xá cho trường đảng và 350 triệu đô la xây cung Hữu Nghị Việt Trung đồ sộ đầy đủ tiện nghi sinh hoạt văn hóa, thể thao giải trí để lôi cuốn nô dịch giới trẻ Việt Nam trong những sinh hoạt văn hóa văn nghệ, lễ hội, phim ảnh, thể thao để rồi thuộc lịch sử TQ hơn lịch sử Việt, tự nhận ḿnh là “Nam tử Hán” quên đi ḿnh là người Việt, tự ḿnh Hán hóa ḿnh. Đó là nguy cơ lớn nhất của dân tộc Việt hôm nay!

 

     Đây là một âm mưu xâm thực văn hóa hết sức thâm độc. Viện Khổng Tử để truyền bá tư tưởng văn hóa “Đại Hán”, xây kư túc xá để đào tạo quan chức CSVN mà trong thực chất là các quan thái thú, đảng viên của đảng CS Trung Quốc cai trị dân ta bằng một chính sách thực dân kiểu mới.

 

     Bài học lịch sử cho chúng ta thấy rằng, siêu đế quốc Trung Cộng chỉ mới xâm chiếm Tây Tạng từ năm 1959 đến nay mới có một nửa thế kỷ mà Đức Đạt lai Lạt Ma của Tây Tạng đă ngậm ngùi cay đắng thốt lên: “Tôn giáo, văn hóa, ngôn ngữ và nhân cách của các thế hệ Tây Tạng, vốn qúi gía hơn mạng sống của họ, nay đă gần như bị tiêu diệt ! Đảng cộng sản và nhà nước Trung Cộng đă biến Tây Tạng thành một “Địa ngục trần gian”!!!

 

    Tất cả đồng bào Việt Nam chúng ta, trong và ngoài nước phải làm ǵ trước khi đă quá muộn? Việt Nam thân yêu của chúng ta sẽ trở thành một Tây Tạng, một Tân Cương thứ hai trong thế kỷ 21 này…???

 

Tổ quốc lâm nguy …

Sơn Hà Nguy Biến …

 

Chúng ta đang đứng bên bờ vực thẳm của nguy cơ mất nước không xa !!!

 

Toàn dân nghe chăng ???

Sơn Hà Nguy Biến !!!

  

 

 

TOÀN  DÂN

NGHE CHĂNG ..?    

SƠN HÀ …

NGUY BIẾN !!!

 

  

 Hơn ¾ thế kỷ tính từ ngày thành lập, đảng CS Việt gian đă đưa dân tộc Việt vào thế khốn cùng nhất trong lịch sử  Việt. Tập đoàn Việt gian CS đă đem lại hậu quả nặng nề cho dân tộc Việt Nam trên nhiều phương diện. Hàng triệu đồng bào Việt Nam đă hy sinh cho sự bành trướng của chủ nghĩa CS, hàng triệu đồng bào đă phải bỏ nước ra đi t́m tự do. Một đất nước Việt Nam độc tài toàn trị, nghèo nàn chậm tiến nhất thế giới đang từng bước trở thành một Tây Tạng thứ hai trong lịch sử.

 

      Bộ mặt thật “Hại dân bán nước” của tập đoàn “Xác Việt hồn Tàu” đă phơi bầy khi dâng đất nhường biển cho quan thầy Trung Cộng.Trong lịch sử Việt, gian hùng Hồ Chí Minh, một Lê Chiêu Thống của thời đại và đảng cộng sản Việt Nam là kẻ măi quốc cầu vinh, cam tâm bán nước, phản bội công lao của tiền nhân bao đời dựng nước và giữ nước đáng khinh miệt nhất.

      Việt Nam đang đứng bên bờ vực thẳm của suy vong, nguy cơ mất nước cận kề. Đây là thời kỳ đau thương ô nhục nhất trong lịch sử dân tộc Việt. Thật bất hạnh cho cả một dân tộc khi một tập đoàn Việt gian “Xác Việt hồn Tàu”, bọn Thái thú thời đại đă cam tâm bán nước để duy tŕ địa vị thống trị tha hồ bóc lột vơ vét tài sản của nhân dân.

      Chưa bao giờ hiểm họa mất nước lại đè nặng lên con tim khối óc của những người Việt Nam yêu nước như bây giờ.

      Đế quốc Trung Cộng ngày nay tiếp tục theo đuổi chủ trương trước sau như một của “Đại Hán” bành trướng là quyết tâm xâm lược Việt Nam và các nước khác. Ngay sau khi chiếm được Trung Hoa lục địa năm 1949, Mao Trạch Đông đă công khai tuyên bố:

 

"Tất cả các lănh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đă bị phe Đế Quốc chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Cách Mạng 1911, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam(1) Hồng Kông, Macao cùng những đảo tại Thái B́nh Dương như Sakhalin, Đài Loan, Bành Hồ sẽ phải được giao hoàn cho Trung Quốc".

 

      Cuốn Sơ Lược Lịch Sử Trung Quốc hiện đại chép nguyên văn lời tuyên bố láo xược ngang ngược của Mao Trạch Đông: “sẽ vĩnh viễn thuộc về Trung Quốc bằng sự chinh phục và khai hóa của văn minh chống man di”(2).

 

      Mao Trạch Đông đă không giấu diếm ư đồ thôn tính Việt Nam:

 

Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả Miên, Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore.Việt Nam là bàn đạp tiến xuống phía Nam, chúng ta phải chiếm cho bằng được …”(3).

 

      Chúng c̣n ngang nhiên vẽ bản đồ Trung Quốc bao gồm nhiều nước chung quanh kể cả Đông Nam Á và biển Đông.

 

 

      Để thực hiện ư đồ xâm chiếm toàn vùng Đông Nam Á, đế quốc Trung Cộng đă:

 

- Công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa ngày 14-1-1950. Viện trợ ồ ạt vũ khí hạng nặng cho CSVN và gửi các phái đoàn cố vấn chính trị và quân sự sang điều khiển CSVN.

 

- Mao Trạch Đông đă đề ra “Chiến lược Trường Sơn” năm 1953 và giao cho tướng hồng quân Vi Quốc Thanh, cố vấn trưởng quân sự TQ tại VN thi hành.

 

- Chiếm Tây Tạng năm 1959.

 

- Chỉ thị cho CSVN thành lập Mặt trận Giải phóng miền Nam ngày 26 tháng 12 năm 1960.

 

- Đem quân đánh chiếm nốt khu Nguyệt Thiềm phía Tây quần đảo Ḥang Sa do quân lực VNCH trấn giữ

 

- Ngày 19 tháng 1 năm 1974, TC đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH.

 

- Hải quân TC đánh chiếm 6 đảo thuộc quần đảo Trường Sa năm 1988.

 

- Chiếm thêm 4 đảo và dựng cột mốc trên đảo Đa Lạc của VN năm 1992. Tháng 2 năm 1992, Quốc hội TC ban hành đạo luật tuyên bố chủ quyền. Tất cả tàu bè kể cả tàu chiến và tàu nghiên cứu khoa học đi qua phải xin phép, nếu không sẽ bị đánh ch́m. Tháng 5-1992, TC kư khế ước với công ty khai thác dầu Crestone trên 1 diện tích 25.000 cây số vuông.

 

- Tháng 6 năm 2007, Trung Cộng phổ biến một bản đồ vẽ biển Đông của Việt Nam bao gồm cả Hoàng Sa Trường Sa là lănh hải mới của TC.

 

- Tháng 11 năm 2007, Trung Cộng chính thức công bố quyết định thành lập Huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản lư 2 quần đảo này.

 

      Ư đồ xâm chiếm Việt Nam của Trung Cộng được tập đoàn Việt gian bán nước thực hiện từng bước một. Ngày 26 tháng 12 năm 1960, Cộng sản Việt Nam chính thức thành lập cái gọi là “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam” theo chỉ thị của Trung Cộng. Đây là chứng cớ rơ ràng nhất vạch trần chiêu bài “Giải phóng dân tộc” của tập đoàn Việt gian Cộng sản bán nước. Hồ Chí Minh, cán bộ của đệ tam quốc tế cộng sản lănh nhiệm vụ bành trướng chủ nghĩa cộng sản xuống phương Nam, đánh chiếm miền Nam Việt Nam mở đường thông thương ra biển Nam cho đế quốc Trung Cộng. Tập đoàn Việt gian bán nước đă từng bước thực hiện ư đồ dâng đất nhường biển cho quan thầy Trung Cộng như sau:

 

Ngày 14 tháng 1 năm 1950, Trung Cộng công nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa là thành tŕ công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Ngày 21 tháng 1 năm 1950, Liên Xô công nhận VNDCCH.(3)

 

Năm 1954, Trung Cộng chỉ thị cho VNDCCH kư hiệp định Genève chia đôi đất nước ngày 20-7-1954.

 

Năm 1956, Trung Cộng đánh chiếm đảo Tuyên Đức phía Đông của quần đảo Ḥang Sa.

 

Ngày 15 tháng 6 năm 1956, Thứ trưởng ngoại giao VNDCCH, Ung văn Khiêm nói với Đại lư sự vụ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) là Li Zhimin rằng: “Về phương diện lịch sử, Hoàng Sa và Trường Sa là một phần đất của Trung Hoa”.

 

Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Trung Cộng tuyên bố Trung Cộng là chủ biển Đông.

 

- Ngày 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng VNDCCH Phạm văn Đồng gửi công hàm cho Chu Ân Lai, Tổng lư Sự vụ CHNDTH công nhận Hoàng sa Trường sa thuộc lănh thổ Trung Hoa.

 

- Sau khi Trung Cộng đánh chiếm Tây Tạng năm 1959. CSVN thành lập Mặt trận Giải phóng miền Nam năm 1960 theo chỉ thị của Trung Cộng.

 

- Ngày 19 tháng 1 năm 1974, TC đánh chiếm nốt khu Nguyệt Thiềm phía Tây quần đảo Hoàng Sa do quân lực VNCH trấn giữ.

 

- Năm 1988, Hải quân TC đánh chiếm 6 đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

 

- Năm 1992, chiếm thêm 4 đảo và dựng cột mốc trên đảo Đa Lạc của VN. Tháng 2 năm 1992, Quốc hội TC ban hành đạo luật tuyên bố chủ quyền. Tất cả tàu bè kể cả tàu chiến và tàu nghiên cứu khoa học đi qua phải xin phép, nếu không sẽ bị đánh ch́m.

 

- Tháng 5-1992, TC kư khế ước với công ty khai thác dầu Crestone trên 1 diện tích 25.000 cây số vuông.

 

- Ngày 25 tháng 12 năm 1999, Lê Khả Phiêu TBT đảng CSVN và Nguyễn Đức Lương, chủ tịch nước CHXHCNVN đi Bắc Kinh kư kết Hiệp ước phân định biên giới. Hiệp ước này chính thức nhượng một phần lănh thổ thuộc Ải Nam Quan, một nửa thác Bản Giốc và nhiều dăy núi thuộc Hà Giang, Lạng Sơn.

 

- Ngày 30 tháng 12 năm 2000, nhà nước CSVN kư kết 2 hiệp ước phân định vùng vịnh Bắc Việt và Hợp tác nghề đánh bắt cá. Với 2 hiệp ước này, tập đoàn CS Việt gian đă nhượng hơn 11 ngàn cây số vuông trong vùng vịnh cho Tầu Cộng và cho Tầu Cộng vào khai thác tài nguyên trong vịnh Bắc Việt.

 

- Tháng 6 năm 2007, Trung Cộng phổ biến một bản đồ vẽ biển Đông của Việt Nam bao gồm cả Hoàng Sa Trường Sa là lănh hải mới của TC.

 

- Tháng 11 năm 2007, Trung Cộng chính thức công bố quyết định thành lập Huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản lư 2 quần đảo này th́ Nguyễn tấn Dũng kư giấy phép chính thức cho Trung Cộng khai thác bauxite và sản xuất nhôm tại Lâm Đồng và Đắc Nông ở Cao nguyên. Vùng đất này dành riêng cho TC, người Việt không được lai văng v́ lư do an ninh !!! Đây là một h́nh thức “nhượng địa”, một “Tô Giới Trung Hoa” trên đất nước Việt Nam !!!

 

 

      Ngày 12 tháng 12 năm 2007 sau khi Bắc Kinh phàn nàn về việc thanh niên sinh viên Việt Nam biểu t́nh chống TC xâm lược, Nông Đức Mạnh lại khúm núm bầy tỏ tấm ḷng khuyển mă của tập đoàn Việt gian Cộng sản: “V́ t́nh hữu nghị đời đời bền vững với Trung Quốc, lănh đạo Việt Nam sẵn sàng hiến dâng tất cả …”

 

      Khi Trung Cộng công khai thành lập huyện Tam Sa để quản lư Hoàng Sa và Trường Sa th́ Việt gian CS cũng phản đối lấy lệ để che mắt nhân dân. Trước hành động ngang nhiên xâm lược của Trung Cộng, bất chấp căm hờn sục sôi của toàn dân trong và ngoài nước, tập đoàn cộng sản Việt gian bán nước lại trâng tráo tổ chức lễ mừng “Bán nước thành công tốt đẹp !!!”. Tập đoàn Việt gian cộng sản lại cho xuất bản hồi kư của một tên tướng Tầu Cộng trong cuộc chiến 1979 rồi cử phái đoàn đến đặt ṿng hoa “Đời đời nhớ ơn liệt sĩ Trung Cộng”… là những kẻ đă thẳng tay giết hại dân lành từ trẻ em đến cụ ǵa trăm tuổi. Lê Chiêu Thống, Mạc Đăng Dung có sống lại cũng phải cúi đầu bái phục trước thái độ trâng tráo, vô liêm sỉ, đốn mạt và hèn hạ của tập đoàn Việt gian bán nước: đảng Cộng sản Việt Nam.

 

      Mới đây tên Thứ sử ”Đại Hán” với danh nghĩa Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Trung Quốc lên Biện Biên Phủ để truy điệu các “Liệt sĩ Trung Cộng” và xây dựng nghĩa trang Liệt sĩ Trung Cộng trên đất nước Việt Nam. Sau đó, tập đoàn Việt gian bán nước kư quyết định thành lập Viện Khổng Tử để tuyên truyền rao giảng văn hóa Hán nhằm nô dịch Hán hóa Việt Nam.

 

      Bài học lịch sử cay đắng đầy máu và nước mắt của cái gọi là “Di tản chiến thuật” năm 1975 đă cho chúng ta thấy rơ vai tṛ Địa lư chiến lược và địa lư chính trị của vùng cao nguyên này. Bán đảo Đông Dương với cao nguyên Boloven nằm giữa 3 quốc gia Việt Miên Lào, trải dài xuống cao nguyên Trung phần Việt Nam. Chính v́ vậy, cao nguyên được xem như “yết hầu của Việt Nam”, nắm được cao nguyên sẽ khống chế Việt Nam nói riêng và 3 nước Việt Miên Lào nói chung một cách dễ dàng. Tất cả những thế lực ngoại lai đều quan tâm đặc biệt đến cao nguyên không chỉ ở vai tṛ chiến lược của nó, mà c̣n lợi dụng yếu tố sắc tộc cư trú trên vùng đất này là đồng bào Chàm và đồng bào Thượng bản địa, để phân hóa và khống chế chủ quyền dân tộc của Việt Nam(3).

 

     Gần đây, tổ chức The Cham National Federation of Cambodia (CNFC) đă được Liên Hiệp Quốc công nhận dưới qui chế “Deparment of Economic and Social Affaires” viết tắt là DESA kể từ năm 2009. Tổ chức The Overseas Cham Unity Organisation thành lập chính phủ lưu vong Chăm (Cham’s Government in Exile). Chính phủ Chăm lưu vong định ra mắt tại Hải Nam TQ nhưng thấy bất lợi nên ra mắt tại Thụy Điển. Điều này cho thấy đế quốc mới Trung Cộng đă tạo dựng ra tổ chức này để phục vụ cho ư đ khống chế Việt Nam trong lănh vực kinh tế, quân sự chính trị qua việc kiểm soát vùng cao nguyên Trung phần(4).

 

     Trung Cộng sẽ lợi dụng ưu thế của một cường quốc có chân trong Hội đồng Bảo An LHQ để vận động một qui chế tự trị cho 2 sắc dân này, biến vùng nầy thành một vùng "ảnh hưởng" lệ thuộc Trung Quốc. Một khi đă  làm chủ  cao nguyên, đế  quốc mới của thời đại sẽ  từng bước biến Việt, Miên, Lào thành một tỉnh của Trung Quốc theo thời gian.

 

     Ngày 1 tháng 11 năm 2007, Nguyễn Tấn Dũng đặt bút kư cho phép Trung Quốc khai thác bauxite th́ cao nguyên Lâm Đồng đă chính thức trở thành một “Tô giới” của Trung Cộng. Vùng tô giới này giao cho một tên tướng CS trong bộ chính trị đảng CSVN, người của TC phụ trách để TC có thể dùng đường hàng không tuồn vũ khí vào cất giấu sẵn. Hàng ngàn công nhân TQ sẽ trở thành hàng ngàn tay súng cùng với hàng chục ngàn du khách Trung Quốc có mặt ở Việt Nam bất cứ lúc nào th́ đến một thời điểm nào đó, Trung Cộng sẽ có cả chục sư đoàn Hồng quân chiếm giữ cao nguyên, khống chế chia cắt Việt nam ra từng mảnh.

 

     Để thực hiện ư đồ này, Trung Cộng đă lần lượt thực hiện lộ tŕnh chín bước chiến lược tiến chiếm Việt Nam, Đông Dương và cả vùng Đông Nam Á như sau:

 

1. Lập kế hoạch và viện trợ cho tập đoàn Việt gian CS thực hiện công tŕnh xây dựng xa lộ Trường Sơn trong “Chiến lược Trường Sơn” của Mao Trạch Đông đề ra năm 1953.

 

2. Thiết lập xa lộ nối liền thành phố Nam Ninh, Lạng Sơn và Hà Nội, thiết lập thiết lộ và xa lộ nối liền Côn Minh, Hà Nội, Hải Pḥng.

 

3. Thực hiện “Chiến lược Trường Sơn”: Trung Quốc đă viện trợ không hoàn lại cho các quốc gia lân cận để xây dựng những con đường chiến lược xuyên suốt Đông Dương:

 

- Mở rộng đường số 9 nối liền biên giới Thái-Lào ra biển Đông qua thị xă Quảng Trị. Con đường nầy đă được nối qua sông Cửu Long và kéo dài đến hải cảng phiá Tây của Thái Lan là Mawlamyine.

 

- Cuối năm 2008, Trung Quốc đă hoàn tất công tŕnh tu sửa và mở rộng quốc lộ 13 nối liền Bắc Nam của Lào.

 

- TQ cũng đang tu sửa và mở rộng quốc lộ 7 xuyên Cambodia từ Nam Lào đến hải cảng Sihanoukville ở vịnh Thái Lan.

 

     Như vậy, từ nay, những tỉnh phía Tây TQ đặc biệt là Vân Nam, trung tâm công nghệ hoá chất hàng đầu, được nối liền ra ba cửa ngơ Thái B́nh Dương và vịnh Thái Lan. Hàng hóa Trung Quốc đă chuyên chở qua những con đường này để trao đổi xuất nhập cảng với thế giới bên ngoài và những con đường xuyên suốt Đông Dương này sẽ trở thành những con đường chiến lược quân sự khi Trung Cộng phát động chiến tranh xâm lược các nước Đông Dương và Đông Nam Á.

 

4. Xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất để cung cấp cho Trung Quốc.

 

5. Dự án quốc tế giữa Trung Quốc, Lào và Thái Lan trong việc khai thông ḷng sông Cửu Long để tàu vận tài nặng có thể lưu thông trên thủy lộ nầy.

 

6. Miễn chiếu khán cho du khách Trung Quốc vào tận mũi Cà Mâu để khi cần thiết sẽ có sẵn đội quân gỉa dạng du lịch ngay trong ḷng đất nước Việt Nam.

 

7. Dự án khai thác quặng bauxite ở vùng Cao nguyên miền Nam Việt Nam. Trung Quốc bắt đầu xây dựng hai nhà máy khai thác ở Đắc Nông, nhân công, kỹ sư và thiết bị hoàn toàn do phía Trung Quốc cung cấp. Vùng này được đặt dưới sự quản lư về an ninh của Trung Quốc để lập cầu không vận chuyên chở vũ khí đạn dược đến cất giấu ở cao nguyên. Mở đường sắt từ cao nguyên xuống B́nh Thuận để chuyên chở bauxite bằng đường biển về Trung Quốc.

 

8. Xây dựng căn cứ quân sự qui mô trên đảo Hải Nam, Hoàng Sa và Trường Sa để sẵn sàng xuất kích đổ bộ phối hợp với chiến lược chia cắt từ cao nguyên để chiếm toàn bộ Việt Nam.

 

9. Từ cao nguyên chạy xuống duyên hải Trung Việt khống chế biển Đông và từ Vân Nam chạy thẳng xuống Sihanoukville (Cambodia), Mawlamyine (Miến Điện) vịnh Thái Lan khống chế eo biển Mallacca bảo vệ hải lộ huyết mạch từ Châu Phi qua Mallacca vào biển Đông khi xảy ra chiến tranh.

 

    Tất cả người Việt Nam yêu nước chúng ta đều nh́n thấy ư đồ thâm độc của Tầu Cộng qua những bước chiến lược núp dưới vỏ bọc hợp tác phát triển kinh tế của chúng. Ngay cả một viên tướng cộng sản Nguyễn Trọng Vĩnh đă từng làm đại sứ ở Bắc Kinh, trước nguy cơ mất nước cũng đă lên tiếng cảnh báo: Điều đáng lo hơn cả là an ninh quốc gia. Chúng ta đều biết TQ đă xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam… không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là để đe dọa VN và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đă nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài G̣n. Nay lại để TQ khai thác bauxite ở Tây Nguyên th́ sẽ có năm, bảy ngh́n hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ h́nh thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào th́ không khó ǵ). Phía Bắc nước ta, trên biển, (TQ) có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta (TQ) có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ, th́ độc lập chủ quyền mà chúng ta đă phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?! Đảng cộng sản sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước lịch sử và nhân dân”.

 

    Để xoa dịu ḷng bất măn của nhân dân, nhà nước CHXHCNVN dă nạp hồ sơ thềm lục địa tại Liên Hiệp Quốc. Thế nhưng, CSVN không bảo vệ lănh hải của Việt Nam mà tệ hại hơn, đó là một văn kiện hợp thức hóa trước Liên Hiệp Quốc việc nhường biển cho Trung Cộng. Đây là một tội ác tày trời của tập đoàn Việt gian cộng sản, một tội ác mà trời không dung, đất chẳng tha, Thần người đều căm hận …

 

 

    Chúng ta đang đứng bên bờ vực thẳm của nguy cơ mất nước…

 

     Nếu đồng bào trong nước, nhất là tầng lớp thanh niên sinh viên, các quân nhân yêu nước không dũng cảm đứng lên và đồng bào hải ngọai thờ ơ th́ sự sống c̣n của dân tộc như sợi chỉ treo chuông. Đây là một hiểm họa không lường được ảnh hưởng đến sự tồn vong của dân tộc.

 

 Việt Nam thân yêu của chúng ta sẽ trở thành một Tây Tạng thứ hai trong thế kỷ 21 này…??? Đế quốc TC chỉ mới xâm chiếm Tây Tạng từ năm 1959 đến nay mới có một nửa thế kỷ mà Đức Đạt lai Lạt Ma của Tây Tạng đă ngậm ngùi cay đắng thốt lên: “Tôn giáo, văn hóa, ngôn ngữ và nhân cách của các thế hệ Tây Tạng, vốn qúi gía hơn mạng sống của họ, nay đă gần như bị tiêu diệt ! Đảng cộng sản và nhà nước TC đă biến Tây Tạng thành một “Địa ngục trần gian”!!!

 

     Chúng ta sẽ trở lại thời “ngàn năm đô hộ giặc Tàu”? Lịch sử của ngàn năm Hán thuộc với những đau thương tủi nhục, những u uất căm hờn lại tái diễn trên đất Việt, không phải là “Bắt dân ta lên rừng t́m ngà voi, xuống biển ṃ ngọc trai” nữa mà tinh vi hơn, thâm độc qủi quái hơn ngàn lần.

 

    Tất cả đồng bào Việt Nam chúng ta, trong và ngoài nước phải làm ǵ trước khi đă qúa muộn ???

 

    Tổ quốc lâm nguy !!! Chúng ta đang đứng bên bờ vực thẳm của nguy cơ mất nước  !!!

 

 

TOÀN DÂN NGHE CHĂNG ???

SƠN HÀ NGUY BIẾN !!!

 

 

 

1. Đế quốc đỏ Trung Cộng c̣n láo xược gọi chúng ta là An Nam, là Man di như Đại Hán xa xưa của chúng.

 

2. Cách Mạng Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Trung Quốc” xuất bản ở Bắc Kinh năm 1954.

 

3. Sau khi Trung Cộng và Liên Xô công nhận nhà nước VNDCCH là thành tŕ công nông đầu tiên ở Đông Nam Á có nghĩa là chủ nghĩa CS đă bành trướng đến Bắc Việt Nam nên ngày 7 tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ, Anh và các nước thế giới tự do công nhận chính phủ Quốc gia Bảo Đại. Đến thời điểm lịch sử này th́ cuộc chiến Việt Nam đă chính thức chuyển sang cuộc chiến tranh ư thức hệ đối đầu giữa CS và Tư bản chứ không c̣n là chiến tranh giải phóng dân tộc nữa như CS vẫn lợi dụng để tuyên truyền kêu gọi người VN yêu nước đứng lên “Chống Mỹ cứu nước”.

 

     Sau hơn 30 năm, chúng ta mới biết cả Liên Xô Trung Cộng lẫn Bắc Triều Tiên đều tham chiến ở Việt Nam. Sự thật lịch sử này được một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TQ phát biểu như sau: “Những ṿng hoa nơi này là của người Việt Nam mang đến, người dân nơi đây rất kính trọng các liệt sỹ của chúng ta. Trong giai đoạn giúp Việt chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc đă v́ Việt Nam mà đóng góp không biết bao nhiêu tài lực, nhân lực, vật lực, pháo binh, công binh, nhân viên đường sắt, nhân viên thư tín, hải quân, không quân, hậu cần vận tải ... 16 chi đội (trong quân sự TRUNG QUỐC tương đương với trung đoàn, hoặc sư đoàn), hơn 30 vạn người ở Việt Nam trong hơn 3 năm 9 tháng đấu tranh. Tác chiến đối không 2153 lần, bắn rơi 1707 máy bay Mỹ, bắt sống 42 phi công Mỹ, viện trợ Việt Nam xây dựng Hải Pḥng, Ḥn Gai, các thành phố duyên hải và xây dựng hệ thống pḥng ngự ở tam giác châu thổ sông Hồng, tu sửa và xây dựng các tuyến đường huyết mạch, sân bay, tuyến đường sắt đông tây, mở đường trên biển và chi viện cho đường ṃn Hồ Chí Minh. Từ năm 1950 đến năm 1978, TQ đă viện trợ cho Việt Nam hơn 200 tỷ mỹ kim, và trong đó đến 93% là viện trợ không hoàn lại, đó là chưa kể xương máu mà 1446 chiến sỹ đă hy sinh, 4200 người trọng thương... những hy sinh đó tuyệt đối không thể tính được bằng tiền". Đó là lư do tại sao CS Việt gian phải dâng đất nhường biển cho quan thầy TC. Gần đây, chúng ta mới biết được là các đơn vị pḥng không LX, phi công Bắc Hàn cũng tham dự cuộc chiến tranh VN. Vấn đề đă sang tỏ là CSVN chỉ là công cụ của CS quốc tế để bành trướng chủ nghĩa CS đưa dân tộc Việt vào thế khốn cùng như ngày nay.

 

4. Ư đồ đen tối của các thế lực ngoại xâm thể hiện rơ khi thực dân Pháp ban hành qui chế “Hoàng triều Cương thổ” cho vùng đất này, song hành với việc kích động thành lập cái gọi là Mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức (viết tắt là FULRO) chống lại Việt Nam Cộng Ḥa. Khi Hoa Kỳ có mặt ở Việt Nam với vai tṛ đồng minh ngăn chặn làn sóng đỏ, họ cũng tổ chức các đơn vị biệt kích Thượng, lực lượng dân sự chiến đấu, đồng thời ngấm ngầm hỗ trợ cho Fulro để uy hiếp chính phủ VNCH phải tuân theo sách lược của Hoa Kỳ. Sau khi CS xâm chiếm miền Nam th́ các tổ chức thiện nguyện Hoa Kỳ lại yểm trợ cho đồng bào thượng thành lập phong trào DEGA.

 

 

http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20091202_Tai-Lieu-ai-Nam-Quan/G1.jpg

 

 

Sau khi Trung Quốc công nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa th́ Hồ Chí Minh bí mật sang Quảng Tây ngày 16. 01.1950 để cám ơn và xin viện trợ.

 

   (HCM là người trùm khăn đứng thứ hai bên phải h́nh)

 

 

http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20091202_Tai-Lieu-ai-Nam-Quan/G2.jpg

Năm 1950, Hồ Chí Minh đón rước các đồng chí Trung Quốc

 vĩ đại qua Ải Nam Quan tiến vào Việt Nam!!!

 

 

 

“Kính Thưa Đồng chí Tổng Lư,

 

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng Lư rơ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của chính phủ nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

 

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lư của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.

 

Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng Lư lời chào trân trọng.

Hà Nội ngày 14 tháng 9 năm 1958

Phạm văn Đồng

Thủ Tướng Chính phủ

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa

 

 

 

·        Bản công hàm ngoại giao của Phạm văn Đồng Thủ Tướng Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa chính thức gửi công hàm ngoại giao cho Chu Ân Lai, Thủ Tướng CHNDTH ngày 14-9-1958 ngay sau khi CHNDTH tuyên bố là chủ biển Đông ngày 4-9-1958.

 

 

 

TUYÊN CÁO

 

CỦA CHÁNH-PHỦ VIỆT-NAM CỘNG-H̉A

 

VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM CỘNG H̉A TRÊN NHỮNG ĐẢO Ở NGOÀI KHƠI BỜ BIỂN VIỆT-NAM

 

     Nghĩa vụ cao cả và cấp thiết nhất của một chánh phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và sự vẹn toàn lănh thổ của quốc gia. Chánh-phủ Việt-nam Cộng-ḥa cương quyết làm tṛn nghĩa vụ này, bất luận những khó khăn trở ngại có thể gặp phải và bất chấp những sự phản đối không căn cứ dầu phát xuất từ đâu. Trước việc Trung Cộng trắng trợn xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa của Việt-Nam Cộng-Ḥa, Chánh-Phủ Việt-Nam Cộng-Ḥa thấy cần phải tuyên cáo long trọng trước công luận thế giới cho bạn cũng như thù biết rơ rằng:

 

 “Quần đảo Hoàng Sa và quân đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lănh thổ Việt-Nam Cộng-Ḥa. Chánh-Phủ và nhân dân Việt-Nam Cộng-Ḥa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của ḿnh trên những quần đảo ấy. Chừng nào c̣n một ḥn đảo thuộc lănh thổ ấy của Việt-Nam Cộng-Ḥa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực th́ chừng ấy Chánh-Phủ và nhân dân Việt-Nam Cộng-Ḥa c̣n tranh đấu để khôi phục những quyền lợi chính đáng của ḿnh. Kẻ xâm chiếm phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi t́nh trạng căng thẳng có thể do đó mà có”.

 

Trong dịp này, Chánh-Phủ Việt-Nam Cộng-Ḥa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt-Nam Cộng-Ḥa trên những hải đảo nằm ở ngoài khơi bờ biển Trung-Phần và bờ biển Nam-Phần Việt-Nam, từ trước tới nay vẫn được coi là một phần lănh thổ của Việt-Nam Cộng-Ḥa căn cứ trên những dữ kiện dịa lư, lịch sử, pháp lư và thực tại không chối căi được. Chánh-Phủ Việt-Nam Cộng-Ḥa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những đảo ấy bằng mọi cách.

 

Trung thành với chánh sách ḥa b́nh cố hữu của ḿnh, Chánh-Phủ Việt-Nam Cộng-Ḥa sẵn sàng giải quyết bằng đường lối thương lượng những vụ tranh chấp quốc tế có thể xảy ra về những hải đảo ấy, nhưng nhất định không v́ thế mà từ bỏ chủ quyền của Việt-Nam Cộng-Ḥa trên những phần đất này.

 

 

Sài g̣n, ngày 14 tháng 2 năm 1974

 

TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG H̉A

NGUYỄN VĂN THIỆU  

 

 

ĐÂY LÀ SỰ THẬT CỦA LỊCH SỬ

 

     Sau khi Trung Cộng và Liên Xô công nhận nhà nước VNDCCH là nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á có nghĩa là chủ nghĩa CS đă bành trướng đến Việt Nam nên ngày 7 tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ, Anh và các nước thế giới tự do công nhận chính phủ Quốc gia Bảo Đại. Đến thời điểm lịch sử này th́ cuộc chiến Việt Nam đă chính thức chuyển sang cuộc chiến tranh ư thức hệ đối đầu giữa CS và Tư bản chứ không c̣n là chiến tranh giải phóng dân tộc nữa như đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam  vẫn tuyên truyền là có công giải phóng dân tộc.

 

 

Hồi kư “ “Mẫu Mực sáng ngời của Chủ Nghĩa Quốc Tế Vô Sản” do La Quư Ba (Luo Guibo), Trưởng Đoàn Cố Vấn Chính Trị cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa từ 1951-1954, Đại Sứ Trung Quốc tại VNDCCH từ 1954-1975, xuất bản bởi Bắc Kinh năm 2002, đă xác nhận chính Hồ Chí Minh đă “Cơng rắn về  cắn gà nhà” khi họ Hồ năn nỉ Trung Quốc và Liên Sô công nhận cái gọi là Nhà nước VNDCCH.

 

Lă Quư ba viết: “vào thời điểm này, trên quốc tế chưa có một nước nào công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, không có một tổ chức quốc tế nào đặt quan hệ với Việt Nam, Việt nam chưa giành được vị thế quốc tế, cũng không được viện trợ bên ngoài. Vấn đề viện trợ Việt Nam chống quân xâm lược thực dân Pháp như thế nào là một việc lớn mà lănh đạo tối cao ba phía Trung Quốc, Việt Nam, Liên Xô trao đổi bàn bạc.” La quư Ba xác nhận rằng Hồ Chí Minh đă vội vă đề nghị các nước Xă Hội Chủ Nghĩa công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, mới đầu Liên Sô bác bỏ nhưng sau khi Trung Cộng công nhận VNDCCH ngày 14-1-1950 th́ ngày 31-1-1950 Liên Xô mới công nhận VNDCCH. Đầu tháng 1-1950, Hồ Chí Minh sang Trung Quốc xin được công nhận: “Hồ Chí Minh từ xa xôi ngh́n trùng đến Trung Quốc, đi Liên Xô là để mong được sự viện trợ nhiều mặt, nhất là viện trợ về quân sự và kinh tế tài chính. Stalin cho rằng, Trung Quốc là nước láng giềng của Việt Nam, hiểu rơ t́nh h́nh Việt Nam, c̣n Liên Xô và các nước Đông Âu chịu nhiều vết thương chiến tranh nặng nề trong chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô c̣n phải giúp đỡ các nước XHCN Đông Âu khôi phục và xây dựng, trên vai c̣n rất nặng gánh, mong rằng nhiệm vụ viện trợ Việt Nam, Trung Quốc là chính.”

 

La Quư Ba viết tiếp:

Tháng 1, 1950, Hồ Chí Minh đích thân bí mật đến Bắc Kinh, yêu cầu Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp. Trung ương đảng ta theo yêu cầu của Hồ chí Minh và Trung ương Đảng Đông Dương, đă báo cáo và được Mao Chủ Tịch đồng ư, quyết định cử tôi bí mật sang Việt Nam, làm đại diện liên lạc giữa Trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc và Trung Ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí Lưu Thiếu Kỳ c̣n tự tay viêt giấy giới thiệu cho tôi:

“Xin giới thiệu đồng chí La Quư Ba, Bí thư Tỉnh Ủy và chính ủy trong quân đội của chúng tôi đến chỗ các đồng chí làm đại diện liên lạc của Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đi theo có 8 tùy tùng.

Lưu Thiếu Kỳ , Bí Thư Trưởng Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, ngày 17/1/1950”

 

La Quư Ba đại diện của đảng CSTQ làm cố vấn chính trị cho Đảng CSVN và tướng Trần Canh làm cố vấn quân sự. Mọi kế hoạch đều do Trần Canh vạch ra và chỉ đạo trực tiếp. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng t́nh h́nh chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp, La Quư Ba nhận xét:

Bước đầu tiên viện trợ Việt Nam là phải khai thông giao thông biên giới Trung-Việt, v́ có thế vật tư viện trợ Việt Nam mới có thể chở sang Việt Nam thuận lợi. Chỉ cần quân đội Nhân dân Việt Nam chiếm con đường giao thông chủ yếu trên biên giới Trung-Việt th́ quân Pháp sẽ mất ưu thế số một. Chỉ có hai lựa chọn khai thông con đường giao thông chủ yếu biên giới Trung-Việt: một là đánh Cao Bằng tiếp giáp giữa Việt Nam và Quảng Tây; một nữa là đánh Lào Cai tiếp giáp giữa Việt Nam và Vân Nam. Đánh Cao Bằng trước hay đánh Lào Cai trước, hay là đánh cả hai cùng một lúc, Trung Ương đảng Cộng Sản Đông Dương và Trung Ương đảng ta đều đă điều tra nghiên cứu, suy nghĩ trao đổi nhiều lần gần 3 tháng. Ngày 02/07/1950, Mao Chủ Tịch gửi điện trả lời Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam:

“Đồng ư ư kiến đánh Cao Bằng trước, phương án tác chiến cụ thể đối với Cao Bằng, chờ sau khi Trần Canh đến, do các đồng chí quyêt định cuối cùng….”. Tài liệu này đă xác nhận một sự thật lịch sử là Trần Canh chính là nhân vật cố vấn tối cao về chiến tranh Việt Nam, không phải Vơ Nguyên Giáp cũng không phải Hồ chí Minh. Dĩ nhiên, Mao Trạch Đông là lănh tụ cao nhất. Quân Ủy và Bộ Chính Trị Trung Cộng giữ vai tṛ chỉ đạo từ Bắc Kinh. La quư Ba kể thêm về sự khẩn nài của Hồ Chí Minh như sau:

“Mùa đông năm 1951, Hồ Chí Minh một lần nữa bí mật đến Bắc Kinh thăm Trung Quốc.”

Sau khi kể về việc ôm hôn thắm thiết, La Quư Ba cho biết:

“Trong trao đổi, Hồ chí Minh hỏi Mao Chủ Tịch:

“Bộ Chính Trị Trung Ương chúng tôi yêu cầu đồng chí La Quư Ba khi tham gia hội nghị Bộ Chính Trị Trung Ương chúng tôi nêu nhiều ư kiến về các mặt công tác của chúng tôi, giúp đỡ nhiều cho chúng tôi. Nhưng đồng chí quá thận trọng, quá khiêm tốn. Tôi mong các đồng chí giao cho đồng chí ấy nêu nhiêu ư kiến. Mao Chủ Tịch, các đồng chí có đồng ư không?”. Sự kiện này xác nhận một lần nữa vai tṛ của La Quư Ba chỉ đạo bộ chính tri của đảng CSVN.

Hồ Chí Minh c̣n đóng kịch là một đệ tử chân thành: “Hồ chí Minh là người rất giầu t́nh cảm, nh́n thấy rơ người bị truyền cảm bởi sự chân thành của Mao Chủ Tịch, Người đứng dậy nói:
“Tôi và các đồng chí Việt Nam đều cảm nhận sự chân thành giúp đỡ chúng tôi từ trong hành động của các đồng chí”.

La quư Ba c̣n kể nhiều chi tiết  mọi sinh hoạt của đảng Cộng Sản Việt Nam đều được chỉ thị của Trung Cộng: “Dù là điện của Trần Canh, Vi Quốc Thanh và tôi xin chỉ thị của Mao Chủ Tịch, Trung Ương Đảng hay chỉ thị của Mao Chủ Tịch, Trung Ương đảng đối với chúng tôi, dù là bức điện về mặt tác chiến (như chiến dịch Biên Giới, chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Tây Bắc. v.v..) xây dựng bộ đội và huấn luyện bộ đội, hay là những bức điện vấn đề quan trọng về mặt xây dựng tư tưởng và xây dựng tổ chức của Đảng, công tác tài chính kinh tế, công tác cải cách ruộng đất, viện trợ quân sự, viện trợ tài chính kinh tế và công tác công an, t́nh báo, dân tộc thiểu số..v.v.. Mao Chủ Tịch đều đích thân phê duyệt, sửa chữa, kư cho chuyễn đi, trong đó có những bức điện đặc biệt quan trọng, Mao Chủ Tịch tự khởi thảo, khi trả lời các bức điện của Hồ Chí Minh, Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam trưng cầu ư kiến Trung Ương Đảng hoặc các bức điện quan trọng của Mao Chủ Tịch, Trung Ương Đảng nêu ư kiến hoặc kiến nghị với Hồ Chí Minh…”. Sự thật lịch sử này đă phơi bầy rơ rang Đảng CSVN trên thực tế là một chi bộ của đảng CSTQ, cánh tay nối dài của  Trung Cộng để thực hiện ư đồ xâm chiếm VN và các nước Đông Nam Á.

 

     Sau hơn 30 năm, chúng ta mới biết cả Liên Xô Trung Cộng lẫn Bắc Triều Tiên đều tham chiến ở Việt Nam. Sự thật lịch sử này được một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TQ phát biểu như sau:

 

Những ṿng hoa nơi này là của người Việt Nam mang đến, người dân nơi đây rất kính trọng các liệt sỹ của chúng ta. Trong giai đoạn giúp Việt chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc đă v́ Việt Nam mà đóng góp không biết bao nhiêu tài lực, nhân lực, vật lực, pháo binh, công binh, nhân viên đường sắt, nhân viên thư tín, hải quân, không quân, hậu cần vận tải ... 16 chi đội (trong quân sự TRUNG QUỐC tương đương với trung đoàn, hoặc sư đoàn), hơn 30 vạn người ở Việt Nam trong hơn 3 năm 9 tháng đấu tranh. Tác chiến đối không 2153 lần, bắn rơi 1707 máy bay Mỹ, bắt sống 42 phi công Mỹ, viện trợ Việt Nam xây dựng Hải Pḥng, Ḥn Gai, các thành phố duyên hải và xây dựng hệ thống pḥng ngự ở tam giác châu thổ sông Hồng, tu sửa và xây dựng các tuyến đường huyết mạch, sân bay, tuyến đường sắt đông tây, mở đường trên biển và chi viện cho đường ṃn Hồ Chí Minh.

 

      Từ năm 1950 đến năm 1978, TQ đă viện trợ cho Việt Nam hơn 200 tỷ mỹ kim, và trong đó đến 93% là viện trợ không hoàn lại, đó là chưa kể xương máu mà 1446 chiến sỹ đă hy sinh, 4200 người trọng thương... những hy sinh đó tuyệt đối không thể tính được bằng tiền".

 

     Một câu hỏi được đặt ra cho tất cả những người Việt Nam yêu nước là tại sao các nước bị thực dân cai trị đă lần lượt được trả tự do ngay từ thập niên 1950, trong khi dân tộc Việt lại bị đưa vào cuộc chiến tranh ư thức hệ để gần một chục triệu người dân vô tội phải hy sinh một cách oan uổng, hàng chục triệu gia đ́nh Việt Nam ly tán và cho đến ngày nay, đất nước Việt Nam nghèo nàn chậm tiến nhất thế giới ? Chính Hồ Chí Minh, cán bộ của đệ tam quốc tế CS đă rước voi về giầy mả Tổ, đưa dân tộc Việt vào một cuộc chiến tương tàn khốc liệt. Đảng CSVN và cá nhân Hồ Chí Minh chính là tội đồ của dân tộc Việt Nam.    

 

http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20091202_Tai-Lieu-ai-Nam-Quan/G13.jpg

Hồng quân TC tuyên thệ trước khi vào đất Việt

 

Năm 1966, Pháo binh và Thiết đạo binh (Công binh) Hồng quân TC tuyên thệ tại Hữu Nghị Quan trước khi tiến vào lănh thổ VN giả dạng quân đội nhân dân VN để chiến đấu chống các cuộc oanh tạc của không lực HK. Hướng về Trung Quốc đồng thanh hô lớn: "Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!". Trong ảnh là Sư đoàn 62 Cao Xạ Hồng quân TC.

 

 

http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20091202_Tai-Lieu-ai-Nam-Quan/G14.jpg

 

Hồng quân Trung Quốc  tra tấn tù binh Mỹ tại VN

 

 

http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20091202_Tai-Lieu-ai-Nam-Quan/G15.jpg

 

Hồng quân Trung Quốc bắt sống phi công Mỹ tại VN.

Người cầm ảnh là cựu chiến binh TC tham chiến tại VN

 

 

http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20091202_Tai-Lieu-ai-Nam-Quan/G16.jpg

 

 

 

http://www.vietvungvinh.com/VietNam/2009/Images/20091202_Tai-Lieu-ai-Nam-Quan/G17.jpg

 

 Huy chương "Đoàn Kết Chiến Thắng Giặc Mỹ"

 Năm 1968, Quân TQ tiến qua Ải Nam Quan vào Việt Nam

 

 

 

 

TRUNG CỘNG

 

ĐẾ QUỐC MỚI CỦA THỜI ĐẠI

KẺ THÙ TRUYỀN KIẾP CỦA DÂN TỘC

 

 

     Sau khi “Bành trướng bá quyền Bắc Kinh” xua quân tiến đánh CVN ngày 17-2-1979. Nhà nước CHXHCNVN cho ấn hành quyển “Sự thật về quan hệ Việt Nam Trung Quốc 30 năm qua”. Bạch thư của nhà nước CHXHCNVN đă thừa nhận một sự thật phũ phàng như sau:

 

     “Ngay sau khi Mao Trạch Đông chiếm được Trung Hoa lục địa đă công khai tuyên bố: "Tất cả các lănh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đă bị phe Đế Quốc chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Cách Mạng 1911, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam (Việt Nam), Hồng Kông, Macao cùng những đảo tại Thái B́nh Dương như Sakhalin, Đài Loan, Bành Hồ sẽ phải được giao hoàn cho Trung Quốc".

 

    Trung Cộng vẫn gọi nước ta là An Nam An Nam, là Man di như “Thiên triều” Đại Hán xa xưa của chúng. Tháng 8 năm 1965, Mao Trạch Đông tuyên bố trắng trợn ư đồ xâm chiếm Việt Nam được ghi rơ trong quyển “Cách Mạng Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Trung Quốc” xuất bản ở Bắc Kinh năm 1954 như sau: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả Miên, Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore. Việt Nam là bàn đạp tiến xuống phía Nam, chúng ta phải chiếm cho bằng được …”.

 

     Đế quốc đỏ Trung Cộng c̣n láo xược gọi chúng ta là Chúng c̣n ngang nhiên vẽ bản đồ Trung Quốc bao gồm nhiều nước chung quanh kể cả Đông Nam Á và biển Đông.

 

     Một tài liệu mật mới được chính các đảng viên cao cấp đảng CSVN tiết lộ th́ trong một cuộc họp mật giữa Tổng Cục T́nh Báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 VN, viên Chánh Ủy TCTB Hoa Nam đă tuyên bố công khai trịch thượng rằng:

 

 “ Việc Hợp kết Trung Quốc VN là một mốc lịch sử vĩ đại trên đường phát triển của tổ quốc… Việc VN trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại là việc trước sau sẽ phải đến. Không sớm th́ muộn. Mà sớm th́ hơn muộn. Trong lịch sử, VN từng là quận, huyện của Trung Quốc, là một nhánh của cây đạị thụ Trung Hoa … Đa số tướng lĩnh Việt Nam là ngướ của ta, do ta đào tạo, cất nhắc. Công này là của nguyên chủ tịch Lê đức Anh, ngướ rất biết nh́n xa trông rộng … Một khi VN đă nhập vào TQ th́ vùng Tây nguyên của VN là của chung nước ta”… Trong thời đại hiện nay, sự sát nhập trở lạị của VN và toàn bán đảo Dông Dương tiếp theo là điều tất yếu… TQ và VN là một. Đó là chân lư đờ́ đờ́. Đó cũng là lờ́ của Hồ đồng chí (tức Hồ chí Minh) trong lễ tuyên thệ gia nhập đảng CSTQ và Nông đồng chí (tức là đồng chí Nông đức Mạnh từng tự hào nhận ḿnh là ngừơi Choang (Zhuang) trong cuộc gặp gở các đại biểu trong Quốc vụ viện. Mà dân tộc Choang là ǵ? Là một bộ phận của đại gia đ́nh các dân tộc TQ.”

 

     Lịch sử Việt kể từ thời lập quốc đă bị Hán tộc xâm lấn đẩy lùi dân tộc Việt xuống phương Nam. Sau khi xâm chiếm Nam Việt năm 111TDL, Hán tộc đă thống trị nước ta  gần 1 ngàn năm. Năm 938, Ngô Quyền đại thắng trên sông Bạch Đằng mở ra thời kỳ độc lập tự chủ của Việt tộc.Bản chất xâm lược bành trướng của đê quốc “Đại Hán” ngày xưa và siêu đế quốc Trung Cộng ngày nay không bao giờ thay đổi đă chứng minh rằng, cái mà nhà nước CS vẫn tuyên truyền rêu rao về t́nh hữu nghị, t́nh đồng chí 16 chữ vàng, chính là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt.

 

CHỦ TRƯƠNG XÂM LƯỢC CỦA TÀU CỘNG

 

     Ngày 14 tháng 1 năm 1950, Trung Cộng công nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa do Hồ Chí Minh lănh đạo.

 

     Ngày 21 tháng 1 năm 1950 Liên Xô công nhận VNDCCH là nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Chủ nghĩa Cộng sản đă tràn tới Việt Nam nên ngày 7 tháng 2 năm 1950, Hoa Kỳ, Anh công nhận chính phủ Quốc gia Bảo Đại để ngăn chặn làn sóng đỏ tràn xuống Đông Nam Á.

 

     Ngay sau khi công nhận, Trung Cộng cử tướng Hồng quân TQ là Lă Quí Ba sang làm Tổng Cố vấn cho Bộ chính trị Đảng CSVN. TC gửi quân và vũ khí chi viện tối đa cho đảng CSVN thi hành nhiệm vụ bành trướng chủ nghĩa cộng sản xuống phương Nam, đánh chiếm miền Nam Việt Nam mở đường thông thương ra biển Nam cho đế quốc Trung cộng. Chính đảng cộng sản Việt Nam đă đưa dân tộc vào một cuộc chiến tranh ư hệ đối đầu giữa tư bản và cộng sản để lại một hậu qủa là hàng triệu người Việt Nam vô tội đă phải hy sinh và một đất nước Việt Nam nghèo nàn lạc hậu nhất thế giới.

 

     Ngày 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève chia đôi đất nước được kư kết do CS thỏa hiệp chia đôi đất nước với Tư bản giữa lúc phong trào kháng chiến đang thắng lợi.

 

     Ngày 20 tháng 12 năm 1960, VNDCCH thành lập mặt trận Giải phóng miền Nam theo chỉ thị của Bắc Kinh để mở đầu cho kế hoạch xâm chiếm miền Nam của Mao Trạch Đông.

 

     Năm 1972, Hoa Kỳ và Trung Cộng lại thỏa hiệp cấu kết kư hiệp ước Thượng Hải để Hoa Kỳ rút chân ra khỏi VN sau khi đă tách TC ra khỏi Liên Xô.

 

     Năm 1974, Hoa Kỳ đă  làm ngơ  để Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa. Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kisinger bật đèn xanh cho ngoại trưởng TC Chu Ân Lai để Cộng sản Việt Nam vi phạm Hiệp định Paris đem quân xâm chiếm miền Nam ngày 30-4-1975.

 

     Sau khi chiếm toàn bộ miền Nam, ngày 2 tháng 7 năm 1976 đặt tên nước là Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam và đảng CSVN chính thức đổi tên đảng lao động trở lại là đảng CSVN.

 

 

KẾ HOẠCH XÂM LƯỢC VIỆT NAM

 

    Để thực hiện ư đồ này, Trung Cộng đă lần lượt thực hiện lộ tŕnh chín bước chiến lược tiến chiếm Việt Nam, Đông Dương và cả vùng Đông Nam Á như sau:

 

1. Lập kế hoạch và viện trợ cho VNDCCH thực hiện công tŕnh xây dựng xa lộ Trường Sơn trong “Chiến lược Trường Sơn” của Mao Trạch Đông đề ra năm 1953.

 

2. Thiết lập xa lộ nối liền thành phố Nam Ninh, Lạng Sơn và Hà Nội, thiết lập thiết lộ và xa lộ nối liền Côn Minh, Hà Nội, Hải Pḥng.

 

3. Thực hiện “Chiến lược Trường Sơn”: Trung Quốc đă viện trợ không hoàn lại cho các quốc gia lân cận để xây dựng những con đường chiến lược xuyên suốt Đông Dương:

 

     - Mở rộng đường số 9 nối liền biên giới Thái-Lào ra biển Đông qua thị xă Quảng Trị. Con đường nầy đă được nối qua sông Cửu Long và kéo dài đến hải cảng phiá Tây của Thái Lan là Mawlamyine.

 

 - Cuối năm 2008, Trung Quốc đă hoàn tất công tŕnh tu sửa và mở rộng quốc lộ 13 nối liền Bắc Nam của Lào.

     - Trung Quốc cũng đang tu sửa và mở rộng quốc lộ 7 xuyên Cambodia từ Nam Lào đến hải cảng Sihanoukville ở vịnh Thái Lan.

 

     Như vậy, từ nay, những tỉnh phía Tây TQ đặc biệt là Vân Nam, trung tâm công nghệ hoá chất hàng đầu, được nối liền ra ba cửa ngơ Thái B́nh Dương và vịnh Thái Lan. Hàng hóa Trung Quốc đă chuyên chở qua những con đường này để trao đổi xuất nhập cảng với thế giới bên ngoài. Những con đường xuyên suốt Đông Dương này sẽ trở thành những con đường chiến lược quân sự khi TC phát động chiến tranh xâm lược các nước Đông Dương và Đông Nam Á.

 

4. Xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất để cung cấp cho Trung Quốc.

 

5. Dự án quốc tế giữa Trung Quốc, Lào và Thái Lan trong việc khai thông ḷng sông Cửu Long để tàu vận tài nặng có thể lưu thông trên thủy lộ nầy. Trong khi đó, Trung Quốc xây dựng hàng loạt đập thủy điện trên thượng nguồn sông Cửu Long nằm trong lănh thổ Trung Quốc để kiểm soát mực nước của các quốc gia nằm ở vùng hạ lưu sông Cửu Long như một h́nh thức khống chế để bắt các nước này phải lệ thuộc vào đế quốc Trung Cộng trên mọi phương diện.

 

6. Miễn chiếu khán cho du khách Trung Quốc vào tận mũi Cà Mâu để khi cần thiết sẽ có sẵn đội quân gỉa dạng du lịch ngay trong ḷng đất nước Việt Nam.

 

7. Dự án khai thác quặng bauxite ở vùng Cao nguyên miền Nam Việt Nam. Trung Quốc bắt đầu xây dựng hai nhà máy khai thác ở Đắc Nông, nhân công, kỹ sư và thiết bị hoàn toàn do phía Trung Quốc cung cấp. Vùng này được đặt dưới sự quản lư về an ninh của Trung Quốc để t́m kiếm mỏ uranium bí mật xây dựng ḷ nguyên tử trên lănh thổ VN, mặt khác vũ khí  dễ dàng chuyên chở đạn dược đến cất giấu ở cao nguyên chuẩn bị cho cuộc xâm lăng quân sự khi cần thiết. TC cũng viện trợ để làm hệ thống đường sắt từ cao nguyên xuống B́nh Thuận để chuyên chở bauxite bằng đường biển về Trung Quốc.

 

8. Xây dựng căn cứ quân sự qui mô trên đảo Hải Nam, Hoàng Sa và Trường Sa để sẵn sàng xuất kích đổ bộ phối hợp với chiến lược chia cắt từ cao nguyên để chiếm toàn bộ Việt Nam.

 

9. Từ cao nguyên chạy xuống duyên hải Trung Việt khống chế biển Đông và từ Vân Nam chạy thẳng xuống Sihanoukville (Cambodia), Mawlamyine (Miến Điện) vịnh Thái Lan khống chế eo biển Mallacca bảo vệ hải lộ huyết mạch từ Châu Phi qua Mallacca vào biển Đông khi xảy ra chiến tranh.

 

     Hàng ngàn công nhân TC sẽ trở thành hàng ngàn tay súng cùng với hàng chục ngàn du khách Trung Quốc có mặt ở Việt Nam bất cứ lúc nào th́ đến một thời điểm nào đó, TC sẽ có cả chục sư đoàn Hồng quân chiếm giữ cao nguyên, khống chế chia cắt Việt nam ra từng mảnh. Từ vị trí chiến lược cao nguyên kết hợp với hải quân TC từ các căn cứ Hải quân ở Hoàng Sa, Trường Sa  đánh chiếm miền ven bể th́ sự sống c̣n của dân tộc như sợi chỉ treo chuông. Đây là một hiểm họa không lường được ảnh hưởng đến sự tồn vong của dân tộc.

 

    Bên cạnh vị trí địa lư chiến lược, cao nguyên c̣n tiềm tàng trong ḷng đất hàm lượng phóng xạ Uranium chưa được khai thác. Không phải t́nh cờ mà thực dân Pháp xây dựng ḷ nguyên tử ở Đà lạt và Nhật Bản bỏ ra cả tỉ mỹ kim để xây dựng đập thủy điện Đa Nhim. TC sẽ ngầm xây dựng một ḷ nguyên tử bí mật trên đất Việt mà chúng ta sẽ phải nhận lănh thảm họa khi chiến tranh thế giới lần thứ ba xảy ra?

  

http://i38.photobucket.com/albums/e113/diendantudodanchu/lich_su/a5b5c74d.gif

Tuyên bố ngang ngược của TC tháng 6 năm 2007 về chủ quyền Lănh hải chiếm gần hết biển Đông

 

TRUNG CỘNG

 

ĐỘC CHIẾM BIỂN ĐÔNG

 

- Năm 1992, Quốc hội TC ban hành đạo luật tuyên bố chủ quyền. Tất cả tàu bè kể cả tàu chiến và tàu nghiên cứu khoa học đi qua phải xin phép, nếu không sẽ bị đánh ch́m. Tháng 5-1992, TC kư khế ước với công ty khai thác dầu Crestone trên 1 diện tích 25.000 cây số vuông.

 

- Tháng 6 năm 2007, Trung Cộng phổ biến một bản đồ vẽ biển Đông của Việt Nam bao gồm cả Hoàng Sa Trường Sa là lănh hải mới của TC. Tháng 6 năm 2007, đế quốc Trung Cộng đă công khai chiếm lĩnh biển Đông của Trung Cộng bằng việc phổ biến một bản đồ vẽ vùng lưỡi ḅ trong biển Đông của Việt Nam kéo dài xuống giáp ranh Phi Luật Tân, Nam Dương … bao gồm cả Hoàng Sa Trường Sa là lănh hải mới của TC.

 

    Trung Quốc đă ngang ngược đưa ra quyền khám phá và sự hành xử liên tục chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường sa là Trung Quốc đă khám phá ra 2 quần đảo này thời Hán năm 206TDL và những sinh hoạt của người TQ thời Tống vào thế kỷ XIII.

 

- Sách Dị Vật chí đời Hán viết một cách chung chung, không diễn tả cụ thể một đảo nào: “ Có những đảo nhỏ, cồn cát, đá ngầm va băng cát tại Nam Hải, nơi đó nước cạn và đầy đá nam châm”.

 

- Sách Zuo Zhuan viết vào thời Xuân Thu: “ Triều đại vẻ vang của Chu trấn an dân Man Di để viễn chinh vùng Nam Hải (đảo) để làm sở hữu cho Trung Hoa”.

 

- Sách Chư Phiên Chí viết vào thế kỷ XI I I chỉ ghi “ Phía Đông Nam Hải là Thiên Lư Trường Sa và Vạn Lư Thạch Đường và ngoài nữa là những đại dương vô tận”.

 

- Sách Hải Lục của Hoàng Chung đời Minh chép: “Vạn Lư Trường Sa ở phía Đông của Vạn Lư Thạch Đường”.

 

- Sách Hải Lục của Vương B́nh Nam (1820-1842) viết “Lộ tŕnh phía ngoài được nối liền với lộ tŕnh phía trong bời Vạn Lư Trường Sa nằm giữa biển. Chiều dài của các quần đảo khoảng vài chục ngàn dặm. Nó là bức màn pḥng thủ phía ngoài của nước An Nam”. Tuy Trung Quốc viện dẫn sách này nhưng chính tác giả Vương B́nh Nam lại xác nhận 2 quần đảo này là của Việt Nam.

 

- Năm 1950, Trung Quốc đem quân xâm chiếm đảo Phú Lâm trong nhóm đảo An Vinh của VNCH.

 

     Lần đầu tiên Nhân dân nhật báo ngày 5-6-19556, Quang Minh nhật báo ngày 7-6-1956, Trung Quốc đă đưa ra một số chứng cứ lịch sử biện minh cho việc chứng tỏ chủ quyền của TQ trên 2 quần đảo nói trên. Đồng thời Trung Quốc cũng tuyên bố Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa đă xác định chủ quyền của họ qua lời tuyên bố của Ung văn Khiêm, Thứ Trưởng Bộ Ngoại giao ngày 15-6-1956 với Đại Lư Sự vụ Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa là Li Zhimin rằng: “Theo những tài liệu của Việt Nam, trên phương diện lịch sử, Xisha và Nansha là phần đât thuộc lănh thổ Trung Quốc”.

 

     Đặc biệt là sau khi CHNDTH tuyên bố là chủ biển Đông ngày 4-9-1958 th́ ngày 14-9-1958, Phạm văn Đồng Thủ Tướng Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa chính thức gửi công hàm ngoại giao cho Chu Ân Lai, Thủ Tướng CHNDTH như sau:

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của chính phủ nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lư của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”.

 

- Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Trung Cộng huy động toàn bộ lực lượng Không quân và Hạm đội Nam Hải của Hải quân tấn công xâm chiếm khu Nguyệt Thiềm phía Tây quần đảo Hoàng sa và tuyên bố làm chủ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa mà TC gọi là Tây Sa quần đảo.

 

- Sau khi xâm chiếm Hoàng Sa, “Học Thời sự Văn Hối báo” và “Thất thập niên Đại nguyệt san” ấn hành số tháng 2,3 và 4 năm 1974 đưa ra những chứng cứ bênh vực cho việc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng ḥa. Tề Tân, một học giả của TQ đă viết bài “Nam Hải chư đảo đích chủ quyền dư? Tây Sa quần đảo chi chiến” đă dẫn chứng một số cứ liệu sau: “Vào đời Nam Bắc Triều trong bài Vu Thành phú của Bảo Chiếu có câu Nam tri Thương Ngô Trướng hải, Bắc tấu tử tái Nhạn môn” để chứng minh rằng lănh thổ của TQ từ biển Trướng hải ở phía cực Nam đến phía cực Bắc nước Tàu. Biển Trươớg Hải theo Tề Tân là gồm cà 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa !!! Ngoài ra, Tề Tân c̣n viện dẫn một số sách sử của TQ có nói tới Tây Sa và Nam Sa như:

 

1. Sách Chư Phiên chí của Triệu Nhữ Quát viết “Đời Đường năm 789, triều Đường đặt Quốc Phủ ở Quỳnh Sơn và ở phía Đông Hải Nam có Thiên Lư Trường Sa và Vạn Lư Thạch sang biển cả mênh mông, trời đất một màu, tàu bè qua lại phải dùng kim ch́ Nam, ngày đêm phải giữ ǵn cẩn thận nếu không lỡ ra có thể nguy đến tính mạng …”.

 

2. Sách Tống Sử Kư Sự Bản mạt viết “Nguyên Tướng Lưu Sâm tấn công nhà vua ở vịnh Thiển Loan, Trương Thế Kiệt đánh không lại, phù tá nhà vua chạy đi núi Tú Sơn đến vịnh Tỉnh Áo, nhà vua chạy ra eo biển Tạ Nữ (Hiệp), rồi ra biển đến Thất Li Dương có ư muốn qua Chiêm Thành nhưng không được …”.

 

3. Nguyên sử quyển 162 viết “Năm 29, Sử Bật cùng với 5 ngàn người họp quân xuất phát đi Tuyền Châu gặp sóng to gió mạnh, thuyền bè tṛng trành, sĩ tốt mấy ngày không ăn uống được. Qua khỏi Thất Châu Dương, Vạn Lư Thạch Đường tới địa giới của Giao Chỉ và Chiêm Thành …”.

 

4. Vũ Bị chí của Mao Nguyên Nghi đời Minh viết “Niên hiệu Tuyên Đức từ năm 1405 đến 1433, Trịnh Ḥa 7 lần xuống Tây Dương đă từng qua Vạn Lư Thạch Đường”. Theo Tế tân, Vạn Lư Thạch Đường tức Nam Sa quần đảo nơi cao nhất đă đào bới được thứ tiền đồng niên hiệu Vĩnh Lạc. Hiện nay vẫn c̣n tên đảo Tuyên Đức và Vĩnh Lạc chứng tỏ cách đây hơn 500 năm đă có người TQ cư trú ở đó rồi.

 

5. Sách Hải Quốc Kiến văn Lục và Lư Chuẩn Tuần hải Kư đời Thanh, niên hiệu Quang Tự năm 28 tức năm 1904,  tháng 4 triều đ́nh có phái Thủy sư Đề Đốc Lư Chuẩn chỉ huy 3 chiến hạm Phuc Ba tới các đảo trên biển Nam hải điều tra t́nh h́nh và thượng cờ Hoàng long và bia đá trên đó.

 

6. Năm 1911, tỉnh Quảng Đông xuất bản địa đồ ghi rơ các đảo trên biển Nam Hải là một bộ phận của tỉnh Quảng Đông TQ.

 

 

     Trung Quốc c̣n đưa ra luận điệu cho rằng măi tới đầu thế kỷ XIX, vua An Nam mới phái Hải quân tới khai phá quần đảo Paracels và Hội nghị Cựu Kim Sơn San Francisco TQ không phản đối v́ họ không tham dự. Ngày 15-8-1951 ngoại Trưởng Chu Ân Lai lên tiếng thanh minh và nhấn mạnh quần đảo Tây Sa và đảo Nam Uy cũng như quần đảo Nam sa đều thuộc về lănh thổ TQ.

 

-  Năm 1991, Wang Hengjie thuộc trung tâm nghiên cứu về các sắc tộc thiểu số đă dẫn sách “Hậu Hán thư” viết: “Chen Mao được bổ nhiệm làm quan Thái Thú tỉnh Giao Chỉ (Jiaozchi) đă thám thính, tuần tiễu trên biển Nam Hải”.

 

- Trung Quốc và các học gỉả TQ đă viện dẫn Hiệp Ước Pháp-Thanh 1887 để cho rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Họ trích một đoạn trong văn bản:“Từ Quảng Đông, những điểm tranh chấp nằm từ phía Đông đến phiá Tây Bắc của Móng Cái, ngoài biên giới đă được 2 phái bộ xác định, có thể xem là thuộc về Trung Quốc. Những ḥn đảo nằm ở phiá Đông dọc đường kinh tuyến Đông 10543’ của Paris, có nghĩa là trục Bắc Nam đi qua điểm phiá Đông của đảo Tch’a Kou hay Ouan-Chan (Trà Cổ) và làm thành đường biên giới, cũng thuộc về Trung Quốc. Các đảo Go-tho và các đảo khác nằm ở phía Tây của đường kinh tuyến thuôc về An Nam”. Từ đó họ cho rằng Hoàng sa, Trường Sa nằm ở phía Đông kinh tuyến Đông 10543’ của Paris nên thuộc về Trung Quốc.

 

- Năm 1992, Quốc hội TC ban hành đạo luật tuyên bố chủ quyền. Tất cả tàu bè kể cả tàu chiến và tàu nghiên cứu khoa học đi qua phải xin phép, nếu không sẽ bị đánh ch́m. Tháng 5-1992, TC kư khế ước với công ty khai thác dầu Crestone trên 1 diện tích 25.000 cây số vuông.

 

 

- Tháng 6 năm 2007, Trung Cộng phổ biến một bản đồ vẽ biển Đông của Việt Nam bao gồm cả Hoàng Sa Trường Sa là lănh hải mới của TC.

 

- Tháng 11 năm 2007, Trung Cộng chính thức công bố quyết định thành lập Huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản lư 2 quần đảo này

 

 

CHỨNG CỨ LỊCH SỬ CỦA VIỆT NAM

 

 

     Lần đầu tiên trong lịch sử, nhà bác học Lê Quí Đôn trong “Phủ Biên Tạp Lục” và sau này Phan Huy Chú đă viết trong Lịch Triều Hiến chương Loại chí về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Đây là nguồn sử liệu thành văn của các sử gia triều Lê và Nguyễn được xem là những chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền lănh thổ của Việt Nam liên tục từ xa xưa đến thế kỷ XVII.

 

 

A. PHỦ BIÊN TẠP LỤC CỦA LÊ QUƯ ĐÔN 

 

     Phủ Biên Tạp Lục là những ghi chép những việc xảy ra và cách thức giải quyết, phủ dụ trấn an trong thời gian Lê Quí Đôn trấn nhậm ở 2 đạo Thuận Hóa và Quảng Nam biên giới phía Nam của nước ta thời đó (Quảng B́nh, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngăi và B́nh Định bây giờ).

 

     Phủ Biên Tạp Lục được viết vào năm 1776 vào cuối đời Lê. Trong thời gian làm việc tại đây, Lê Quí Đôn đă tiếp xúc trao đổi với người dân tại đây từ những bô lăo, dân giả đến những thân hào nhân sĩ để hiểu rơ nguyện vọng của người dân. Ông cũng t́m hiểu địa lư nhân sinh cũng như những phong tục tập quán của dân gian. Phủ Biên Tạp gồm 6 quyển, mỗi quyển đề cập đến từng vấn đề:

 

- Quyển I: Viết về sự khai khẩn, khôi phục lại các phủ, huyện Tổng, xă của 2 xứ Thuận Hóa và Quảng Nam.

 

- Quyển II: Viết về h́nh thể, sông núi, thành lũy, đường sá, trạm dịch của 2 xứ Thuận Hóa và Quảng Nam.

 

- Quyển III: Viết về ruộng nương, vườn tược, lệ thu mua sản vật nông nghiệp, luật lệ quân sự, quan chức của 2 xứ Thuận Hóa và Quảng Nam.

 

- Quyển IV: Viết về nhân tài, văn thơ của caá tỉnh phía Nam.

 

- Quyển V: Viết về sản vật và phong tục địa phương.

 

Nhà bác học Lê Quí Đôn đă viết về 2 quần đảo Hoàng Sa và trường Sa như sau:

 

Soạn giả là Lê Quí Đôn, người vâng mệnh Hoàng Đế làm chức Tham thị Tham tán Quân cơ hai đạo Thuận Hoá Quảng Nam, lănh chức Hiệp trấn Phủ trấn Thuận Hoá, kiêm Quản Hữu Thắng cơ, đồng thời lănh chức Nhập thị Bồi tụng Hộ bộ Tả Thị Lang, được phong tước Dĩnh Thành Hầu.

 

… Ở ngoài cửa biển lớn thuộc về địa phận xă An Vinh huyện B́nh Sơn, phủ Quảng Nghĩa có một ḥn núi mang tên Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu ra biển bốn trống canh th́ đến. Phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia nơi đây có nhiều hải vật và những hóa vật được chở đi bán các nơi nên triều đ́nh có lập đội Hoàng Sa để thu nhặt các hải vật. Người ta phải đi 3 ngày đêm mới đến được đảo Đại Trường Sa. Như thế là đảo Đại Trường Sa đă đến gần xứ Bắc Hải …

 

… Phủ Quảng Ngăi, huyện B́nh Sơn có xă An Vĩnh, ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ ḥn này sang ḥn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh th́ đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có băi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng ngh́n, hàng vạn, thấy người th́ đậu ṿng quanh không tránh. Trên băi có nhiều hải vật lạ. Ốc vân th́ có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dung; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được.

 

Đồi mồi th́ rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là Trắng bông, giống đồi mồi nhưng nhỏ hơn, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được.

 

Lại có con Hải sâm thường gọi là con đột đột, bơi lội ở bến băi, người ta lặn xuống băi bắt Hải Sâm lấy về dùng vôi sát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn th́ ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn ăn thật ngon.

 

Các thuyền buôn nước ngoài bị băo thường đậu ở đảo này.

 

Ngày trước các chúa Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xă An Vĩnh sung vào. Mỗi năm họ luân phiên đi biển, tháng giêng ra đi nhận lănh chỉ thị làm sai dịch. Đội Hoàng Sa được cấp phát mỗi người 6 tháng lương ăn. Họ chèo 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm th́ đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, ṿng sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều.

 

Đến kỳ tháng tám th́ về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi đă xem số của cai đội cũ là Thuyên Đức Hầu biên rằng: năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân lượm được 5100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc, từ năm Kỷ Sửu đến năm Quư Tỵ năm năm ấy mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được thiếc khối, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi.

 

Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Thứ Chính ở B́nh Thuận, hoặc người xă Cảnh Dương, ai t́nh nguyện đi th́ cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu và các tiền tuần đ̣, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, t́m lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, c̣n vàng bạc của quư ít khi lấy được.

 

… Những người nước ta đi thuyền, đôi khi gặp những thuyền đánh cá của người Bắc Quốc (Trung Quốc) ở ngoài biển. Giữa biển cả, người 2 nước hỏi nhau, người ta thươờg lấy công văn của chính viên Đường quan huyện Văn Xương thuộc Quỳnh Châu (Hải Nam TQ) gửi cho xứ Thuận Hóa. Trong công văn, viên quan ấy đề: “Năm thứ 18, niên hiệu Càn Long(1753) mười tên quân nhân ở xă An Vĩnh trong đội kiếm vàng thuộc huyện Chung Nghĩa, phủ Quảng Nghĩa nước An Nam, ngày tháng 7 đi ra Vạn Lí Trường Sa lượm nhặt các hải vật. Tám người trong số đó lên bờ biển  t́m nhặt các hải vật, c̣n 2 người ở lại giữ thuyền. Môt trận cuồng phong mạnh làm đứt neo thuyền nên 2 người ấy trôi giạt vào cảng Thanh Lan Trung Quốc. Viên quan địa phương tra xét đích thực, nên cho đưa hai người này trở về nguyên quán. Chúa Nguyễn Phúc Chu truyền lệnh cho chức quan Cai bạ ở Thuận Hóa là Thực Lượng hầu viết văn thư phúc đáp viên Đường quan huyện Văn Xương Trung Quốc”.

 

     Nguồn sử liệu đầy đủ và chính xác trên hết sức gía trị trong việc xác nhận chủ quyền lịch sử liên tục của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Một điểm hết sức quan trọng đó là việc 2 người lính trong đội t́m vàng tại Vạn Lư Trường Sa của huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Nghĩa Thuận Hóa bị trôi giạt vào đảo Hải Nam TQ. Viên quan huyện Văn Xương, Quỳnh Châu Hải Nam trả về, đồng thời gửi văn thư cho Thuận Hóa. Nếu Trường Sa là của Trung Quốc th́ không những bắt giữ 2 người lính trên mà c̣n gửi công văn phản đối Việt Nam đă vi phạm lănh thổ của TQ. Văn thư của viên Huyện Trưởng Văn Xương Quỳnh Nhai TQ đă xác nhận Vạn Lư Trường Sa là của Việt Nam. Đây là chứng cứ không thể phủ nhận được vê chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

 

B. LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG LOẠI CHÍ

 

     Sau Phủ Biên Tạp Lục của nhà bác học Lê Quí Đôn là Lịch Triều Hiến Chương Loại chí và Hoàng Việt Địa dư chí của Học gỉa Phan Huy Chú đă đề cập chi tiết về chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và trường Sa.

 

     Phan Huy Chú là con của danh sĩ Phan Huy Ích. Năm 1821, vua Minh Mạng triệu vào Huế và cho giữ chức Biên Tu ở Quốc Tử Giám. Năm 1828, giữ chức Phủ Thừa phủ Thừa Thiên rồi lần lượt được thăng chức Hiệp Trấn Quảng Nam, Thị Độc viện Hàn Lâm, Phó sứ đi Trung Quốc và Nam Dương. Cuối năm 1832, ông từ quan về nhà dạy học. 

 

     Lịch Triều Hiến Chương Loại chí chép về Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam như sau:

 

Phủ Tư Nghĩa có 3 huyện, huyện Nghĩa Giang có 93 xă, huyện B́nh Dương có 70 xă, huyện Mộ Hoa có 50 xă.

 

Phủ Tư Nghĩa ở giữa đạo Quảng Nam, miền thượng du có núi liên tiếp giăng ngang, phía dưới đến tận biển cả, ở giữa địa thế rộng răi, từ thời Thái Vương (tức chúa Tiên Nguyễn Hoàng) chuyên chêếđôổi làm phủ Tư Nghĩa gồm 3 huyện. Nơi đây vật lực dồi dào, lúa gạo nhiều không kể xiết, vàng bạc, cây gỗ, châu báu, trầm hương, tốc hương vô số Lại có đảo lơớ, đảo nhỏ ở ngoài biển, cảnh vật tươi tốt, của quí vật lạ phần lớn ở tại nơi này.

 

Thôn An Vĩnh thuộc huyện B́nh Dương ở ngoài biển , gần phía Đông Bắc. Ngoài biển có ḥn đảo lớn, nhiều núi linh tinh hơn 130 ngọn. Từ trong núi ra ngoài biển ước tính một ngày đường hoặc một vài trống canh. Trên núi có suối nước ngọt, giữa ḥn đảo có băi Hoàng Sa, dài độ 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy.

 

Trên đảo có vô số yến sào (tổ chim yến), bầy chim kể hàng ngàn hàng vạn, thấy người bay tới đậu chung quanh không sợ. Bên băi có rất nhiều vật lạ. Về ốc hoa có thứ gọi là ốc tai voi, lớn bằng tấm chiếu, trong bụng có hạt châu lớn bằng ngón tay, vỏ nó có thể đẽo thành bia, lại có thể hầm vôi để tô trét nhà cửa. Có thứ gọi là ốc xà cừ, có thể trang sức đồ vật, lại gọi là ốc hương. Có thứ đồi mồi rất lớn, gọi là Hải ba, vỏ mỏng, có thể trang sức đồ dung, trứng như ngón tay cái. Có thứ gọi là Hải sâm, tục gọi là con đột đột, ḅ chơi trên băi cát, người ta bắt lấy, dung vôi chà xát qua, bỏ ruột, phơi khô, khi ăn lấy nước cua ngâm, nấu chung với tôm, thịt heo ăn rất ngon.

 

Nhiều thuyền buôn đi ngang qua gặp gió băo đều nương đậu ở đảo này.

 

Ngày trước, các chúa Nguyễn có đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy người thôn An Vĩnh thay phiên, bổ sung vào. Hàng năm cứ đến tháng ba nhận lịnh đi làm việc, đem theo lương thực 6 tháng, dung 5 chiếc thuyền nhỏ, đi 3 ngày đêm mới tới đảo này.

 

Đến nơi đó, họ tự bắt cá mà ăn, t́m lấy được nhiều đồ quí báu của các thuyền bị đắm, họ cũng nhặt lượm khá nhiều hải vật. Họ ở đó qua tháng 8 mới trở về cửa Eo (Yêu môn), rồi tới thành Phú Xuân…”.

 

     Sách Hoàng Việt Địa dư chí của Phan Huy Chú in năm Nhâm Thân 1872 chép lại giống như trong Lịch Triều Hiến chương Loại chí.

 

 

C. SÁCH SỬ TRIỀU NGUYỄN

 

Một số sách sử do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn để cập tới Hoàng Sa và Trường Sa gồm:

 

1.  ĐẠI NAM THỰC LỤC TIỀN BIÊN

 

Đại Nam Thực lục Tiền biên quyển I chép việc xảy ra đời chúa Nguyễn Phúc Khoát từ năm 1738 đến 1765 như sau:

 

“… Tháng 7 mùa Thu, năm Giáp Tuất (1754) dân đội Hoàng Sa gặp gió tlớn, trôi giạt vào hải phận Quỳnh Châu, thuộc triều Thanh. Quan Tổng đốc Thanh triều chu cấp đầy đủ thức ăn rồi sai đưa về. Chúa sai viết thư gửi qua cám ơn.

 

Ngoài biển xă An Vĩnh, huyện B́nh Sơn, tỉnh Quảng Nghĩa có hơn 13o cồn cát, cách xa hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh, chiều dài kéo dài không biết tới mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn Lí Hoàng Sa Châu, trên có giếng nước ngọt, sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, giải, ba ba …

 

Hồi quốc sơ đầu triều Nguyễn, đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xă An Vĩnh sung vào. Hàng năm cứ đến tháng 3 chèo thuyền ra đảo, ba ngày đêm th́ tới nơi, thu lượm hoá vật, đến tháng 8 trở về nộp.

 

Lại có đội Bắc hải mộ dân thôn Tư Chính, B́nh Cổ hoặc xă Cảnh Dương sung vào, được lệnh chèo thuyền nhỏ ra các đảo Côn Lôn ở Bắc Hải thu lượm hoá vật cũng do đội Hoàng Sa cai quản luôn …”.

 

 

2.  ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN 

 

     Sách Đại Nam Thực lục Chính biên kỷ thứ nhất, quyển 52 chép:

 

Thực lục Thế Tổ Cao Hoàng đế

… Năm Bính Tư, niên hiệu Gia Long 15 (1816)

 

“Vua ra lệnh cho Thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra đảo Hoàng Sa để khám xét và đo đạc đường thủy…”

 

     Đại Nam Thực lục Chính biên kỷ thứ hai, quyển 104 chép:

 

“… Vua bảo bộ Công rằng: “Dải Hoàng Sa trong địa phận Quảng Nghĩa, xa trông trời nước một màu, không phân biệt được cạn hay sâu. Gần đây, thương buôn thường ít bị đắm. Nay nếu dự bị thuyền bè, đến sang năm sẽ phái người tới dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn, xanh tốt, người dễ nhận biết. Việc này có thể tránh được nhiều nạn mắc cạn. Đó cũng là việc muôn đời vậy”.

 

     Đại Nam Thực lục Chính biên kỷ thứ hai, quyển 122 chép:

 

Năm Giáp Ngọ, Minh Mạng thứ 15(1834)

 

Vua sai Giám thành Đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người, đi thuyền tới đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nghĩa vẽ bản đồ xong rồi về.

 

Khi về vua hỏi về những loại sản vật ở đấy. Trương Phúc Sĩ tâu: “Đó là cát ở giữa biển, mênh mông không biết đâu là bờ… Nhân đó, Tr ư ơng Phúc Sĩ đem dâng lên vua những thứ thu lượm được ở đảo như chim, cá, ba ba, ốc, ṣ, ngao đă bắt được ở nơi đó. Tất cả đều là vật lạ ít khi thấy.

 

Vua cho vời các thị thần đến xem và khen thưởng những người đi công tác về, phát tiền bạc cho những người đă tham gia công tác đó.”.

 

 

DỰNG BIA TRÊN ĐẢO HOÀNG SA

 

     Vua Gia Long đă đặt chân lên quần đảo Hoàng Sa ngay từ năm 1802. Trong thời gian này, Việt  Nam đă thành lập công ty Hoàng sa, gồm khoảng 70 thủy thủ, đi Hoàng sa để t́m hải vật.

 

    Đến đời Vua Minh Mạng (1820-1848), ngài đặc biệt chú ư đến Hoàng Sa. Trong cuốn “Hoàng Việt Địa Dư” (ấn hành năm 1835) đă chứng minh chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa như sau: “Ở phía Đông Bắc xă An Ninh, Huyện B́nh Sơn và ở ngoài biển khơi có một quần đảo gồm có 130 đảo nhỏ. Những ḥn đảo này cách nhau bằng một ngày thuyền hoặc vài giờ thuyền. Dưới ven đảo đều có giếng nước ngọt. Ở giữa những mỏm đá người ta thấy có một băi cát vàng bao la nên đảo này mang tên là Hoàng Sa. Nơi đây có sóng biển dữ dội.” Vua Minh Mạng đă sai đội hải thuyền chở gạch đá ra Hoàng Sa dựng chùa “Phật Cổ Tự” và dựng tấm bia “Vạn Lư Ba Đ́nh” (nghĩa là sóng êm nơi xa vạn lư) làm dấu tích. Theo “Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu” th́ Vua Minh Mạng đă thân chinh đến quần đảo Hoàng sa năm 1836 để quan sát việc đo đạc, xác định vị trí và lập họa đồ.

 

     Đại Nam Thực lục Chính biên kỷ thứ hai, quyển 154 chép: Thực lục Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế

 

Năm Ất Mùi, Minh Mạng thứ 16 (1835)

 

Dựng “Thần tử” ở đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nghĩa

 

Đảo Hoàng Sa ở hải phận tỉnh Quảng Nghĩa, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh tươi, giữa cồn cát* có giếng nước, phía Tây Nam có ngôi miếu cổ. Nơi ấy có tấm bảng khắc 4 chữ “Vạn Lư Ba b́nh”.

 

Đại Nam Thực lục Chính biên, Kỷ thứ hai, quyển 165 viết:

 

Thực lục Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế

Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836)

 

Bộ Công tâu: “Đảo (xứ) Hoàng Sa thuộc vùng biển nước ta, đây là nơi rất hiểm yếu. Trước đă từng sai vẽ bản đồ, nhưng v́ h́nh thể xa rộng, nên chỉ mới vẽ được một chỗ, vả lại cũng chưa biết nên làm thế nào cho rơ.

 

Hàng năm thường phái người đi quan sát khắp cả để biết tường tận đường biển. Kể từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái Thủy quân đội mũ (binh biển) cùng Giám thành đáp một chiếc thuyền nhằm thượng tuần tháng hai đến Quảng Nghĩa, giao cho 2 tỉnh Quảng Nghĩa và B́nh Định, thuê 4 chiếc thuyền của dân, khiến họ dẫn đường ra đảo Hoàng Sa.

 

Không kể là đảo nào, băi cát nào, phàm khi thuyền đến nơi, tức th́ căn cứ ngay chỗ ấy, có chiều dài, chiều ngang, chiều cao, bề rộng, chu vi và biển lớn 4 phiá chung quanh cạn hay sâu, có băi ngầm, đá ngầm hay không?.

 

H́nh thế hiểm trở, dễ dàng thế nào, phải quan sát đo đạc rơ ràng rồi vẽ thành bản đồ. Lại nữa, phải căn cứ vào ngày khởi hành từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến nơi ấy, căn cứ vào con nước (thủy tŕnh) đă qua, tính rơ được bao nhiêu dặm. Lại cũng từ nơi ấy trông vào bờ biển, thẳng đường là vào tỉnh nào?, phương hướng nào? ước lượng cách bờ biển khoảng bao nhiêu dặm? Tất cả đều nhất thiết phải miêu tả cho rơ, lần lượt đem về dâng tŕnh. Vua y lời tâu. Sai Suất đội Thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi. Chuẩn bị mang theo 10 cái bài gỗ, đến nơi dựng bài lên làm dấu ghi rơ (mỗi bài gỗ dàt 5 thước, rộng 3 tấc, dày 1 tấc). Mặt bài khắc những chữ “Minh Mạng năm thứ 17, Bính Thân (năm 1836). Thủy quân Đội trưởng Suất đội Phạm Hữu Nhật vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ”.

 

Sách Khâm định Đại Nam Hội điển Sự lệ cũng nhắc tới Hoàng Sa của Việt Nam như sau: “Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), tâu xin cho xây cất một gian miếu tại Hoàng Sa (theo kiểu nhà đá) nằm ở phiá Tây Nam cồn Bạch Sa, bên trái dựng bia đá (cao 1m5, rộng 1m2). Mặt trước xếp đá che, hai bên mặt, trái, phía sau miếu có trồng các loại cây.”.

 

3. KHÂM ĐỊNH ĐẠI NAM Hội điển Sử lệ (1851)

 

Sách Khâm định Đại Nam Hội điển Sự lệ cũng nhắc tới Hoàng Sa của Việt Nam như sau: “Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), tâu xin cho xây cất một gian miếu tại Hoàng Sa (theo kiểu nhà đá) nằm ở phiá Tây Nam cồn Bạch Sa, bên trái dựng bia đá (cao 1m5, rộng 1m2). Mặt trước xếp đá che, hai bên mặt, trái, phía sau miếu có trồng các loại cây.”.

 

 

4. QUỐC TRIỀU CHÍNH BIÊN TOÁT YẾU quyển 3 có đoạn chép về Hoàng Sa như sau: “Dựng Hoàng Sa Thần tử Quảng Nghĩa

 

Hải phận Hoàng Sa thuộc Quảng Nghĩa có một chỗ có cồn cát trắng, nơi ấy cây cỏ xum xuê tươi tốt. Ở trong cồn cát có một cái giếng. Phía Tây Nam có một ngôi miếu cổ, bia đá khắc bốn chữ “Vạn Lư Ba Binh” nghĩa là muôn dặm song yên. Cồn cát trắng kia có tên là Phật Tử sơn. Các bờ Đông Tây và Nam đều có San Hô. Nơi đây có một đồi đá nổi lên chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với đồi cát gọi là Bàng Bang thạch. Nay ra lệnh xây miếu và dựng bia ở chốn này. Trước miếu có xây b́nh phong”.

 

Tháng giêng năm Bính Thân thứ 17 (11836)

 Khiến thủy quân Suất đội Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đến Quảng Nghĩa, thẳng tới đảo Hoàng Sa, không nệ cù lao nào, cồn cát nào, phàm chiều dài, chiều ngang, chiều rộng, chiều cao, chu vi và 4 phía gần đó có cát ngầm, đá mọc hay không, h́nh thế hiểm trở thế nào, từ cửa biển ra đo đường thủy ước lượng bao nhiêu dặm, bờ biển thuộc địa phương nào, nhất nhất ghi chép cho rơ ràng. Lại chuẩn bị mang theo thẻ gỗ đến nơi dựng lên làm dấu, vẽ bản đồ đem về dâng lên cho ngài xem.”

Quốc triều Chính biên Toát yếu, quyển III, tờ 110a

 

Năm Bính Thân thứ 17 (1836), Tháng 12, tàu buôn nước Anh Cát Lợi qua băi Hoàng Sa bị mắc cạn, ghé vào bờ biển B́nh Định hơn 90 người. Nhà vua sai t́m nơi cho ở và chu cấp tiền bạc hậu hỹ. Thuyền trưởng, đầu mục tỏ ra rất cảm kích. Nhà vua sắc cho phái viên đi Tây là Nguyễn Tri Phương đem mấy người ấy xuống bến Hạ Châu đưa về nước.”

 

4. SÁCH ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ

 

     Đại Nam Nhất thống Chí do Tổng Tài Quốc sử quan Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xứng và Trần Xang soạn năm 1865 đời Tự Đức. Sách soạn xong năm 1910 vào đời vua Duy Tân. Đại Nam Nhất thống Chí là một công tŕnh viết về Địa lư, Phong tục, danh thần, liệt nữ … nên được xem như một loại Địa phương Chí công phu, chính xác. Sách viết về Hoàng Sa và Trường Sa như sau:

 

     Đại Nam Nhất thống Chí, quyển chi lục, Quảng Nghĩa tỉnh

Phần h́nh thể chép : “Phía Đông có đảo Hoàng Sa nằm ngang, liên tiếp giữa biển lớn làm ao sâu. Phía Tây pḥng ngự Sơn Man quấy nhiễu, có lũy đá dài để giữ cho vững chắc. Phiá Nam giáp đèo Bến Đá (B́nh Định) đường nẻo sung yếu, phiá Bắc tiếp giáp động cát Quảng Nam chia làm giới hạn …

 

 

Đảo Hoàng Sa

 

     Ở phiá Đông cù lao Ré, từ bờ biển Sa Ki, ghe chạy dọc ra khơi, nếu thuận gió th́ 3,4 ngày sẽ đến nơi. Trên đảo có các núi la liệt hơn 130 ngọn, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc trong vài trống canh. Trên đảo có đảo Hoàng Sa (Cát vàng) kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục danh (nên gọi là) Vạn Lư Trường Sa. Trên băi cát có giếng nước ngọt, nhiều giống chim quần tụ không biết bao nhiêu mà kể. Lại có những sản vật như HSâm, Đại Mội (Đồi Mồi), Văn Loa (Ốc có vằn) và Ngoan Niết (Ba Ba). Những thuyền bè chở hóa vật gặp gió to phải vào núp ở đây.

 

Vào đầu triều Nguyễn có lập đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xă An Vĩnh sung vào. Thường vào độ tháng 3, cho ghe ra biển t́m lấy hải vật, đến tháng 8 chặy về cửa biển Tư Hiền cung nạp. Lại đặt them đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản đến đảo Bắc Hải và đảo Côn Lôn t́m bắt Hải vật. Phiá Đông đảo này gần phủ Quỳnh Châu thuộc tỉnh Hải Nam nước Trung Hoa.

 

Đầu niên hiệu Gia Long cũng phỏng theo chế độ cũ đạt đội Hoàng Sa, sau đó băi bỏ. Vào đầu niên hiệu Minh Mạng, nhà vua thường sai binh thuyền đến nơi đó để ḍ xét hải tŕnh (đường biển), thấy có một g̣ cát trắng, chu vi khoảng 1.070 trượng, cây cối xanh tươi rậm rạp. Trong g̣ ấy có giếng nước. Phía tây có ngôi miếu cổ, không biết dựng từ lúc nào tấm bia chạm (khắc) 4 chữ “Vạn Lư Ba b́nh” (muôn dặm biển yên song lặng) nguyên tên xưa gọi là Phật tự sơn, hai bên đều trải đá San hô, quanh ra đến mặt nước. Phía tây Bắc đột khởi (nhô lên) một cái g̣ chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 2 thước, bằng g̣ nói trên tên gọi là Bàng Bang thạch.

 

Niên hiệu Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà vua sai Đội quan thuyền chở gạch đá ra xây dựng chùa, phiá bên trái có dựng bia đá làm dấu tích.

 

Thuở ấy binh phu ứng dịch tại đây, đào được đồng lá và gang sắt trên 200 cân”.

 

5. VIỆT SỬ CƯƠNG GIÁM KHẢO LƯỢC

 

     Bộ sách gồm 7 quyển do danh sĩ, sử gia Nguyễn Thông (1827-1894) biên soạn năm 1877. Sách c̣n có tên gọi là Việt sử Giám khảo lược, Việt sử khảo yếu hay Việt sử Khảo lược. Ngoài thơ văn, lịch sử, Nguyễn Thông c̣n là một học giả với những công tŕnh nghiên cứu như Độn Am Thi văn tập, Kỷ xuyên Thi văn tập và Kỷ Xuyên Công độc …

 

     Việt sử Cương giám Khảo lược viết về Hoàng Sa như sau: “Vạn Lư Trường Sa thuộc đảo Lư Sơn, tỉng Quảng Ngăi (tục gọi ngoài Lao, người TQ th́ nói ngoài La). Đi thuyền theo hướng Đông chạy ra, chỉ 3 ngày đêm là đến nơi. Nước Việt Nam ta xưa kia thường chọn người tráng đinh ở 2 đội An Hải và An Vĩnh đặt làm đội Hoàng Sa để thu lượm hải sản, mỗi năm cứ tháng 2 ra đi, tháng 8 trở về.

 

Băi cát từ Đông qua Nam, nổi lên ch́m xuống, kể hàng ngh́n trăm dặm, trong d0ó có những vũng sâu, tàu thuyền có thể đậu được. Trên băi có sản xuất nước ngọt, chim biển nhiều loại không biết gọi tên là ǵ. Trên Vạn Lư Trường Sa có ngôi miếu cổ lợp ngói, có tấm biển khắc 4 chữ “Vạn Lư Ba b́nh” (muôn dặm song yên), không rơ xây dựng từ đời nào.

 

Quân lính ra đó thường mang các thứ cây quả phương Nam tới gieo trồnh chung quanh miếu để ghi dấu vết. Từ ngày đội Hoàng Sa triệt bỏ cho đến nay không c̣n ai qua lại chốn ấy nữa.

 

Trong những truyện kư người đời xưa để lại, thường nói đến những thắng cảnh của mười châu, ba đảo ở ngoài bể. Ngày nay xem ra không thể bảo rằng không có những đất như thế, nhưng cho đó là hang thần động tiên th́ thật là sai lầm …

 

6. SẮC CHỈ CỦA VUA MINH MẠNG

 

     Lệnh của quan Bố Chánh Quảng Ngăi thực thi sắc chỉ của nhà vua Minh Mạng cử người ra canh giữ quần đảo Hoàng Sa.

 

Text Box:

 

 

 

 


 

 

 

 

 

Ngày 15-4-1835 phái một đội thuyền gồm 3 chiếc với 24 lính thủy ra canh giữ đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15, tức năm Ất Mùi 1835. Sắc chỉ ghi rơ:

 

 “Giao cho ông Vơ Văn Hùng ở Lư Sơn chọn những thanh niên khỏe mạnh và giỏi nghề bơi lặn để gia nhập đội thuyền; giao Đặng Văn Siểm là ḍng họ ông Đặng đang giữ tài liệu lo kham việc đà công tức người dẫn đường; giao Vơ Văn Công phụ trách hậu cần”.

 

 

HIỆP ƯỚC GIÁP THÂN 1884

 

Theo hiệp ước Giáp Thân (6.6.1884), Pháp đại diện quyền lợi của nước Đại Nam trong quan hệ đối ngoại, trong việc bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lănh thổ.  Pháp thực hiện chủ quyền của Đại Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, những nơi mà trước đây vương triều Nguyễn đă xác lập bằng sự chiếm hữu công khai, liên tục và hoà b́nh. Các pháo hạm của Pháp thường xuyên tiến hành tuần tiễu trong vùng biển Đông và Hoàng Sa và Trường Sa. Cùng với việc đưa hải quân đến trú đóng, nhiều hoạt động thám sát, khảo cứu, xây dựng… trên hai quần đảo được Chính phủ Pháp lần lượt thực hiện. Những hoạt động thực thi chủ quyền ngày càng được củng cố qua những văn bản pháp quy hoặc các tuyên bố của những người có thẩm quyền, chức trách cao nhất của quốc gia.

 

- Ngày 3.3.1925, Thượng thư bộ binh Nam triều Thân Trọng Huề tái khẳng định Hoàng Sa là của Đại Nam.

 

- Ngày 12.12.1933, thống đốc Nam Kỳ kư nghị định sát nhập các đảo Trường Sa vào địa phận tỉnh Bà Rịa.

 

- Chỉ dụ số 10, ngày 29 tháng 2 năm Bảo Đại 13 (1938) về việc chuyển đổi hành chính đảo Hoàng Sa do Nam triều quốc ngữ công báo công bố, toàn văn như sau:

 

Chiếu chỉ các cù lao Hoàng Sa (Archipel des Iles Paracels) thuộc về chủ quyền nước Nam đă lâu đời và dưới các tiền triều, các cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam Ngăi (Quảng Nam, Quảng Ngăi). Đến đời đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế vẫn để y như cũ là v́ nguyên trước sự giao thông với các cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam -Ngăi. Chiếu chỉ nhờ sự tiến bộ trong việc hàng hải nên việc giao thông ngày nay có thay đổi, vả lại viên Đại diện chính phủ Nam Triều uỷ phái ra kinh lư các cù lao ấy cùng quan đại diện chính phủ bảo hộ có tâu rằng nên tháp các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên thời được thuận tiện hơn. Dụ (Độc khoản): trước chuẩn tháp nhập các cù lao Hoàng Sa (Archipel des Iles Paracels) vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên; về phương diện hành chính các cù lao ấy thuộc dưới quyền quan Tỉnh hiến tỉnh ấy. Khâm thử” (Công báo, số 8, năm 1938)

 

- Trên cơ sở đồng thuận với chủ trương của Nam Triều, ngày 5.6.1938, toàn quyền Đông Dương Jules Brévié kư nghị định thành lập một đơn vị hành chính tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên. Đồng thời, cho dựng bia chủ quyền tại đảo Hoàng Sa, với ḍng chữ:“République Francaise-Empire d’Annam-Archipel des Paracels 1816-Ile de Pattle 1938”. (Cộng Hoà Pháp-Vương quốc An Nam-Quần đảo Hoàng Sa 1816-Đảo Hoàng Sa 1938).

 

    Bia chủ quyền này đă lấy năm 1816 làm mốc thời gian chiếm hữu chính thức, dựa theo một sự kiện được chép trong Đại Nam thực lục:“Năm Bính Tư, Gia Long thứ 15 (1816), tháng 3, sai thuỷ quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để thăm ḍ đường thuỷ”. (Chính biên, kỷ thứ nhất, quyển 52).

 

- Sau thế chiến 2, Pháp lại phái chiến hạm ra quần đảo Hoàng Sa, xây dựng lại trạm khí tượng trên đảo và chống các hành động lấn chiếm của Trung Quốc.

- Năm 1939, vua Bảo Đại ban hành một tờ Châu bản liên quan đến chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa như sau:

 

Năm 1939 theo lời đề nghị của Toà Khâm sứ Pháp ở Trung Kỳ  chuyển qua Nam Triều ở Huế đề nghị khen thưởng cho đội khố xanh có công dẹp một số man di nhất là ở Cao Nguyên, nhất là đội khố xanh có công pḥng thủ ở Hoàng Sa là nên khen thưởng cho họ bằng huy chương”.

 

Tổng lư ngự tiền văn pḥng lúc đó là Phạm Quỳnh đă làm tờ tấu lên vua Bảo Đại và vua đă phê chuẩn  theo lời đề nghị đó và đă được tống đạt đi để thi hành. Nguồn sử liệu này chứng minh việc thực thi chủ quyền liên tục về tổ chức hành chánh của quốc gia Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

- Ngày 7.9.1951, tại hội nghị San Francisco, Thủ tướng Trần Văn Hữu, trưởng đoàn đại biểu chính phủ Bảo Đại tuyên bố:  “Cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền đă có từ lâu đời của chúng tôi đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Lời tuyên bố này không gặp phải sự phản kháng nào.

 

 

 

CÁC HIỆP ĐỊNH QUỐC TẾ

 

1. HIỆP ĐỊNH GENÈVE 20-7-1954

 

Năm 1954, để giải quyết Chiến Tranh Đông Dương, Hội Nghị Genève  được triệu tập với sự tham dự của 9 quốc gia gồm Ngũ  Cường: Mỹ, Anh, Pháp, Liên Sô và Trung Quốc, cùng với Ai Lao, Cao Miên và 2 nước Việt Nam là Quốc Gia Việt Nam (Miền Nam) và Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (Miền Bắc). Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954 trong đó có Trung Quốc tham dự,  một lần nữa, đă xác nhận chủ quyền lănh thổ của Việt Nam Cộng Ḥa (lúc này là Quốc Gia Việt Nam) tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Theo Điều 4 Hiệp Định Genève: "Giới tuyến giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam kéo dài ra ngoài hải phận theo một đường thẳng góc với đường ven biển. Quân đội Liên Hiệp Pháp phải rút khỏi tất cả các hải đảo về phía Bắc giới tuyến (Vĩ Tuyến 17). Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (Miền Bắc) phải rút khỏi tất cả các hải đảo về phía Nam giới tuyến (Vĩ Tuyến 17) trong đó có các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

 

Tuyên Cáo Cairo 1943, Tuyên Ngôn Potsdam 1945, Ḥa Ước Ḥa B́nh San Francisco 1951 và Hiệp Định Genève 1954, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc chủ quyền lănh thổ của Trung Quốc mà thuộc chủ quyền lănh thổ của Việt Nam Cộng Ḥa.

 

- Tháng 4 năm 1956, Pháp rút quân khỏi Đông Dương, quân đội Việt Nam Cộng Hoà chỉ kịp thời thay thế quân Pháp tại nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa, nhóm đảo phía Đông bị quân đội Trung Quốc thừa cơ chiếm cứ. Đài Loan cũng thừa cơ chiếm đảo Ba Đ́nh ở Trường Sa.

 

- Ngày 1.6.1956, ngoại trưởng Việt Nam cộng hoà Vũ Văn Mẫu tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và lên án sự chiếm đóng trái phép của quân đội Trung Quốc và Đài Loan. Chính phủ kư sắc lệnh ngày 22.10.1956 đặt quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy, sắc lệnh ngày 13.7.1961 lập quần đảo Hoàng Sa thành xă Định Hải thuộc quận Hoà Vang tỉnh Quảng Nam.

 

- Ngày 13.7.1971, tại hội nghị ASPAC (Manille), ngoại trưởng Việt Nam cộng hoà Trần Văn Lắm, tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

 

2. HIỆP ĐỊNH PARIS 27-1-1973

 

Ngày 27-1-1973 Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Ḥa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa và Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam đă kư Hiệp Định Ḥa B́nh Paris nhằm "kết thúc chiến tranh và tái lập ḥa b́nh tại Việt Nam". Điều 15 qui định "Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp ḥa b́nh trên căn bản thương nghị và thỏa thuận giữa Miền Nam và Miền Bắc, không bên nào cưỡng ép bên nào, không bên nào thôn tính bên nào, thời gian thống nhất sẽ do Miền Nam và Miền Bắc Việt Nam đồng thỏa thuận".

 

ĐỊNH ƯỚC PARIS

 

Để thi hành Hiệp Định Paris, với sự chứng kiến của ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc, 12 bên tham dự Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam đă kư  Định Ước của Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam  ngày 2-3-1973. Điều 4 qui định "các bên kư kết Định Ước này trân trọng cam kết sẽ triệt để tôn trọng chủ quyền độc lập, thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lănh thổ của Việt Nam". Trung Quốc đă kư vào định ước 2-3-1973 nhưng 10 tháng sau, tháng 1-1974, Trung Quốc đă huy động toàn lực để xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Ḥa. Hành động ngang ngược này của Trung Cộng bất chấp Tuyên Cáo Cairo, Tuyên Ngôn Potsdam, Hiệp Ước Ḥa B́nh San Francisco, Hiệp Định Genève và Định Ước của Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam. Ngoài ra Trung Quốc c̣n vi phạm Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, xâm phạm sự toàn vẹn lănh thổ của Việt Nam và xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Sự xâm chiếm này không được luật pháp thừa nhận.

 

     Từ ngày 17 đến 20.1.1974, Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự tấn công và chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Trong trận hải chiến này hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo Nguyễn Văn Thà cùng 58 binh sĩ đă hy sinh. Bằng sức mạnh quân sự của một cường quốc, Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa. Đây chỉ là sự tạm chiếm của một nước lớn bá quyền v́, chiếu Điều 77 Luật Biển th́: “Thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải, mọi sự chiếm cứ bất cứ từ đâu tới đều vô giá trị và vô hiệu lực, nhất là chiếm cứ vơ trang”.

 

     Đại diện chính phủ Việt Nam cộng hoà tại Liên Hiệp Quốc gửi công hàm đến chủ tịch Hội đồng Bảo an và tổng thư kư Liên hiệp quốc, phản đối hành động xâm lược của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Ngày 14.2.1975, bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hoà công bố Bạch thư về Hoàng Sa và Trường Sa.

 

CỔ SỬ CỦA TRUNG QUỐC XÁC ĐỊNH

CHỦ QUYỀN LỊCH SỬ CỦA VIỆT NAM

 

     Trong khi Trung Quốc chỉ dựa trên những nguồn sử liệu mơ hồ th́ Việt Nam đă trưng ra những chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền lịch sử của Việt Nam không thể chối căi được . Đặc biệt, chính cổ sử Trung Quốc cũng xác nhận sự kiện lịch sử TQ xâm lăng VN là một chứng cứ không thể phủ nhận được đă xác định chủ quyền lịch sử của Việt Nam.

 

1. Cổ sử Trung Quốc chép “Năm Quí Tỵ 2.198TDL, vua Đại Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê. Năm Qúi Măo 2.085TDL vua Thiếu Khang nhà Hạ phong cho con thứ là Vô Dư ở đất Việt”.

 

2. Cổ sử Trung Quốc chép: “Thành Thang tên Lư, được nhà Hạ phong ở đất Thương, sau hợp với chư hầu đem quân về tiêu diệt nhà Hạ.Thành Thang lên ngôi đóng ở Hà Nam, đổi quốc hiệu là Thương. Đến đời Bàn Canh (1401-1374 TDL) dời đô về đồi Ân (Ân khư) nên đổi tên là Ân. Triều Thương kéo dài 612 năm từ năm 1766 đến 1154 TDL gồm tất cả 30 đời vua khắc trên giáp cốt”.

 

     Tộc Thương là tộc du mục ở Tây Bắc nên có quan hệ huyết thống với Mông Cổ và cả Thổ Nhĩ Kỳ (Turc) nữa nên có một nền văn minh du mục, biết nuôi ngựa và biết sử dụng chiến xa như các nước Tây Á, biết cách luyện kim, áp dụng chiến thuật quân sự phương Bắc với ngựa, chiến xa nên thắng nhà Hạ với nền văn minh nông nghiệp một cách dễ dàng.

 

3. Cổ sử Trung Quốc chép: “Đời Cao Tông triều Ân, vượt Hoàng Hà đánh nước Quỉ Phương (Xích Qui Phương) 3 năm không thắng …”.

 

     Kinh Thư, Sử Kư Tư Mă Thiên và bộ Trúc Thư Kỷ niên chép đời Vũ Định là vị vua thứ 22, lấy hiệu là Cao Tôn, th́ một biến cố quan trọng xẩy ra được bộ Trúc Thư ghi lại như sau: “Năm thứ 32, đem quân đánh Quỉ Phương và đóng quân tại Kinh”.

 

4. Cổ sử Trung Quốc chép “Dân Lạc ở vùng sông Lạc Thiểm Tây vùng Tam Giang Bắc gồm sông Vị, sông Hoàng,  sông Lạc và Ba Thục”. Năm 770TDL, sau khi bị “Khuyển Nhung” tức Lạc bộ Chuy đánh chiếm Kiển Kinh, triều Chu phải dời đô về Hà Nam phía Đông. Triều Chu giao cho Tần trấn giữ hướng Tây. Năm 659TDL, Tần Mục Công đánh thắng Lạc bộ Chuy. Sử Kư của Tư Mă Thiên chép: “ Lạc bộ Chuy bị Tần Mục Công diệt vào đời Chu Thành Vương năm 659TDL thời Đông Chu.

 

5. Sử Kư của Tư Mă Thiên chép: “Đời Chu An Vương, Sở Điệu Vương sai Bạch Khởi đánh dẹp Bách Việt ở miền Nam”. Sử Kư mục Đông Việt truyện chép: “Đông Việt hay Đông Âu (Âu Việt ở phía Đông) trong thời Tần Hán đóng đô ở Vĩnh Ninh tức Vĩnh Gia miền Triết Giang, Mân Việt ở đất Mân Trung tức miền Phúc Kiến. Nam Việt đô ở Quảng Châu gọi là thành Phiên Ngung thuộc miền Quảng Đông. Tây Âu (Âu Việt ở phía Tây) ở phía Nam sông Ly miền Quảng Tây …”.

 

Sách Lă Thị Xuân Thu viết: “Phía Nam Dương, Hán là Bách Việt”.

 

5. Tiền Hán thư, Hậu Hán Thư và Sử Kư của Tư Mă Thiên đều ghi chép những sự kiện lịch sử sau:

 

     Năm 316TDL Tần đánh chiếm Ba Thục.

 

     Năm 257TDL, An Dương Vương Thục Phán thống nhất chi Lạc Việt và Âu Lạc thành lập quốc gia ÂU LẠC của Việt tộc. Sách Đại Việt Sử lược chép:“Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Thục Phán đánh đuổi mà thay. Phán đắp thành ở Việt Thường, lấy hiệu là An Dương Vương rồi không thông hiếu với họ Chu nữa”.

 

     Năm 299 TDL, Tần thắng Sở bắt giam Sở Hoài Vương. Năm 278 TDL Tần Bạch Khởi đánh chiếm đất Dĩnh, Sở phải bỏ Đan Dương phía Bắc dời đô xuống phía Nam sông Dương Tử lập ra trấn lỵ Tiểu Đan Dương. Tiểu Đan Dương là vùng đất Ô châu cũ nay là vùng Giang Tô, xưa gọi là Kiến Nghiệp Kim Lăng tức Nam Kinh bây giờ.

 

     Năm 223TDL, Tần lại đem quân đánh chiếm nước Sở. Tướng Tần là Vương Tiễn chiếm Hồ Bắc, Hồ Nam rồi đem quân đuổi theo truy kích tàn quân Sở tới An Huy, giáp biển Đông. Dân quân Sở kể cả Ngô, Việt một lần nữa phải lên đường di tản theo đường biển xuôi Nam xuống cổ Việt hội nhập với cư dân Lạc Việt của nước Văn Lang đă định cư từ lâu ở vùng châu thổ sông Hồng sông Mă. Sau khi diệt Sở năm 223TDL, Tần đánh chiếm Tề năm 221 TDL lên ngôi bá chủ Trung nguyên.       

 

6. Năm 218TDL, Tần Thuỷ Hoàng sai Đồ Thư đem 50 vạn quân tiến xuống Lĩnh Nam. Năm 214TDL, quân Tần chiếm được một phần Lĩnh Nam rồi chia làm 3 quận gồm Nam Hải (Việt Đông tức Quảng Đông bây giờ), Quế Lâm (ở phía Bắc và Đông của Việt Tây tức Quảng Tây bây giờ) và Tượng Quận (Bắc Việt Tây và Nam Quí Châu). Quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống hy sinh, quân dân Việt rút vào rừng thường xuyên đột kích tiêu diệt quân Tần. Tinh thần quân Tần hoang mang lo sợ, dân quân Việt thừa thế tổng phản công giết chết tướng Đồ Thư tại trận, quân Tần tháo chạy về nước. Đây là cuộc chiến tranh du kích đầu tiên trong trường kỳ lịch sử của Việt tộc đă đập tan đạo quân bách chiến bách thắng của đế chế Tần hùng mạnh. Chiến thắng quân Tần là minh chứng hùng hồn của sự hợp nhất các chi tộc Việt thành quốc gia Âu Lạc của An Dương Vương.

 

7. Năm 111TDL, Hán Vũ Đế cử Lộ Bác Đức giữ chức Phục Ba Tướng quân, xuất binh tiến đánh Nam Việt. Sử chép trước thế giặc mạnh như vũ bảo, Lữ Gia cùng với Vua và triều đ́nh phải rút về vùng biển. Lộ Bác Đức sai quân đuổi theo bắt giết cả Triệu Kiến Đức và Tướng Lữ Gia.

 

     Sau khi Hán tộc đánh chiếm Nam Việt, Hán triều đổi tên Nam Việt thành Giao Chỉ bộ gồm 9 quận Nam Hải (Quảng Đông), Thương Ngô (Quảng Tây), Uất Lâm (Quảng Tây), Hợp Phố (Quảng Châu), Giao Chỉ (Bắc Việt Nam), Cửu Chân (từ Vân Nam xuống tới Thanh Hóa), Nhật Nam (Nghệ An), Châu Nhai (Đảo Hải Nam), Đạm Nhĩ (nay là Đam Châu thuộc đảo Hải Nam ).* Sự thật lịch sử này đă được sử gia Chu Khứ Phi đời Tống trong “ Lĩnh Ngoại Đại Đáp” xác nhận vùng biển Việt Nam là Giao Chỉ Dương. Măi đến đời Thanh, sách “ Hải Quốc Văn Kiến Lục” (năm 1744) của học giả Trần Luân Quưnh vẫn gọi vùng biển Đông Hải là Việt Hải hay Việt Dương. Đây là chứng cứ lịch sử của chính Trung Quốc xác nhận Biển Đông mà TQ gọi là Đông Hải là của Việt Nam nên mọi luận cứ ma Trung Cộng đưa ra chỉ có tính áp đặt của một nước lớn mà thôi.

 

* Sơn Hà Nguy Biến của Phạm Trần Anh.

 

 

 

BẢN ĐỒ CỔ

 

CHỦ QUYỀN LỊCH SỬ CỦA VIỆT NAM

 

 

     Bên cạnh nguồn sử liệu trong sách sử Việt Nam, các bản đồ cổ Việt Nam đều vẽ quần đảo Hoàng Sa được ghi chú bằng chữ Nôm “BĂI CÁT VÀNG”. Bản đồ cổ nhất là Toàm tập Thiên Nam Tứ chí Lộ đồ Thư là bộ sách địa lư gồm 4 quyển viết về địa lư h́nh thể, sông núi, đường lộ giao thong và đặc biệt là vẽ cả các hải đảo.

 

1. HỒNG ĐỨC BẢN ĐỒ

 

     Thiên Nam Tứ chí Lộ đồ Thư trong “Hồng Đức Bản đồ” được khắc in từ đời Hồng Đức tức đời vua Lê Thánh Tôn khoảng năm 1630-1653 do Đỗ Bá biên soạn. Thiên Nam Tứ chí Lộ đồ thư chép:

 

Địa phận làng Kim Hộ, hai bên có 2 ngọn núi. Các núi này, có đặt người tuần tra.

 

Giữa biển có một dải cát dài, tên gọi là băi Cát Vàng dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm đứng dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh (Sa Kỳ tỉnh Quảng Ngăi). Mỗi khi có gió Tây Nam th́ thuyền buồm các nước chạy ở phiá trong trôi dạt ở đấy, gió Đông Bắc th́ thương thuyền chạy ở phiá ngoài cũng trôi dạt vào đây khiến nhiều người chết đói tại đây. Hàng hóa vật liệu đều phải bỏ lại nơi đó.

 

Hàng năm vào ngày cuối mùa Đông,Chúa Nguyễn đưa 18 chiếc thuyền đến đây để hàng hóa, vật sản, được nhiều vàng bạc, tiền tệ, sung đạn và các vật liệu khác.

 

Từ cửa Đại Chiêm vượt biển đến đấy phải mất một ngày rưỡi, từ cửa Sa Kỳ đến đấy phải mất nửa ngày. Chỗ băi cát dài âư c̣n có rất nhiều Đổi mồi…

 

     Bản đồ đường qua Xứ Quảng Nam đời Lê theo Thiên Nam Lộ Đồ vẽ lại năm 1741 (bản sao chép của Dumoutier, Băi Cát Vàng tức là Hoàng Sa) trong bài của Lăng Hồ, “Hoàng Sa và Trường Sa, Lănh thô Việt Nam”, viết tại Nhật Bản, mùa thu 1974.  Lăng Hồ là bút hiệu của cố Học Giả Nguyễn Khắc Kham.(Trích: Sử Địa 29, Đặc khảo về HS,TS)

 

2. ĐẠI NAM NHẤT THỐNG TOÀN ĐỒ

 

     Đây là bản đồ xuất hiện vào đời nhà Nguyễn đă vẽ khá chính xác ranh giới với các nước chung quanh Việt Nam như Trung Quốc, Lào, Cao Miên, Tiêm La quốc (Thái Lan) và Đồ Bà Quốc (Malaydia). Đặc biệt, bản đồ ghi rơ tên các hải cảng, cửa biển từ Quảng Yên Bắc VN tới Hà Tiên Nam VN và các đảo ngoài khơi VN mà ta gọi là Biển Đông như Thổ Châu, Côn Lôn, Phú Quí, Hoàng Sa và Vạn Lư Trường Sa.

 

3. AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ

 

     An Nam Đại quốc Họa đồ in cùng thời với Đại Nam Nhất thống Toàn đồ do Giám mục Thừa sai Louis Taberd giới thiệu và đặt tên là An Nam Đại quốc Họa đồ, Bản đồ này được in đính kèm sau Tự điển Việt-LaTinh (Latino-Anamiticum) xuất bản năm 1838 để các giáo sĩ đi truyền giáo. Trong đó, quần đảo Hoàng Sa được viết bằng chữ "Cát Vàng". Điều đặc biệt là bản đồ có ghi tọa độ và khi đối chiếu với số liệu hôm nay th́ hoàn toàn trùng khớp. Đây là bản đồ cổ duy nhất có ghi tọa độ và cũng là bản đồ cổ duy nhất có xác định tọa độ của Hoàng Sa.

 

     Đây là bản đồ xuất hiện vào đời nhà Nguyễn đă vẽ khá chính xác ranh giới với các nước chung quanh Việt Nam như Trung Quốc, Lào, Cao Miên, Tiêm La quốc (Thái Lan) và Đồ Bà Quốc (Malaydia). Đặc biệt, bản đồ ghi rơ tên các hải cảng, cửa biển từ Quảng Yên Bắc VN tới Hà Tiên Nam VN và các đảo ngoài khơi VN mà ta gọi là Biển Đông như Thổ Châu, Côn Lôn, Phú Quí, Hoàng Sa và Vạn Lư Trường Sa.

 

   Theo Giám Mục Tabert trong quyển “Địa dư lịch sử cảnh trí và tôn giáo phong tục tập quán các dân tộc” (xuất bản năm 1938) th́ “… từ trên 34 năm rồi nhóm quần đảo Tây Sa mà người An Nam thường gọi là đảo Cát Vàng hay Hoàng Sa thực là ḥn đảo nhỏ bí hiểm, gồm những mỏm đá xen lẫn với các băi cát mà những nhà hàng hải đều kinh hăi, đă do người Nam Kỳ chiếm cứ.” Một đoạn khác, tác giả viết: “… nhưng có điều chắc chắn là Hoàng Đế Gia Long đă đặt đảo đó dưới quyền của nhà Vua, và năm 1816, Hoàng Đế đă long trọng trương lá cờ Nam Kỳ ở trên đảo.”

 

   Trong khi đó, bản đồ Trung Quốc ấn hành năm 1909 chỉ vẽ đảo Hải Nam là phần cực Nam của Trung Quốc mà không hề vẽ Hoàng sa mà họ gọi là Tây Sa và Trường Sa mà họ gọi là Nam Sa. Đây là một chứng cớ lịch sử cụ thể đă khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Băi Cát vàng tức Hoàng Sa.

 

CHỨNG CỨ VỀ CHỦ QUYỀN LỊCH SỬ

HỒNG ĐỨC BẢN ĐỒ

 

 

 

(Nguồn: Hồ sơ về Hoàng Sa & Trường Sa và chủ quyền Dân tộc của giáo sư Nguyễn văn Canh do  Trung Tâm Việt Nam học ấn hành 2008 )     

     

 

 

Nguồn: Hồ sơ về Hoàng Sa Trường Sa và Chủ quyền Dân tộc của GS Nguyễn văn Canh.

 

 

http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/HoangSa1.jpg

 

 

Bản đồ đường qua Xứ Quảng Nam đời Lê theo Thiên Nam Lộ Đồ vẽ lại năm 1741 (bản sao chép của Dumoutier, Băi Cát Vàng tức là Hoàng Sa) trong bài của Lăng Hồ, “Hoàng Sa và Trường Sa, Lănh thô Việt Nam”, viết tại Nhật Bản, mùa thu 1974.  Lăng Hồ là bút hiệu của cố Học Giả Nguyễn Khắc Kham.(Trích: Sử Địa 29, Đặc khảo về HS,TS) 

image

Nguồn: Hồ sơ về Hoàng Sa Trường Sa và Chủ quyền Dân tộc của GS Nguyễn văn Canh.

 

  

BD6 Hoang ViêtMapco

HOÀNG VIỆT ĐỊA DƯ

HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA (1834).

Nguồn: Hồ sơ về Hoàng Sa Trường Sa và Chủ quyền Dân tộc của GS Nguyễn văn Canh.

 

 

BD6 Hoang ViêtMapco

Hồ sơ về Hoàng Sa Trường Sa và Chủ quyền Dân tộc của GS Nguyễn văn Canh.

 

BD6 Hoang ViêtMapco 

 

      

BẢN ĐỒ CỔ TRUNG HOA CHO TỚI NĂM 1909

 chỉ có đảo Hải Nam ở cực Nam, không có Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).

Hồ sơ về Hoàng Sa và Trường Sa của giáo sư Nguyễn văn Canh

 

BẢN ĐỒ NGOẠI QUỐC

XÁC ĐỊNH CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM

BD7 AnNamMap

Nguồn: Hồ sơ về Hoàng Sa trường Sa

Chủ quyền dân tộc của gs Nguyễn văn Canh

 

 

AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ

HOÀNG SA (PARACELS) 1838

 

 

scan0029

 

   Nguồn: Hồ sơ về Hoàng Sa trường Sa

Chủ quyền dân tộc của gs Nguyễn văn Canh

 

 

 

INDES, PETRUS, PLANCIUS

PRACEL (Hoang Sa)

 

       scan0030

Nguồn: Hồ sơ về Hoàng Sa trường Sa

Chủ quyền dân tộc của gs Nguyễn văn Canh

 

 

 

JODOCUS HONDIUS

COSTA DE PRACEL

1606

BD9 Jodocus1606

 

Nguồn: Hồ sơ về Hoàng Sa trường Sa

Chủ quyền dân tộc của gs Nguyễn văn Canh

 

 

 

JODOCUS HONDIUS

COSTA DE PRACEL

1606

 

 

Nguồn: Hồ sơ về Hoàng Sa Trường Sa

Chủ quyền Dân tộc của GS Nguyễn văn Canh.

 

 

 

[BONNE1780.bmp]

 

Nguồn: Hồ sơ về Hoàng Sa Trường Sa và Chủ quyền Dân tộc của GS Nguyễn văn Canh.

 

 

 

UN3

 

Nguồn: Hồ sơ về Hoàng Sa Trường Sa

và Chủ quyền Dân tộc của GS Nguyễn văn Canh.

 

 

 

 

image

 

     

VIETNAM SEA IN SOUTH EAST ASIA

Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam Cộng Ḥa.  

 

 

Đặc biệt, giới nghiên cứu mới t́m ra tác phẩm “An Nam Đồ chí” của Đặng Chung được biên soạn "căn cứ theo bản sao ở Thuật Cổ Đường của họ Tiền". Thuật Cổ Đường là tên thư viện của Tiền Đại Hân, nhà khảo chứng học nổi tiếng đời Thanh. Họ tên soạn giả An Nam đồ chí được ghi cuối bài tựa là “Phân thủ Quảng Đông Quỳnh Nhai Phó Tổng binh Ôn Lăng Đặng Chung”. (Phó Tổng binh trấn thủ châu Quỳnh Nhai, tỉnh Quảng Đông là Đặng Chung, người huyện Ôn Lăng).

http://hqvnch.net/media/images1/AnNamDoChi.jpg

An Nam đồ chí là một tập sách bản đồ có các khảo chú về toàn quốc và các địa phương của VN. Niên đại soạn sách ghi sau bài tựa càng là một giá trị quư hiếm: Vạn Lịch Mậu Thân thanh minh nhật. Vạn Lịch (1573-1620) là niên hiệu Vua Minh Thần Tông, năm Mậu Thân Vạn Lịch là năm 1608, cách nay đúng 401 năm. An Nam đồ chí là thư tịch bản đồ đầu tiên của Trung Quốc ghi tên cửa biển Đại Trường Sa trong tờ bản đồ vẽ nước An Nam, tức Việt Nam. Một viên quan binh của nhà Minh giữ chức Phó Tổng binh châu Quỳnh Nhai (tức đảo Hải Nam) ghi tên Cửa biển Đại Trường Sa của VN trên bản đồ An Nam, chứng tỏ người Trung Hoa từ trước và từ triều Minh, triều Thanh đều thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa là thuộc Việt Nam". Những tấm bản đồ do những người ngoại quốc vẽ thực sự là một minh chứng hùng hồn về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

PHỤC HỒI SỰ THẬT  CỦA LỊCH SỬ

 

 

     Tất cả nguồn sử liệu mà Trung Quốc và các học giả TQ viện dẫn đều có tính cách chung chung, không nói các chi tiêt cụ thể chứng minh được chủ quyền lịch sử về sự khám phá ra 2 quần đảo Hoàng sa và Trường Sa. Họ chỉ xác nhận là thuyền bè của Trung Quốc có đi  ngang và t́nh cờ thấy các đảo này. Đoạn văn mà Tống sử chép là vua Tàu đă đến Hoàng Sa có ư qua Chiêm Thành nhưng qua không được đă chứng tỏ vua Tàu chỉ đến một đảo nào đó ở Nam TQ, nếu đến Hoàng sa thật th́ việc qua Chiêm Thành quá dễ dàng. Đặc biệt, không có một đoạn văn nào trong các chứng cứ lịch sử mà Trung Quốc viện dẫn mô tả cụ thể việc chiếm hữu như đổ bộ, tuần tra quanh các đảo mà chỉ nói là đi trấn an Giao Chỉ và viễn chinh ở Malaysia, Borneo và Java của Nam Dương quần đảo (Indonesia) mà thôi.

 

     Luận cứ cho rằng đă t́m được đồng tiền cổ Vĩnh Lạc, kể cả việc có di chỉ xương cốt của người Trung Quốc cũng không đủ thuyết phục là người Trung Quốc đă cư ngụ ở đây v́ có thể là của một thương buôn người TQ bị băo dạt vào đảo này.

 

     Việc Trung Quốc viện dẫn một đoạn văn trong hiệp ước Thiên Tân Pháp Thanh không thuyết phục được ai v́ đây chỉ là Hiệp ước phân chia biên giới giữa Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc chứ không liên hệ ǵ đến các quần đảo nằm ngoài phạm vi Bắc Việt. Nguyên tên của hiệp ước này đă nói lên điều này: “Convention relative à la délimitation de la frontière entre la Chine et le Tonkin”. Chính v́ vậy, ngày nay nhà nước Trung Quốc không c̣n viện dẫn hiệp ước này trong việc chứng minh chủ quyền lănh thổ của họ đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nữa.

 

     Trung Quốc với lợi thế là một nước lớn đă trắng trợn độc chiếm biển Đông bất kể công pháp Quốc tế và chủ quyền của các nước khác. Trung Quốc thường đặt vấn đề chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa và Trường sa là “bất khả tư nghị” nghĩa là không cần phải bàn căi. Chính v́ vậy, chúng ta phải nh́n lại lịch sử từ khởi thủy h́nh thành nhà nước Trung Quốc mới thấy rơ sự thật lịch sử. Tất cả những quốc gia văn minh tiến bộ đều phải cộng nhận sự thật khách quan của lịch sử là một chân lư mà không một quốc gia nào, không một ai có thể phủ nhận được. Đặc biệt, chính các bộ sử của Trung Quốc đă ghi chép lại các cuộc “viễn chinh” mà trên thực tế là các cuộc xâm lược để bành trướng lănh thổ.

 

     Hán sử chép năm 1766 TDL, vua Thương là Thành Thang cùng một số thủ lĩnh lập lời thề ở Mục Dă rồi đem quân  du mục từ Tây Bắc tràn xuống tiêu diệt nhà Hạ của Việt tộc lập ra triều đại Thương đầu tiên của Trung Quốc. Lănh thổ triều Thương lúc đó chỉ vỏn vẹn khoảng hơn 2 tỉnh ngày nay gồm phía Nam tỉnh Hà Bắc, phía Đông tỉnh Hà Nam, phía Bắc tỉnh Sơn Tây và phía Tây tỉnh Sơn Đông. Đến triều Chu lănh thổ cũng chỉ trong phạm vi nhỏ hẹp đến nỗi U Vương cho đốt lửa để các chư hầu đến tiếp cứu “Thiên tử” qua câu truyện“Nụ cười Bao Tự”. Khi Thương xâm lăng, cư dân nhà Hạ phải bỏ địa bàn lưu vực sông Bộc ở Hoa Bắc chạy tản mác khắp nơi. Bách Bộc tan ră, cư dân Bách Bộc phải vượt sông Hoàng Hà xuống lưu vực phía Nam thành lập các quốc gia để mưu sự sống c̣n mà thư tịch cổ Trung Quốc gọi là Bách Việt.

 

     Thời đó lănh thổ của Thương chỉ vỏn vẹn gồm phía Nam tỉnh Hà Bắc, phía Tây tỉnh Sơn Đông. Tất cả khoảng 2 tỉnh ngày nay. Trong khi bao quanh có những ḍng họ lớn như Thái Hạo (họ Phục Hi), Thiếu Hạo (họ Thần Nông), họ Phong, họ Doanh, họ Yểm … Các nhà nghiên cứu đều đồng ư rằng Thương đă tiếp nhận ảnh hưởng văn hóa nông nghiệp của Việt nên năm 1050 TDL, khi Tây Chu thắng triều Thương, với tinh thần độc hữu du mục Tây Chu đă ra lệnh đốt hết văn khố của Thương v́ Thương chịu ảnh hưởng văn hóa Việt.

 

    Cương giới của Triều Thương là triều đại đầu tiên sáng lập ra nước Tàu (Trung Quốc) được sách sử “Hoài Nam Tử” chương Thái Tộc Huấn ghi rơ cương giới triều Thương như sau:“Tả Đông Hải, hữu Lựu Sa, tiền Giao Chỉ, hậu Hàm Đô”*. Nguồn sử liệu này cho chúng ta thấy rằng nước Thương (Trung Quốc) nằm ở trung tâm, bên trái là biển Đông, bên phải là Lựu Sa, sau lưng là Hàm Đô, trước mặt là Giao Chỉ tức là Giao Chỉ ở phía Nam của lănh thổ Thương (TQ). Như vậy thời đó, lănh thổ Giao Chỉ c̣n ở giáp ranh với Thương ở mặt Nam, giáp với tỉnh Hà Nam Trung Quốc bây giờ.

 

     Thực tế lịch sử này chứng tỏ khi tộc Thương thành lập triều đại đầu tiên của Trung Quốc th́ Việt tộc (Giao Chỉ) đă sinh sống từ lâu ở phương Nam tiếp giáp với lănh thổ Thương. Sách “Dư Địa chí” của Cổ Dă Vương chép rơ là: “ Giao Chỉ đời Chu là Lạc Việt”. Theo cổ sử Trung Quốc th́ lănh thổ triều Thương Ân thời đó chỉ vỏn vẹn phía Nam tỉnh Hà Bắc, phía Tây tỉnh Sơn Đông khoảng 2 tỉnh ngày nay mà thôi. Lănh thổ của triều Thương được bao quanh là hàng trăm nước nên triều Thương là triều đại đầu tiên của lịch sử Trung Quốc đă lấy tên là Trung Quốc. Những nước này là những chi tộc trong cộng đồng Bách Việt gồm những ḍng họ lớn như họ Thái Hạo là họ của Phục Hi, họ Thiếu Hạo là họ của Thần Nông, họ Doanh, họ Yểm … Hậu Hán Thư chép: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê trên 7,8 ngàn dặm, người Bách Việt ở xen kẽ nhau gồm nhiều chủng tính (tên họ) khác nhau…”.

 

     Ngày nay, sự thật lịch sử đă được phục hồi khi các nhà Trung Hoa học đều xác nhận rằng Di-Việt là chủ nhân của Trung nguyên tức toàn thể lănh thổ Trung Quốc bây giờ. Một sự thực lịch sử nữa cũng được xác nhận là hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính một vị vua của Hán tộc, Hán Hiến Đế đă phải thừa nhận nước ta là một nước văn hiến: “Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”.

 

     Hội nghị Quốc tế các nhà Trung Hoa học trên toàn thế giới kể cả Trung Quốc và Đài Loan tổ chức tại Berkeley năm 1978 về “Nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa” đă xác nhận Di Việt làm chủ trung nguyên trước khi Hán tộc từ Tây Bắc tràn vào đánh đuổi Bách Việt.

 

      Lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ thời Thương mà văn hoá Thương phát xuất từ miền Hoài-Di tức là văn hoá Di-Việt, Di-Việt cùng chung một huyết thống Bách Việt. Sau khi Hán tộc đánh chiếm Nam Việt, chúng đổi tên Nam Việt thành Giao Chỉ bộ gồm 9 quận Nam Hải (Quảng Đông), Thương Ngô (Quảng Tây), Uất Lâm (Quảng Tây), Hợp Phố (Quảng Châu), Giao Chỉ (Bắc Việt Nam), Cửu Chân (từ Vân Nam xuống tới Thanh Hóa), Nhật Nam (Nghệ An), Châu Nhai (Đảo Hải Nam), Đạm Nhĩ (nay là Đam Châu thuộc đảo Hải Nam).

 

     Thực tế này, một lần nữa khẳng định Trung nguyên, vùng Nam Trung Hoa ( Hoa Nam) kể cả đảo Hải Nam, Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa là của Bách Việt mà Hán tộc đă xâm lược thời Hán mà thôi. Quận Nam Hải thời đó là phần đất thuộc tỉnh Quảng Đông bây giờ nên sách sử Trung Quốc viết biển Nam Hải tức là biển Quảng Đông mà thôi. Nam Hải hay Trướng hải là vùng biển Hoa Nam cách huyện Hải Phong tỉnh Quảng Đông 50 dặm. “Tân Từ điễn Thực dụng Hán Anh” xuất bản tại Hồng Kông năm 1971 viết: “ Nam Hải là vùng biển kéo dài từ eo biển Đài Loan đến Quảng Đông”.

 

     Nhà bác học Lê Quí Đôn trong tác phẩm “Vân Đài Loại ngữ” viết: “Quảng Đông ngày xưa thời quốc gia Nam Việt là Phiên Ngung, c̣n gọi là Dương Thành, Dương Châu, Dương Thủy, Long Uyên, Long Biên, Quảng Châu Loan …”.

 

    Quảng Đông Quảng Tây trước có tên là Việt Đông, Việt Tây nên cả vùng biển gọi là Nam Hải của Quảng Đông trước kia đều thuộc lănh thổ Việt Nam. Các nhà hàng hải Tây phương không hiểu rơ vấn đề chủ quyền biển Đông nên thường gọi là biển Nam Trung Hoa nên một số bản đồ ghi là biển Nam Trung Hoa dể tiện việc hải hành chứ không hề xác nhận đó là biển Nam Trung Hoa. Thực tế này chính “Từ Nguyên cải biên” bản xuất bản năm 1951 và 1984 ghi rơ là người ngoại quốc gọi Nam Hải là Nam Trung Quốc hải. Nhân sự kiện này, Sách “Từ Nguyên cải biên” lợi dụng danh xưng này đă viết:

 

Vị trí ở phía Nam Phúc Kiến và Quảng Đông, phía Tây Đài Loan và Phi Luật Tân, phía Đông bán đảo Trung Nam và bán đảo Mă Lai, phía Bắc Ba La châu (Borneo) và đảo Tô Môn Đáp Lạp (Célebres?). Có điều là thời xưa biển nước ta (Trung Quốc) mệnh danh là Nam Hải, có thời đă bao quát cả Ấn Độ dương nữa, vậy chẳng nên giới hạn diện tích Nam Hải ở phạm vi như chép ở trên.

 

    Chính Hán sử cho chúng ta biết rằng sau khi chiếm được Nam Việt rồi th́ Lộ Bác Đức phải nhờ Giám Cư Ông là người Việt ở Quế Lâm chiêu dụ Âu Lạc về thuộc Nam Việt. Sở dĩ Hán Vũ Đế không dám xua quân xuống Tây Âu, Âu Lạc v́ Lưu An tác giả “Hoài Nam Tử” đă nhắc lại kinh nghiệm thất bại năm xưa của đại quân Tần. V́ thế Lộ Bác Đức đóng quân ở Hợp Phố rồi chờ 2 viên Điền sứ của Triệu Đà ở Âu Lạc đến dâng nộp ấn tín sổ sách và 1000 ṿ rượu rồi giao cho 2 viên Điền sứ cai trị như xưa.

 

     Điều này chứng tỏ là ngay từ thời Triệu Vũ Đế Âu Lạc vẫn tự trị. Trên thực tế, quân dân Nam Việt một số chạy ra đảo Hải Nam cùng với cư dân Lạc Lê ở địa phương tiếp tục chiến đấu nên năm 81TDL, Hán triều phải bỏ Đạm Nhĩ và đến năm 46TDL, quân Hán lại phải bỏ Châu Nhai v́ bị thiệt hại nặng nề. Trước t́nh h́nh đó, Hán triều phải băi chức, triệu hồi Tích Quang về kinh. Như vậy, chính sử TQ đă xác nhận là Hán tộc đă xâm lược lănh thổ của Việt tộc trong suốt tiến tŕnh lịch sử nên cả đảo Hải Nam chứ đừng nói tới Hoàng Sa và Trường Sa vẫn thuộc chủ quyền của VN từ lâu. Đây là chứng cớ hùng hồn về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt tộc

 

 

LĂNH THỔ TRIỀU THƯƠNG TRUNG QUỐC

Triều Thương đánh chiếm lănh thổ của nhà Hạ lập nước Thương, cương giới chỉ gồm 2 tỉnh ở hạ lưu Hoàng Hà. Tất cả phần c̣n lại là lănh thổ của Việt tộc.  

 

 

 

 

HÁN TỘC

 

KẺ THÙ TRUYỀN KIẾP CỦA DÂN TỘC VIỆT

 

     Với tư tưởng chủ đạo “Độc tôn Đại Hán”, tự cho ḿnh là trung tâm của thiên hạ nên ngay từ triều Thương, khởi nguyên của Hán tộc nên đă chọn tên nước là Trung Quốc. Trung Quốc là trung tâm của thiên hạ, triều đ́nh TQ là “Thiên triều” trong khi các nước khác là chư hầu, vua Trung Quốc là Thiên tử. Sau khi đă tiếp thu tinh hoa của nền văn minh Việt rồi tự cho ḿnh là văn minh “Hoa Hạ” c̣n tất cả các nước là man di mọi rợ nên chủ trương “Đại nhất thống thiên hạ”, lấy cái văn minh Hoa Hạ để cải biến Di địch “Dĩ Hạ biến Di”. Chính v́ thế, lịch sử Trung Quốc là lịch sử của những cuộc chiến tranh xâm lược bành trướng, thôn tính và đồng hóa các dân tộc khác.

 

I. NGUỒN GỐC HÁN TỘC DU MỤC

 

    Bộ lịch sử mới nhất của Trung Quốc viết về sự h́nh thành dân tộc Trung Quốc là do các dân tộc dân tộc Mông Cổ, Măn Châu, Tây Tạng và Hồi (Thổ Turcs) trong đó Hán tộc là chủ thể tạo thành. Họ sợ không những dám đả động ǵ đến những người Việt cổ ở Hoa Nam, mà c̣n xem Việt tộc là kẻ thù v́ lo ngại Việt tộc sẽ quật khởi, lấy lại những ǵ đă mất từ hàng ngàn năm lịch sử. Chính v́ vậy, sau khi đă xâm thực văn hóa, thống trị và đồng hóa người Việt gần một ngàn năm của đế quốc “Đại Hán” ngày xưa cho đến đế quốc đỏ Trung Cộng bây giờ, bằng mọi giá phải xâm lược Việt Nam, xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới. 

 

     Một giả thuyết mới đây về nguồn gốc Hán tộc có tính thuyết phục được đa số các học giả, các nhà nghiên cứu lịch sử và Trung Hoa học chấp nhận v́ dựa trên kết quả của khoa Khảo tiền sử và xác định bởi hệ thống sinh học DNA. Vào thời thượng cổ, vùng đất từ miền Nam nước Nga cho tới biên giới tỉnh Đôn Hoàng là vùng đất gọi là Serinde, măi đến sau kỷ nguyên dương lịch, người Âu châu mới đặt tên là Turkestan vùng đất này người Hán gọi là Tây Vực, người thượng cổ sinh sống ở đó là người da trắng mà Hy Lạp gọi là TolKhare. Các nhà khảo cổ đă phát hiện được ở Anau, trung tâm vùng Tây Vực có dấu vết của một nền văn minh tối cổ mà giai đoạn đồ đá mới (Tân thạch khí) của họ đến 10.000 năm. Dân Tolkhares, người Tàu gọi là Nhục Chi hoặc Bạch Địch.

 

    Hán tộc thời Thương Chu vẫn ngạo mạn, tự cho họ là trung tâm là Hoa Hạ (Trung Hoa) cao sang c̣n tất cả đều là man di mọi rợ cả, nên Hán ngữ thường gọi tên  của những dân tộc xung quanh họ kèm theo bộ khuyển (chó), bộ trĩ (côn trùng), bộ mă (ngựa). Trong khi những người họ gọi là man di mọi rợ đă thành lập gần 40 quốc gia phồn thịnh và hùng mạnh ở đó vào thời Xuân Thu.

 

     Vào thời thượng cổ, người Nhục Chi trên đường di cư về hướng Đông đă đụng đầu một tộc người mà người Tàu gọi là rợ Hung nô tức người Mông Cổ mà châu Âu gọi là Huns, một chủng da vàng mũi thấp. Hai chủng này một từ phía Tây lại, một từ hướng Bắc xuống gặp nhau ở biên giới Tây Vực của Trung Quốc ngày nay. Cả hai tộc người này đều sống du mục, thiên về săn bắn đă hợp chủng để tạo ra một chủng mới mà các nhà nhân chủng học gọi là Trung Mongol cách đây khoảng 6.000 năm với các đặc tính nhân dạng: thân thể cao lớn giống Nhục Chi, sọ Mông cổ, mí lót và ngôn ngữ độc âm(18). Họ sống đời du mục, săn bắn ăn thịt nên thiên về lư trí, sức mạnh, t́nh cảm cằn cỗi lạnh lùng …

 

    Các nhà khoa học thuộc trường Viễn Đông Bác cổ đo chỉ số sọ của Hoa Bắc là 76,51 và thuộc loại sọ dài có dung lượng sọ là 1440. Chỉ số sọ trung b́nh của dân Hoa Nam và Hoa Đông là 81,22 và thuộc loại sọ tṛn. Theo khoa Nhân chủng học th́ cư dân Hoa Bắc và Hoa Nam là hai chủng tộc khác nhau v́ sọ của 2 nhóm cư dân này cách biệt trên 2 chỉ số có nghĩa là thuộc 2 chủng khác nhau.

 

 . Người Hoa Bắc có chỉ số sọ 76,56 gần gũi với sọ cổ người Cam Túc tức người Hán cổ (76,70). Thực tế này chứng tỏ người Hoa Bắc là hậu duệ của người Cam Túc tức người Mông Cổ phối chủng với người Nhục Chi ở Tây vực.

 

. Giữa người Hoa Nam và Hoa Bắc tuy cũng gọi là người Trung Quốc nhưng rất khác biệt nhau v́ chỉ số sọ cách nhau hơn 3 chỉ số(81-76,56=4,44). Như vậy thuộc 2 nhân chủng khác nhau.

 

 . Sọ Hán tộc và sọ Việt cách nhau hơn 5 chỉ số (5,57) nếu so với sọ Hán ở Hoa Bắc. Điều này chứng tỏ Việt tộc hoàn toàn khác Hán tộc. Thực tế mang tính khoa học đầy thuyết phục này phản bác mọi quan niệm sai lầm từ trước đến nay.

 

     Chúng ta cũng ghi nhận thêm là chỉ số sọ của người Hoa Đông tức địa bàn xưa của Lạc bộ Trĩ mà cổ sử Tàu gọi là Rợ Đông Di chính là người Việt cổ 81,70 rất gần với chỉ số sọ của người Việt  Nam bây giờ 82,13. Mặt khác, chỉ số sọ trung b́nh của người Hoa Nam gốc Việt là 81 do đă lai giống với Hoa Bắc nhưng chỉ sai biệt với chỉ số sọ Việt Nam khoảng 1,13 chỉ số. Marco Polo sau một thời gian dài làm quan ở Trung Hoa đă thấy rằng người Hoa Nam vẫn khác người Hoa Bắc nhiều và dân Hoa Bắc thống trị vẫn miệt thị người Hoa Nam là Mandzi.

 

     Sử Trung quốc vẫn cho rằng 3 triều đại Hạ, Thương, Chu là những triều đại đầu tiên của Trung Quốc. Thế nhưng nhà nghiên cứu Trung Quốc Kwang Chih Chang khám phá ra th́ không phải là như vậy mà đó chỉ là 3 trong nhiều nhóm chính trị đại diện cho các chủng tộc đối nghịch tranh giành ảnh hưởng mà thôi, c̣n văn hoá th́ đều theo như Di Việt nghĩa là chịu ảnh hưởng rất nhiều từ văn hóa phương Nam. Hán tộc cư trú ở miền Bắc Trung Hoa (Hoa Bắc) là tộc du mục thống trị người Hoa Nam. Hán tộc tuy thâu nhận văn hóa miền Nam nhưng vẫn xem thường kỳ thị người phương Nam và xem họ là kẻ bị trị

 

     Trương Quang Trực (Chang Kwang Chih), sử gia hàng đầu của Trung Quốc đă thừa nhận một sự thực lịch sử là tuy Trung Quốc là một quốc gia lớn với một nền văn hoá lớn nhưng nó đă phải thâu nhập tinh hoa của nhiều nền văn hoá hoá hợp lại. Ông viết:”Những nền văn hoá địa phương thời tiền sử, sau khi thống nhất đă trở thành một bộ phận của văn hoá Trung Quốc”. Về nguồn gốc chủng tộc, Trương Quang Trực cho rằng:”Nguồn gốc thực sự của Hoa Hán chỉ là phần nhỏ nhưng sau khi triều Tần thống nhất th́ dân tộc cả nước thống nhất ấy là dân tộc Trung Hoa”. Thực tế này đă được ông Hoàng văn Nội, một sử gia Trung Quốc thừa nhận là quá nửa dân số Trung Quốc ngày nay là người gốc Viêm tộc (Viêm Việt) bị Hán tộc thống trị đồng hoá thành người Hán.

 

    Tóm lại, người Trung Quốc mà ta thường gọi là Tàu (Hán tộc) không phải là một chủng thuần tuư và cũng không có một văn hoá riêng biệt nào. Lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ triều đại Thương là một tộc người du mục kết quả của sự phối hợp chủng giữa Nhục Chi và Huns (Mông cổ). Kế tiếp là triều Chu cũng là một tộc du mục có hai ḍng máu Mông Cổ và Hồi (Turc).

 

     Thực tế lịch sử cho chúng ta biết rằng Hán tộc từ Tây Bắc tiến xuống đánh đuổi người Việt cổ xuống phương Nam. Cộng đồng Bách Việt c̣n ở lại Trung nguyên theo thời gian bị đồng hoá gọi là người Trung Quốc, văn hoá Việt trở thành văn hoá Trung Quốc bởi lư của kẻ mạnh, của kẻ thống trị. Một số nhà nghiên cứu dựa trên kết quả này vội cho rằng người từ phương Nam đi lên đă chủ lực tạo thành Hán tộc, là một nhận định phiến diện sai lầm. Lâm Ngữ Đường, một nhà văn lớn của Trung Quốc cũng phải thừa nhận t́nh trạng khống chế của Hán tộc du mục phương Bắc đối với người Hoa Nam gốc Việt cổ như sau: “Trong đám bè lũ cướp ngai vàng thành lập các triều đại Trung quốc, không có ai xuất thân từ phía Nam sông Dương Tử. Truyền thống đă định rằng không có một gă miền Nam ăn cơm nào có thể leo lên ngai vàng mà chỉ có người phương Bắc ăn ḿ mới có thể làm được chuyện đó!”.

 

     Căn cứ trên truyền thuyết, các Thần tích và Tộc phả được phối kiểm bởi khoa Khảo cổ học, Khảo Tiền sử, Chủng tộc học, Cổ nhân học, Dân tộc và Ngôn ngữ học được kiểm chứng bởi kết quả phân tích cấu trúc phân tử di truyền DNA của các tộc người trong vùng cho phép chúng ta xác định ngọn nguồn gốc tích Việt tộc. Gần đây, Tổng Thống Đài Loan Trần Thủy Biển cũng chủ trương Đài Loan độc lập tách hẳn khỏi TQ. Đây không chỉ là lư do chính trị mà nguyên nhân sâu sa là chủng tộc. Người Đài Loan là người Mân Việt, một trong một trăm chi tộc Việt của chúng ta.

 

     Tất cả chứng cứ từ thư tịch cổ đến các công tŕnh nghiên cứu khoa học mới nhất, thuyết phục nhất đă chứng tỏ Việt tộc là một chủng riêng biệt, một đại chủng Hoabinhian-Protoviets trong khi Hán tộc là chủng Trung Mongoloid. Như vậy, Trung Quốc là một hợp chủng quốc phương Đông tồn tại lâu đời nhờ vũ lực đă tạo dựng được một nền văn minh tổng hợp của văn minh nông nghiệp Việt cổ và văn minh du mục phương Tây với định chế chính trị cứng rắn, thống nhất văn tự. Thế nhưng lănh thổ Trung Quốc quá rộng nên buộc phải chấp nhận tản quyền, dành nhiều quyền hạn cho địa phương tự quản, đồng thời qua đó trói buộc các tộc người vào vào lợi ích địa phương, ḍng tộc để rồi theo thời gian, sự giao hoà huyết thống cùng với sự thoả măn lợi ích cuộc sống, tất cả sẽ hợp chủng để quên đi tông tộc cội nguồn. Họ chấp nhận chung sống v́ một ḍng dơi họ hàng, cùng sống trên một cộng đồng bản địa. Đây chính là sự hợp chủng đồng hoá mà các nhà nhân chủng học gọi là hiện tượng Osmose và cũng chính v́ vậy mà người Tàu yêu địa phương, yêu ḍng tộc hơn là yêu “cái gọi là đất nước Trung Quốc” của họ.

 

     Lịch sử đă chứng minh rằng Trung Quốc là một hợp chủng quốc phương Đông không phải là một chủng thuần tuư và cũng không có một nền văn hoá riêng biệt nào. Lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ triều đại Thương là kết quả của sự phối hợp chủng giữa Nhục Chi và Huns (Mông cổ). Triều Chu cũng là một tộc du mục có hai ḍng máu Mông Cổ và Hồi (Turc).Trung Quốc tồn tại lâu đời nhờ vũ lực đă tạo dựng được một nền văn minh tổng hợp của văn minh nông nghiệp Việt cổ và văn minh du mục phương Tây với định chế chính trị cứng rắn, thống nhất văn tự  đă liên tục xâm lược các quốc gia lân bang từ thời xa xưa cho đến siêu đế quốc đỏ Trung Cộng ngày nay.

 

     Hiện nay, Trung Cộng đang phải đối phó với những vấn nạn phát sinh từ mâu thuẫn nội tại không thể giải quyết được, đó là mâu thuẫn chủng tộc tiềm tàng hàng ngh́n năm, mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp đảng viên CS thống trị và quần chúng nhân dân bị trị, hậu qủa trầm trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu với hàng triệu người thất nghiệp xuống đường sẽ giật sập chế độ Cộng sản bạo tàn thống trị đày đọa nhân dân Trung Quốc hơn nửa thế kỷ qua. Đây chính là thực tế đa dạng, phức tạp được xem như mâu thuẫn nội tại quyết định sự tồn vong của một “Hiệp chủng quốc phương Đông”, một hiệp chủng quốc thành lập bởi sự xâm lược áp đặt có tên gọi là Trung Quốc.

 

 

 

 

II. XÂM THỰC VĂN HÓA:

 

     Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chủ trương Hán hóa thâm độc vẫn không khuất phục được ư chí kiên cường bất khuất, ḷng yêu nước vô biên của con dân đất Việt. Trước sự xâm lấn của Hán tộc, Việt tộc phải di cư xuống phương Nam nhưng nền văn hóa của Việt tộc đă thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để h́nh thành cái gọi là “văn minh Trung Quốc”. Hán tộc không những xâm chiếm đất đai quê hương xa xưa của Việt tộc từ thời vua Hùng lập quốc mà chúng c̣m xâm thực văn hóa, lấy văn hóa Việt rồi truyền bá đi khắp nơi gọi là văn minh Trung Quốc. Sự thực lịch sử này được chính Khổng Tử, vạn thế sư biểu của “Đại Hán” đă phải thừa nhận Hán tộc là kẻ cường bạo và ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt và tuyên dương người quân tử Việt ở phương Nam.

 

    Trong sách Trung Dung Khổng Tử đă viết như sau: “Độ luợng bao dung, khoan ḥa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử cư xử như vậy! Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo cư xử như vậy”. Kinh “Xuân Thu” cũng ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa. Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn c̣n với lối sống du mục man dă, không có ǵ gọi là luân thường đạo lư như Hán tộc vẫn rêu rao. V́ vậy, “Vạn thế Sư biểu” của Hán tộc là Khổng Tử đă phải đem những nghiên cứu, sưu tập, học hỏi của nền văn minh Bách Việt phương Nam rồi hệ thống thành những giềng mối nhân luân, tôn ti trật tự gọi là của Hán tộc.

 

    Tất cả những “Tứ thư, ngũ kinh” được gọi là tinh hoa của Hán tộc nhưng đă được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại “Thuật nhi bất tác”, sao chép lại của tiền nhân chứ không phải do ông sáng tác ra. Khổng Tử đă phải san định sắp xếp lại Kinh Thi, đưa những bài phong dao của 14 nước gọi là Quốc phong, đặc biệt là “Chu Nam” và “Chiêu Nam” của Việt được gọi là “Chính phong”, c̣n các nước khác là Biến phong v́ nêu những việc bất chính của các nước ra để răn đời. Chu Hy người chú giải Kinh Thi viết: “Theo thuyết xưa, thơ Chu Nam và Chiêu Nam là thơ Chính Phong, ứng dụng những thơ ấy vào gia đ́nh, làng xóm và nước nhà mà giáo hóa cả thiên hạ”.

 

    Sử gia chính thống của “Đại Hán” là Tư Mă Thiên đă phải thừa nhận sự thật lịch sử: “Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đă có đại công đức với muôn dân vậy ..!”. Điều này chứng tỏ rằng Hán tộc phải chịu ơn tộc Việt v́ đă tiếp nhận nền văn minh của Bách Việt để rồi biến cải thành văn minh Trung Quốc. Sự thật lịch sử đă rơ ràng, thế nhưng với bản chất “Đại Hán” xâm lược bành trướng, chính sử Trung Quốc cứ vẫn chép Việt tộc là man di, các Thứ sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi Bách Việt ở phương Nam đă đi vào nền nếp của văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước Hán.

 

    Sự thật lịch sử này, một lần nữa được tác gỉả bộ “Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc” Ngô Vinh Chính và Vương Miện Quí xác nhận: “Văn hóa Trung Quốc là tài sản tinh thần do hàng trăm dân tộc trong nội địa trải qua  hàng ngàn năm sáng tạo nên. Đó là nền văn hoá Tề-Lỗ, văn hóa Yên-Triệu, văn hóa Tam Tần, văn hóa Ngô Việt, văn hoá Tam Sở, văn hóa Ba Thục trong đó văn hóa Hán là chủ thể”. Trong số 6 nền văn hóa mà họ xác nhận là có ít nhất là 3 nền văn hóa Việt cổ đó là văn hóa Ngô Việt, văn hóa Tam Sở, văn hóa ba Thục chứ không phải văn hóa Hán.

 

    Một nhà nghiên cứu về Trung Quốc khác là Terrien de la Couperie trong tác phẩm “Những ngôn ngữ trước Hán” đă nhận định: “Người Hán ngại nh́n nhận sự có mặt của những cư dân không phải là Hán tộc sống độc lập ngay giữa miền họ cai trị. Tuy họ không thể giấu được sự kiện là họ đă xâm lăng, nhưng họ đă quen dùng những danh từ đao to búa lớn, những tên địa dư rộng để bịt mắt những độc giả không chú ư, hầu che đậy buổi sơ khai tương đối bé nhỏ của họ. Terrien de la Couperie kết luận: “Niềm tin là Trung Quốc vốn lớn lao măi từ xưa và thường xuyên là như thế chỉ là một huyền thoại. Trái ngược lại, đó là việc mới xảy ra về sau này. Văn minh Trung quốc không phải tự nó sinh ra mà chính là kết quả của sự thâu hoá. Việc thâu hoá th́ ngày nay được nhiều người công nhận, c̣n thâu hoá từ đâu th́ trước đây cho là từ phía Tây nhưng về sau này, nhiều người cho là từ văn hoá Đông Nam …”

 

    Học giả Andreas Lommel trong tác phẩm “Tiền sử” (Prehistoric) đă nhận định cái gọi là nền văn hoá Trung Hoa do 8 nền văn hoá khác hợp lại mà thành:

 

1. Nền văn hoá Tung-Xích từ Đông Bắc đến, tập trung ở Hà Bắc (Hopei) và Sơn Đông (Shangtung). Tộc người này trước chuyên về săn bắn sau chuyển sang chăn nuôi, đặc biệt là nuôi heo.

 

2. Nền văn hoá Mông Cổ của tộc người chuyên săn bắn sống đời du mục. Nền văn hoá này tập trung nhiều nhất ở Sơn Tây và Nội Mông.

 

3. Nền văn hoá Thổ (Turkish) của tộc người chuyên sống đời du mục, săn bắn và trồng lúa Tắc( Millet), họ đă thuần hoá ngựa khoảng 2.500 năm TDL. Theo ông th́ nền văn hoá này góp phần lớn cho sự h́nh thành nền văn hoá Hán và Hán tộc sau này.

 

4. Nền văn hoá Tây Tạng (Tibetan) của tộc người chuyên về chăn nuôi dê cừu, phần lớn tập trung tại miền núi của các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc và Tứ Xuyên.

 

     C̣n lại 4 nền văn hoá gọi chung là văn hoá phương Nam bao gồm nhiều chủng tộc như tộc người Nhao chuyên về săn bắn, tộc người Dao vừa săn bắn vừa hái lượm và một tộc người chuyên về nghề trồng lúa nước mà theo Lommel cho là tổ tiên của người Thái, người Miến (Shan) và người Lào sau này thành lập các quốc gia Thái Lan, Miến Điện và Ai Lao. Lommel cũng cho rằng tổ tiên của người Việt sau này là do người Thái và người Dao hợp thành ..! Theo Lommel th́ “Phương Nam có nền văn hoá nông nghiệp mạnh mà Thái là tộc người tiêu biểu. Chính tộc người này trở nên thành phần quan trọng nhất tại Trung Quốc”. Theo ông có 2 tộc người, một từ Tây Bắc là tộc Thổ giỏi về chiến tranh, biết thuần hoá ngựa và thiên về săn bắn và một tộc người từ phương Nam giỏi về canh nông. Đây là 2 tộc người chính tạo nên nước Trung Quốc ngày nay mà tộc người Tây Bắc là chính yếu”.

 

     Nhận định trên của Lommel tuy có phần chính xác nhưng c̣n nhiều phiến diện sai lầm. Thực ra đây chính là nền văn hoá của Bách Việt ở phương Nam kể cả nền văn hoá mà Lommel nói là văn hoá Tung-Xích từ Đông Bắc đến, tập trung ở Hà Bắc (Hopei), Sơn Đông (Shangtung) và văn hóa Tây Tạng đều là những nền văn hóa tiền Việt.  Nền văn hóa của cư dân vùng Sơn Đông chính là của chi Lạc bộ Trăi mà thư tịch cổ Trung quốc gọi là “Rợ Đông Di” cũng chính là nền văn hoá của Bách Việt. Tộc người mà Lommel gọi là tộc Thái chính là chi Âu Việt, tên Thái chỉ mới có sau này mà thôi, sau khi thiên cư xuống phương Nam. Như vậy theo Lommel trong 8 nền văn hóa hợp thành cái gọi là văn hóa Trung Hoa đă có nền văn hóa Việt.

 

     Trong tác phẩm vĩ đại “Science and Civilization in China”, nhà sử học lừng danh Joseph Needham đă nhận định rằng nền văn hoá Trung Hoa được h́nh thành nhờ 6 nền văn hoá cổ đại:

Thứ nhất là nền văn hoá Tung Gu Xích phương Bắc ảnh hưởng đến lối sống của người Ngưỡng Thiều và Long Sơn.

 

Thứ hai là nền văn hoá du mục của người Thổ từ Tây Bắc đến.

 

Thứ ba là nền văn hoá Proto-Tibetan tức cổ Tạng đến từ phương Tây.

 

Thứ tư, năm và sáu là từ phương Nam và Đông Nam lên.

 

     Theo học giả J.Needham th́ Protoviets đă mang theo 25 đặc trưng văn hoá lên địa bàn cư trú mới mà các nhà nghiên cứu nhân chủng, ngôn ngữ và văn hoá liệt kê như sau

 

1. Cách làm quần áo bằng vỏ cây.

2. Tục xâm ḿnh.

3. Đốt rừng làm rẫy.

4. Kỹ thuật làm nương rẫy.

5. Kỹ thuật đào mương dẫn nước vào ruộng.

6. Kỹ thuật thuần hoá trâu để cày bừa.

7. Văn minh trồng lúa nước.

8. Đặc điểm ngôi nhà làng để dân làng tụ họp sinh hoạt. 

9. Kỹ thuật trồng tre và sử dụng dụng cụ bằng tre trong sinh hoạt hàng ngày.

10. Đặc thù về giống chó đă được thuần hoá.

11. Kỹ thuật làm tranh sơn mài.

12. Văn hoá biển và sông nước.

13. Kỹ thuật đóng thuyền tàu dài.

14. Tục đua thuyền trong các lễ hội.

15. Huyền thoại về con Rồng.

16. Tôn thờ loài Rồng này.

17. Tục thờ cúng ông bà Tiên tổ.

18. Tục giết heo để cúng bái.

19. Tục cầu tự (cầu cúng để có con nối dơi tông đường)

20. Hội mùa Xuân, mùa Thu để trai gái tự do vui chơi để tự do lựa vợ kén chồng.

21. Tục linh thiêng hoá ngọn núi.

22. Văn minh Trống đồng.

23. Kỹ thuật đúc sắt.

24. Kỹ thuật dùng nỏ bắn tên.

25. Kỹ thuật làm Mũi tên có tẩm thuốc độc.

 

   Điểm quan trọng được nhấn mạnh ở đây là khác với Lommel, J. Needham khẳng định rằng: 3 nếp sống văn hoá này đem vào Trung Hoa thời Tiền sử mang yếu tố “Biển” rơ rệt và có thể mô tả bằng một chữ, đó là chữ “VIỆT” mà trước kia thường gọi sai lầm là Thái cổ  (ProtoThai). Học giả lừng danh này c̣n chú thích rơ chữ Việt nay là quốc hiệu của một nước vùng Đông Nam châu Á: Nước Việt Nam ngày nay. Chính v́ vậy, học giả Nga ông Ja.V.Chesnov đă nhận định rất sâu sắc về nền văn minh Trung Quốc như sau: Trước triều Thương, văn hoá Trung Hoa được h́nh thành với sự đóng góp của văn hoá phương Nam và sau triều Thương tiến bộ là do văn hoá phương Tây. Hán tộc đă thôn tính lănh thổ Việt rồi tiếp nhận văn hóa Việt là một sự thật lịch sử, phần lớn Bách Việt đă  trở  thành người TQ nên Sử Hán không những phủ nhận văn hóa Việt mà c̣n không dám nhận Bách Việt là một trong những dân tộc họp thành cái gọi là Hán tộc ngày nay. Bản chất Hán tộc gian manh xảo quyệt lúc nào cũng chủ trương tiêu diệt đến người Việt Nam cuối cùng mới yên tâm độc chiếm lănh thổ cũng như văn hóa Việt. Tư Mă Thiên, sử gia chính thống Đại Hán đă phải thừa nhận “Việt tuy gọi là man di nhưng đă có công lớn với muôn dân vậy”. Đây chính là nỗi nhức nhối, khối U trong tâm can Tầu Hán nên chúng phải xâm lấn tiêu diệt Việt bằng mọi cách.