PHỤC HỒI SỰ THẬT LỊCH SỬ

 

“ TRẢ LẠI NHỮNG G̀ …

 

CỦA LỊCH SỬ CHO LỊCH SỬ”

 

Phạm Trần anh

 

Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay trải qua hàng ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch văn hóa ngoại lai. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của kẻ thắng trận và thủ đoạn thâm độc quỉ quyệt đă không những dùng mọi phương cách để đồng hóa Việt tộc bằng cách xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết t́m về lịch sử trong một mớ “chính sử” hỗn độn mơ hồ. Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của một ngàn năm đô hộ của sự nô dịch văn hóa khiến ta chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm. Thế nhưng… Lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù bị sửa đổi vùi lấp hàng ngh́n năm dưới ánh sáng của chân lư khách quan trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.

 

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nh́n lại toàn bộ lịch sử Việt để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đă bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đă đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại địa bàn Việt Nam bây giờ. Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 của Ngô Quyền mới chính thức mở ra thời kỳ độc lập của Việt tộc. Tuy thất bại về quân sự nhưng nền văn hóa của Việt tộc đă thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để h́nh thành cái gọi là văn minh Trung Quốc. Chính sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mă Thiên đă phải thừa nhận một sự thực là “ Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đă có đại công đức với muôn dân vậy ..!”. Vạn thế sư biểu của Hán tộc là Khổng Tử đă ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đă viết như sau:“Độ luợng bao dung, khoan ḥa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy ..!  Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo ở đó ..”. Trong kinh “Xuân Thu”, Khổng Tử đă ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa … Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn c̣n dă man với lối sống du mục.ngay trong giới quí tộc chứ đừng nói đến b́nh dân. Thế mà chính sử Trung Quốc cứ vẫn sao chép Việt tộc là man di, các Thứ sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi Bách Việt ở phương Nam đă đi vào nền nếp của văn minh nông nghiệp từ lâu.

 

    Chính“Vạn thế Sư biểu” của Hán tộc là Khổng Tử cũng đă phải đem những nghiên cứu, sưu tập, học hỏi của nền vă minh Bách Việt phương Nam đặt để thành những quy luật, trật tự cho xă hội phương Bắc. Tất cả những “Tứ thư, ngũ kinh” được xem như tinh hoa của Hán tộc đă được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại “Thuật nhi bất tác”, sao chép lại của tiền nhân chứ không phải do ông sáng tác ra. Ngày nay, sự thật lịch sử đă được phục hồi khi giới nghiên cứu đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính một vị vua của Hán tộc, Hán Hiến Đế đă phải thừa nhận:“Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”.

 

 

 Ngày nay, hầu hết các học giả, các nhà Trung Hoa học đều cho rằng văn hoá Trung Quốc phát nguyên từ văn hóa Việt ở miền Nam Trung Quốc. Các sử gia Trung Quốc thời trước cố t́nh không thừa nhận một sự thực, đó là sự đóng góp to lớn của cư dân Hoa Nam tức người Việt cổ trong việc h́nh thành tạo dựng nền văn minh Trung Hoa. Học giả Eicks Kedt nhận định rằng Tư Mă Thiên, sử gia chính thống của “Đại Hán” sinh ở Long Môn thuộc Sơn Tây nên nhất quyết từ chối không để lại bất kỳ một tài liệu ǵ về dân Mạn Nam. Hầu như tất cả người Tàu mạn Bắc đều như vậy.  Eicks Kedt tiếc rằng những học giả Âu Tây chỉ biết ngốn nghiến sử liệu của Tư Mă Thiên hay những sử gia khác mà không chú ư đến việc bẻ quặt do sự bỏ sót nhiều sự kiện, nhất là khi nói đến các dân Man Di ngoài Hán tộc. Lư do của sự bỏ sót đó là họ đă xem Nho giáo xuyên qua lăng kính nhuộm đẫm màu Hán tộc nên chỉ nh́n nhận để có những ǵ thuộc miền Bắc nước Tàu mà thôi.

 

 Một nhà nghiên cứu về Trung Quốc khác là Terrien de la Couperie trong tác phẩm “Những ngôn ngữ trước Hán” đă nhận định: “Người Hán ngại nh́n nhận sự có mặt của những cư dân không phải là Hán tộc sống độc lập ngay giữa miền họ cai trị. Tuy họ không thể giấu được sự kiện là họ đă xâm lăng, nhưng họ đă quen dùng những danh từ đao to búa lớn, những tên địa dư rộng để bịt mắt những độc giả không chú ư, hầu che đậy buổi sơ khai tương đối bé nhỏ của họ. Muốn t́m hiểu các cư dân đó th́ chỉ c̣n cach là đi ḍ t́m vết tích c̣n quá ít v́ cho tới nay, người ta ít chú ư tới sự quan trọng lịch sử của các chủng tộc tiền Hán trừ một hai chuyện gây sự ṭ ṃ mà thôi”. Terrien de la Couperie kết luận: “Niềm tin là Trung Quốc vốn lớn lao măi từ xưa và thường xuyên là như thế chỉ là một huyền thoại. Trái ngược lại, đó là việc mới xảy ra về sau này. Văn minh Trung quốc không phải tự nó sinh ra mà chính là kết quả của sự thâu hoá. Việc thâu hoá th́ ngày nay được nhiều người công nhận, c̣n thâu hoá từ đâu th́ trước đây cho là từ phía Tây nhưng về sau này, nhiều người cho là từ văn hoá Đông Nam …”

 

 Học giả Andreas Lommel trong tác phẩm “Tiền sử” (Prehistoric) đă nhận định cái gọi là nền văn hoá Trung Hoa do 8 nền văn hoá khác hợp lại mà thành:

 

1. Nền văn hoá Tung-Xích từ Đông Bắc đến, tập trung ở Hà Bắc (Hopei) và Sơn Đông (Shangtung). Tộc người này trước chuyên về săn bắn sau chuyển sang chăn nuôi, đặc biệt là nuôi heo.

 

2. Nền văn hoá Mông Cổ của tộc người chuyên săn bắn sống đời du mục. Nền văn hoá này tập trung nhiều nhất ở Sơn Tây và Nội Mông.

 

3. Nền văn hoá Thổ (Turkish) của tộc người chuyên sống đời du mục, săn bắn và trồng lúa Tắc( Millet), họ đă thuần hoá ngựa khoảng 2.500 năm TDL. Theo ông th́ nền văn hoá này góp phần lớn cho sự h́nh thành nền văn hoá Hán và Hán tộc sau này.

 

4. Nền văn hoá Tây Tạng (Tibetan) của tộc người chuyên về chăn nuôi dê cừu, phần lớn tập trung tại miền núi của các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc và Tứ Xuyên.

 

C̣n lại 4 nền văn hoá gọi chung là văn hoá phương Nam bao gồm nhiều chủng tộc như tộc người Nhao chuyên về săn bắn, tộc người Dao vừa săn bắn vừa hái lượm và một tộc người chuyên về nghề trồng lúa nước mà theo Lommel cho là tổ tiên của người Thái, người Miến (Shan) và người Lào sau này thành lập các quốc gia Thái Lan, Miến Điện và Ai Lao. Lommel cũng cho rằng tổ tiên của người Việt sau này là do người Thái và người Dao hợp thành ..! Theo Lommel th́ “Phương Nam có nền văn hoá nông nghiệp mạnh mà Thái là tộc người tiêu biểu. Chính tộc người này trở nên thành phần quan trọng nhất tại Trung Quốc”. Theo ông có 2 tộc người, một từ Tây Bắc là tộc Thổ giỏi về chiến tranh, biết thuần hoá ngựa và thiên về săn bắn và một tộc người từ phương Nam giỏi về canh nông. Đây là 2 tộc người chính tạo nên nước Trung Quốc ngày nay mà tộc người Tây Bắc là chính yếu”.

 

Nhận định trên của Lommel tuy có phần chính xác nhưng c̣n nhiều phiến diện sai lầm. Thực ra đây chính là nền văn hoá của Bách Việt ở phương Nam kể cả nên văn hoá mà Lommel nói là Tung Xích thực ra của chi Lạc bộ Trăi mà thư tịch cổ Trung quốc gọi là “Rợ Đông Di” cũng chính là nền văn hoá của Bách Việt. Tộc người mà Lommel gọi là tộc Thái chính là chi Âu Việt, tên Thái chỉ mới có sau này mà thôi, sau khi thiên cư xuống phương Nam. Trong tác phẩm vĩ đại “Science and Civilization in China”, nhà sử học lừng danh Joseph Needham đă nhận định rằng nền văn hoá Trung Hoa được h́nh thành nhờ 6 nền văn hoá cổ đại:

 

Thứ nhất là nền văn hoá Tung Gu Xích phương Bắc ảnh hưởng đến lối sống của người Ngưỡng Thiều và Long Sơn.

 

Thứ hai là nền văn hoá du mục của người Thổ từ Tây Bắc đến.

 

Thứ ba là nền văn hoá Proto-Tibetan tức cổ Tạng đến từ phương Tây.

 

Thứ tư, năm và sáu là từ phương Nam và Đông Nam lên.

 

Theo học giả J.Needham th́ Protoviets đă mang theo 25 đặc trưng văn hoá lên địa bàn cư trú mới mà các nhà nghiên cứu nhân chủng, ngôn ngữ và văn hoá liệt kê như sau:

 

1. Cách làm quần áo bằng vỏ cây.

2. Tục xâm ḿnh.

3. Đốt rừng làm rẫy.

4. Kỹ thuật làm nương rẫy.

5. Kỹ thuật đào mương dẫn nước vào ruộng.

6. Kỹ thuật thuần hoá trâu để cày bừa.

7. Văn minh trồng lúa nước.

8. Đặc điểm ngôi nhà làng để dân làng tụ họp sinh hoạt.

9. Kỹ thuật trồng tre và sử dụng dụng cụ bằng tre trong sinh hoạt hàng ngày.

10. Đặc thù về giống chó đă được thuần hoá.

11. Kỹ thuật làm tranh sơn mài.

12. Văn hoá biển và sông nước.

13. Kỹ thuật đóng thuyền tàu dài.

14. Tục đua thuyền trong các lễ hội.

15. Huyền thoại về con Rồng.

16. Tôn thờ loài Rồng này.

17. Tục thờ cúng ông bà Tiên tổ.

18. Tục giết heo để cúng bái.

19. Tục cầu tự (cầu cúng để có con nối dơi tông đường)

20.  Hội mùa Xuân, mùa Thu để trai gái tự do vui chơi để tự do lựa vợ kén chồng.

21. Tục linh thiêng hoá ngọn núi.(35bis)

22.  Văn minh Trống đồng.

23.  Kỹ thuật đúc sắt.

24.  Kỹ thuật dùng nỏ bắn tên.

25.  Kỹ thuật làm khí giới có chất độc ( Mũi tên có tẩm thuốc độc).

 

 Sau văn hoá Hoà B́nh là VĂN HOÁ BẮC SƠN cũng thuộc nền văn hoá thung lũng mà chủ nhân là cư dân ở trung châu Bắc Việt là chủ nhân của nền văn hoá Bắc Sơn. Thời kỳ này tổ tiên ta đă chuyển hẳn sang trồng trọt và chăn nuôi nhỏ nhưng vẫn c̣n hái lượm và săn bắt cá. Di tích hang Tham Fi c̣n gọi là hang ma (Spirit cave) tại Đông Bắc Thái Lan có niên đại C14 là 10-8 ngàn năm. Nhà khoa học Mỹ Chester Gorman cũng đă t́m thấy nhiều hoá thạch lớn của các loại cây trồng như trám, cau, bàng và một số loại rau như rau sắn chùa Hương nửa hoang dại nửa thuần dưỡng và những vỏ trấu ở di chỉ hang Xóm tại Hoà B́nh. Thời kỳ này nghề nông trồng lúa đă bắt đầu từ vùng thung lũng rồi phát triển dần lên vùng cao.

 

 Điểm quan trọng được nhấn mạnh ở đây là khác với Lommel, J. Needham khẳng định rằng: 3 nếp sống văn hoá này đem vào Trung Hoa thời Tiền sử mang yếu tố “Biển” rơ rệt và có thể mô tả bằng một chữ, đó là chữ “VIỆT” mà trước kia thường gọi sai lầm là Thái cổ  (ProtoThai). Học giả lừng danh này c̣n chú thích rơ chữ Việt nay là quốc hiệu của một nước vùng Đông Nam châu Á: Nước Việt Nam ngày nay. Chính v́ vậy, học giả Nga ông Ja.V.Chesnov đă nhận định rất sâu sắc về nền văn minh Trung Quốc như sau: Trước triều Thương, văn hoá Trung Hoa được h́nh thành với sự đóng góp của văn hoá phương Nam và sau triều Thương tiến bộ là do văn hoá phương Tây ...

 

Tóm lại, người Trung Quốc mà ta thường gọi là Tàu (Hán tộc) không phải là một chủng thuần tuư và cũng không có một văn hoá riêng biệt nào. Lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ triều đại Thương là một tộc người du mục kết quả của sự phối hợp chủng giữa Nhục Chi và Huns (Mông cổ). Kế tiếp là triều Chu cũng là một tộc du mục có hai ḍng máu Mông Cổ và Hồi (Turc). Sau khi Mông Cổ chiếm được Trung Quốc đă thành lập triều Nguyên rồi khi Măn Châu diệt triều Minh lại thành lập triều Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

 

Có thể nói lịch sử Trung Quốc là lịch sử của sự xâm lăng và bành trướng đồng thời cũng bị xâm lăng nhưng tất cả kẻ chiến thắng bị sức mạnh của văn hoá của dân bị trị khuất phục để rồi tự đồng hoá với cư dân bản địa cuối cùng trở thành  Hán tộc mà ta thường gọi là người Tàu. Giáo sư Wolfram Eberhard trong tác phẩm “Lịch sử Trung Quốc” đă nhận định: “Ư kiến cho rằng chủng tộc Hán đă sản sinh ra nền văn minh cao đại hoàn tự lực do những tài năng đặc biệt của họ th́ nay đă không thể đứng vững, mà nó phải chịu cùng một số phận như những thuyết cho rằng họ đă thâu nhận của Âu Tây. Hiện nay, người ta biết rằng xưa kia không có một chủng tộc Tàu, cũng chẳng có đến cả người Tàu nữa, y như trước đây 2.000 năm không có người Pháp, người Suisse vậy. Người Tàu chỉ là sản phẩm của sự pha trộn dần theo một nền văn hoá cao hơn mà thôi”.

 

Chính sử gia Trung quốc, Chu Cốc Thành trong “Trung Quốc thông sử” viết: “Viêm tộc (Việt tộc) đă có mặt khắp nước Trung Hoa cổ đại trước khi các ḍng tộc khác tràn vào nên có thể xem là chủ nhân đầu tiên. Khi Viêm Việt đă định cư, Hán tộc c̣n sống du mục tại vùng Tân Cương, Thanh Hải. Về sau họ theo Hoàng Hà tràn vào Hoa Bắc, chiếm đất của Việt tộc”. Nhà nghiên cứu La Hướng Lâm người Trung Quốc trích dẫn “Việt tỉnh Dân tộc Khảo nguyên” của Chung Độc Phật cco biết “Cả miền đất châu Kinh (đất nước Sở), châu Dương (đất nước Việt) và châu Lương (đất nước Qú Việt) nghĩa là tất cả lưu vực sông Dương Tử từ Vạn Huyện ở Tứ Xuyên trở xuống đều là giống người Việt ở cả. Sách Hoa Dương Quốc chí chép miền Nam Trung gồm Quí Châu, Vân Nam là đất Di Việt xưa. Vùng đất này gồm hơn 1 chục vương quốc như Điền Bộc, Cú Đinh, Dạ Lang, Diệp Du, Đồng Sư, Việt Tuỷ …”. Sự thực lịch sử này đă được các sử gia Trung Quốc hiện đại công nhận là Việt tộc theo sông Dương Tử tiến về phía Đông thành lập 7 tỉnh lưu vực sông Dương Tử gồm Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy và Triết Giang. Dần dần Việt tộc tiến lên Hoa Bắc thành lập 6 tỉnh lưu vực Hoàng Hà là Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông, Thiểm Tây, Cam Túc và phía Nam thành lập các tỉnh lưu vực Việt Giang gồm Vân Nam, Quí Châu, Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến.

 

Ngày nay, các nhà nghiên cứu như VK Tinh, Wang Kwo Wu và cả nhà văn nổi tiếng Quách Mạt Nhược đều xác định là hầu hết các huyền thoại về các vị Vua cổ xưa nhất không thấy ghi trên giáp cốt đời Thương, mà chỉ ghi vào sách vở về sau này, khoảng từ thế kỷ thứ IV TDL, tức là thời kỳ xuất hiện các quốc gia Bách Việt thời Xuân thu Chiến quốc. Thực tế lịch sử này cho thấy những huyền thoại cổ xưa là của Việt tộc v́ nếu là tổ tiên Hán tộc th́ đă phải ghi trên giáp cốt đời Thương cũng như trong các sử sách, cốt tự văn hoặc chữ tạc trên đồ dùng. Chính v́ vậy mà nhóm Tân học gọi là Nghi cổ phái thành lập năm 1920 do Quách Mạt Nhược chủ xướng đă bác bỏ thời Tam Hoàng, Ngũ Đế là của Trung Quốc. Thật vậy, huyền thoại về thủy tổ Bàn Cổ mới được nói đến trong quyển “Tam Hoàng”, kể cả Phục Hi, Nữ Oa cũng không hề được nhắc tới trong các sách cổ xưa như Kinh Thi, Trúc thư kỷ niên và cũng không hề thấy xuất hiện trong đồ đồng hoặc bốc từ. Viêm Đế Thần Nông mới được Mạnh Tử thời Xuân thu Chiến quốc nhắc tới c̣n Hoàng Đế chỉ biết tới vào thế kỷ thứ III TDL khi Tư Mă Thiên đưa vào bộ “Sử kư” của Tư Mă Thiên. Tháng 2-1971, các nhà khảo cổ t́m được ở Liu-ch'êng-ch'iao Trường Sa thuộc vùng Hồ Nam, địa điểm tên là một cái qua c̣n nguyên vẹn. Trong tác phẩm "Cultural Frontiers in Ancient East Asia" của William Watson viết về những đồ vật đào lên tại tỉnh Hồ Nam trong đó có một cái qua có khắc tên một vị vua tên là Nhược Ngao. Sử Kư Tư Mă Thiên và Xuân Thu Tả Truyện viết rơ là vị vua có hiệu là Nhược Ngao là vị vua Hùng thứ 14 tên thật là Hùng Nghi hiệu Nhược Ngao cai trị vào năm 789 trước Tây Lịch. Điều này chứng tỏ thời đại Hùng Vương là có thật trong lịch sử.

 

Trước những sự thật của lịch sử, Trung Quốc đă phải xác nhận là nền văn hoá của họ là do hàng trăm dân tộc góp phần tạo dựng nhưng văn hoá Hán ở vùng Tây Bắc là chủ thể. Thế nhưng chính học giả Trung Quốc Wang Kuo Wei lại cho rằng nơi phát nguyên văn hoá Tàu là ở miền Đông Bắc tức vùng Sơn Đông của Lạc bộ Trăi chứ không phải ở miền Tây Bắc (Thiểm tây) như quan niệm sai lầm từ trước đến nay. Sử Trung quốc vẫn cho rằng 3 triều đại Hạ, Thương, Chu là những triều đại đầu tiên của Trung Quốc theo thứ tự, nhưng Kwang Chih Chang khám phá ra th́ không phải là như vậy mà đó chỉ là 3 trong nhiều nhóm chính trị đại diện cho các chủng tộc đối nghịch tranh giành ảnh hưởng mà thôi, c̣n văn hoá th́ đều theo như Di Việt nghĩa là cũng thờ thổ thần và cây linh.

 

 Theo Công tŕnh mới nhất “Nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa”, tổng kết trong Hội nghị Quốc tế các nhà Trung Hoa học trên toàn thế giới tổ chức tại Berkeley năm 1978, th́  không thể t́m ra đủ dấu vết chứng cớ để phân biệt giữa Hán tộc và các tộc người không phải là Tàu trên phương diện lịch sử. Giới nghiên cứu phải t́m về dấu tích văn hoá mà về văn hoá th́ Hán tộc chịu ảnh hưởng của Di Việt. Tương truyền Thần Nông phát xuất ở miền Tây Tạng (Tibet) đi vào Trung Nguyên qua ngă Tứ Xuyên tới định cư ở Hồ Bắc bên bờ sông Dương Tử, c̣n theo dân gian th́ ông Bàn cổ chính là ông Bành tổ. Theo dân gian truyền tụng th́ mồ mả của ông c̣n ở đâu đó miền rừng núi Ngũ Lĩnh. Bàn cổ mới được đưa vào lịch sử Trung Quốc đời Tam Quốc trong quyển “Tam Ngũ lược Kỷ” của Từ Chỉnh và theo Kim Định th́ Phục Hi, Nữ Oa đều xuất thân từ Di Việt ở châu Từ miền Nam sông Hoài.

 

Việt tộc là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước đă cư ngụ rải rác khắp Trung nguyên (lănh thổ Trung Cộng bây giờ) từ lâu trước khi Hán tộc du mục từ Tây Bắc tràn xuống đánh đuổi nhà Hạ của Việt tộc để thành lập triều Thương đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Tư Mă Thiên sử gia “Đại Hán” đă mạo nhận Hoàng Đế nguyên là vị thần được dân gian tôn kính là tổ tiên của Hán tộc (Tàu) nên xem nhà Hạ là của Tàu. Thế rồi họ thêm chữ Hoa là một h́nh dung từ chỉ sự cao sang vinh hiển để trước chữ Hạ để chỉ nền văn minh Hoa Hạ cao đẹp của Việt tộc là của họ. Bản chất của đế quốc “Đại Hán” là xâm lược và bành trướng suốt ḍng lịch sử nên hết triều Thương rồi đến Chu, Tần, Hán … đă liên tiếp xâm lược đẩy lùi Việt tộc xuống phương Nam. Năm 939 chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử mở đầu thời kỳ độc lập của dân tộc. Hán tộc đă bao lần xâm lược nước ta nhưng đều thất bại thảm hại cho đến ngày nay, Trung Cộng lại xâm lấn lănh thổ Việt Nam với sự tiếp tay của tập đoàn CS Việt gian bán nước.

 

     Bước sang thiên niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn năm bởi kẻ thù Hán tộc bành trướng. Trong thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại sửng sốt trước cái gọi là “Nghịch lư La Hy” khi trước đây nhân loại cứ tưởng tất cả nền văn minh Tây phương là của đế quốc Hy Lạp La Mă để rồi phải xác nhận đó chính là nền văn minh của Trung Quốc. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại lại ngỡ ngàng khi thấy sự thật lịch sử là “ cái gọi là nền văn minh Trung Quốc” lại chính là nền văn minh của đại chủng Bách Việt.