img004

NHÂN HỘI NGHỊ VỀ AN NINH HÀNG HẢI BIỂN ĐÔNG TẠI WASHINGTON NGÀY 20-21/06/2011…

VỀ CÁI GỌI LÀ “DI SẢN LỊCH SỬ” CỦA TRUNG QUỐC !!!

Hội Nghị về An Ninh Hàng Hải Biển Đông diễn ra tại Washington Hoakỳ ngày 20-21/06/2011. Nhiều học giả quốc tế phản bác lập luận Gs Su Hao về ‘cơ sở lịch sử’ của đường lưỡi ḅ của Trung Quốc. Giáo sư Tô Hạo đến từ Đại học Ngoại Giao Bắc Kinh để biện minh cho việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền biển Đông với đường “Lưỡi Ḅ”. Giáo sư Tô Hạo phát biểu: "chủ quyền là lợi ích quốc gia mà một chính thể không thể từ bỏ, nếu muốn tồn tại". Tô Hạo đă viện dẫn "di sản lịch sử" để biện minh cho đường chữ U, rằng đó là di sản lịch sử sau Chiến tranh thế giới thứ 2, là di sản của thời Tống để lại... Sau khi Tô Hạo phát biểu, các học gỉa quốc tế đă gay gắt phê phán quan điểm này. Giám đốc Ủy ban Pháp quyền Đại dương của Mỹ, Caitlyn Antrim khẳng định đường chữ U không có cơ sở theo luật quốc tế bởi cơ sở lịch sử là rất yếu và rất khó bảo vệ:"Tôi không hiểu Trung Quốc tuyên bố cái ǵ trong đường chữ U đó. Nếu họ tuyên bố chủ quyền với các đảo do đường ấy bao quanh, th́ câu hỏi đặt ra là họ có chứng minh được chủ quyền với các đảo đó hay không. Nếu Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền với các đảo từ 500 năm trước, nhưng sau đó lại bỏ trống th́ tuyên bố chủ quyền trở nên rất yếu. Đối với các đảo không có cư dân sinh sống th́ họ chỉ có thể tuyên bố lănh hải, chứ không thể tính vùng đặc quyền kinh tế từ các đảo đó". Không đồng t́nh với cách giải thích của Trung Quốc về ư nghĩa của đường lưỡi ḅ liên quan tới lịch sử, TS Peter Dutton nói: "Về quyền tài phán đối với các vùng biển, lịch sử không liên quan ǵ cả, mà phải tuân theo UNCLOS...Việc dùng lịch sử để giải thích chủ quyền làm xói ṃn các quy tắc của UNCLOS". Giáo sư Carl Thayer từ Học viện Quốc pḥng Australia nói rằng việc học giả Trung Quốc sử dụng "di sản lịch sử" để giải thích về tuyên bố chủ quyền một lần nữa bộc lộ việc thiếu cơ sở pháp lư theo luật quốc tế trong tuyên bố chủ quyền này.

 

Trên thực tế, “Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển –UNCLOS” chỉ qui định quyền tài phán đối với các vùng biển, đặt cơ sở pháp lư đă được luật pháp quốc tế công nhận để một quốc gia tuyên bố chủ quyền lănh thổ. Tuy nhiên, khi chứng minh chủ quyền lịch sử của lănh thổ, giới nghiên cứu vẫn phải tôn trọng tính chính thống của chủ quyền lịch sử nếu chính đáng và liên tục. Từ trước đến nay, Trung Quốc luôn luôn viện dẫn "di sản lịch sử" để biện minh cho đường chữ U, rằng đó là di sản lịch sử sau Chiến tranh thế giới thứ 2, là di sản của thời Tống để lại... Đây là luận điệu mà Trung Quốc đưa ra để không tôn trọng các công ước quốc tế về luật biển Unclos để độc chiếm biển Đông. Các học gỉa quốc tế không hiểu lịch sử Việt Nam nên chỉ lên tiếng bác bỏ v́ thiếu cớ sớ pháp lư đă đành, c̣n mấy ông tiến sĩ Việt Nam cứ ngồi “Trơ mắt ếch” rồi “Im thin thít” như kẻ bang quang mà học giả Nguyễn văn Tuấn đă chơi chữ là các ông ấy “Khiêm tốn quá”. Thật ra, những lư do học giả Nguyễn văn Tuấn đưa ra đều có lư nhưng có một vấn đề chúng ta phải thông cảm v́ các ông tiến sĩ giấy Việt Nam đâu có biết ǵ về lịch sử Việt Nam ngoài những ǵ gọi là lịch sử đảng. Sau công hàm ngoại giao bán nước năm 1958, Đảng CSVN đă chỉ thị cho Viện sử học, viện khoa học xă hội viết sử theo nghị quyết của đảng là không được đề cập tới thời lập quốc với phần lănh thổ xa xưa bên Trung Quốc. Các nhà sử học Mác Xít thuộc Viện khoa học xă hội CHXHCNVN  nhất loạt cho rằng nhà nước Văn Lang ra đời cách nay khoảng 2500-2600 năm cho phù hợp với những ǵ sử quan triều Thanh là Tiền Hy Tộ sửa đổi Đại Việt sử lược của tác giả vô danh đời Trần rồi đổi tên là Việt Sử Lược chép về việc thành lập quốc gia Văn Lang như sau:“Đến đời Trang Vương nhà Chu (696-682TCN) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang”.  Nguyễn Khắc Thuần trong “Việt Nam, tư liệu tóm tắt” th́ cái gọi là “Khoa học lịch sử hiện đại” cho rằng: “niên đại mở đầu của thời sơ sử được xác định là cách nay từ 2.600 năm tới 2.500 năm. Trái với những ghi chép của chính sử cũ và các tài liệu dă sử khác, các nhà nghiên cứu thuộc Viện Khoa học xă hội nhà nước CHXHCNVN cho rằng nước Văn Lang của các vua Hùng chỉ tồn tại khoảng 300 năm và niên đại tan ră là khoảng 208 TDL chứ không phải 258 TDL. Việc sửa đổi niên đại vua Hùng dựng nước để phù hợp với quan hệ hữu nghị Việt Trung chính là hành động bán nước, chính thức hợp thức hoá các cuộc xâm lược của Hán tộc qua việc sửa đổi lịch sử Việt, những nhà sử học Mác Xít vong bản này đă phủ nhận huyền thoại Rồng Tiên, phủ nhận toàn bộ lănh thổ xa xưa của Việt tộc !!!

 

Chính v́ vậy, chúng ta phải đánh đổ lập luận dựa trên cái gọi là “di sản lịch sử” mơ hồ của Trung Quốc bởi chính lịch sử của Trung Quốc. Thật vậy, tất cả nguồn sử liệu mà Trung Quốc và các học giả TQ viện dẫn đều có tính cách chung chung, không nói các chi tiêt cụ thể chứng minh được chủ quyền lịch sử về sự khám phá ra 2 quần đảo Hoàng sa và Trường Sa. Họ chỉ xác nhận là thuyền bè của Trung Quốc có đi ngang và t́nh cờ thấy các đảo này. Đoạn văn mà Tống sử chép là vua Tàu đă đến Hoàng Sa có ư qua Chiêm Thành nhưng qua không được đă chứng tỏ vua Tàu chỉ đến một đảo nào đó ở Nam TQ, nếu đến Hoàng sa thật th́ việc qua Chiêm Thành quá dễ dàng. Đặc biệt, không có một đoạn văn nào trong các chứng cứ lịch sử mà Trung Quốc viện dẫn mô tả cụ thể việc chiếm hữu như đổ bộ, tuần tra quanh các đảo mà chỉ nói là đi trấn an Giao Chỉ và viễn chinh ở Malaysia, Borneo và Java của Nam Dương quần đảo (Indonesia) mà thôi.

 

     Việc Trung Quốc viện dẫn một đoạn văn trong hiệp ước Thiên Tân Pháp Thanh không thuyết phục được ai v́ đây chỉ là Hiệp ước phân chia biên giới giữa Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc chứ không liên hệ ǵ đến các quần đảo nằm ngoài phạm vi Bắc Việt. Nguyên tên của hiệp ước này đă nói lên điều này: “Convention relative à la délimitation de la frontière entre la Chine et le Tonkin”. Chính v́ vậy, ngày nay nhà nước Trung Quốc không c̣n viện dẫn hiệp ước này trong việc chứng minh chủ quyền lănh thổ của họ đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nữa. Trung Quốc với lợi thế là một nước lớn đă trắng trợn độc chiếm biển Đông bất kể công pháp Quốc tế và chủ quyền của các nước khác. Trung Quốc thường đặt vấn đề chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa và Trường sa là “bất khả tư nghị” nghĩa là không cần phải bàn căi. Chính v́ vậy, chúng ta phải nh́n lại lịch sử từ khởi thủy h́nh thành nhà nước Trung Quốc mới thấy rơ sự thật lịch sử. Tất cả những quốc gia văn minh tiến bộ đều phải cộng nhận sự thật khách quan của lịch sử là một chân lư mà không một quốc gia nào, không một ai có thể phủ nhận được. Hội nghị quốc tế về nền văn minh Trung Quốc tại đại học Berkerley năm 1978 đă thống nhất nhận định rằng Di-Việt đă cư ngụ ở lănh thổ TQ bây giờ trước khi Hán tộc tràn vào xâm chiếm. Chính cổ sử Trung Quốc cũng xác nhận rơ ràng là “Năm Quí Tỵ 2.198TDL, vua Đại Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê. Năm Qúi Măo 2.085TDL vua Thiếu Khang nhà Hạ phong cho con thứ là Vô Dư ở đất Việt”. Đặc biệt, chính các bộ sử của Trung Quốc đă ghi chép lại các cuộc “viễn chinh” mà trên thực tế là các cuộc xâm lược để bành trướng lănh thổ.

 

1. Cổ sử Trung Quốc chép: “Thành Thang tên Lư, được nhà Hạ phong ở đất Thương, sau hợp với chư hầu đem quân về tiêu diệt nhà Hạ.Thành Thang lên ngôi đóng ở Hà Nam, đổi quốc hiệu là Thương. Đến đời Bàn Canh (1401-1374 TDL) dời đô về đồi Ân (Ân khư) nên đổi tên là Ân. Triều Thương kéo dài 612 năm từ năm 1766 đến 1154 TDL gồm tất cả 30 đời vua khắc trên giáp cốt”.

 

     Tộc Thương là tộc du mục ở Tây Bắc nên có quan hệ huyết thống với Mông Cổ và cả Thổ Nhĩ Kỳ (Turc) nữa nên có một nền văn minh du mục, biết nuôi ngựa và biết sử dụng chiến xa như các nước Tây Á, biết cách luyện kim, áp dụng chiến thuật quân sự phương Bắc với ngựa, chiến xa nên thắng nhà Hạ với nền văn minh nông nghiệp một cách dễ dàng. Hán sử chép năm 1766 TDL, vua Thương là Thành Thang cùng một số thủ lĩnh lập lời thề ở Mục Dă rồi đem quân  du mục từ Tây Bắc tràn xuống tiêu diệt nhà Hạ của Việt tộc lập ra triều đại Thương đầu tiên của Trung Quốc. Lănh thổ triều Thương lúc đó chỉ vỏn vẹn khoảng hơn 2 tỉnh ngày nay gồm phía Nam tỉnh Hà Bắc, phía Đông tỉnh Hà Nam, phía Bắc tỉnh Sơn Tây và phía Tây tỉnh Sơn Đông. Đến triều Chu lănh thổ cũng chỉ trong phạm vi nhỏ hẹp đến nỗi U Vương cho đốt lửa để các chư hầu đến tiếp cứu “Thiên tử” qua câu truyện“Nụ cười Bao Tự”. Khi Thương xâm lăng, cư dân nhà Hạ phải bỏ địa bàn lưu vực sông Bộc ở Hoa Bắc chạy tản mác khắp nơi. Bách Bộc tan ră, cư dân Bách Bộc phải vượt sông Hoàng Hà xuống lưu vực phía Nam thành lập các quốc gia để mưu sự sống c̣n mà thư tịch cổ Trung Quốc gọi là Bách Việt.

 

    Cương giới của Triều Thương là triều đại đầu tiên sáng lập ra nước Tàu (Trung Quốc) được sách sử “Hoài Nam Tử” chương Thái Tộc Huấn ghi rơ cương giới triều Thương như sau:“Tả Đông Hải, hữu Lựu Sa, tiền Giao Chỉ, hậu Hàm Đô”*. Nguồn sử liệu này cho chúng ta thấy rằng nước Thương (Trung Quốc) nằm ở trung tâm, bên trái là biển Đông, bên phải là Lựu Sa, sau lưng là Hàm Đô, trước mặt là Giao Chỉ tức là Giao Chỉ ở phía Nam của lănh thổ Thương (TQ). Như vậy thời đó, lănh thổ Giao Chỉ c̣n ở giáp ranh với Thương ở mặt Nam, giáp với tỉnh Hà Nam Trung Quốc bây giờ.

 

2. Cổ sử Trung Quốc chép: “Đời Cao Tông triều Ân, vượt Hoàng Hà đánh nước Quỉ Phương (Xích Qui Phương) 3 năm không thắng …”.

 

     Kinh Thư, Sử Kư Tư Mă Thiên và bộ Trúc Thư Kỷ niên chép đời Vũ Định là vị vua thứ 22, lấy hiệu là Cao Tôn, th́ một biến cố quan trọng xẩy ra được bộ Trúc Thư ghi lại như sau: “Năm thứ 32, đem quân đánh Quỉ Phương và đóng quân tại Kinh”.

 

3. Cổ sử Trung Quốc chép “Dân Lạc ở vùng sông Lạc Thiểm Tây vùng Tam Giang Bắc gồm sông Vị, sông Hoàng,  sông Lạc và Ba Thục”. Năm 770TDL, sau khi bị “Khuyển Nhung” tức Lạc bộ Chuy đánh chiếm Kiển Kinh, triều Chu phải dời đô về Hà Nam phía Đông. Triều Chu giao cho Tần trấn giữ hướng Tây. Năm 659TDL, Tần Mục Công đánh thắng Lạc bộ Chuy. Sử Kư của Tư Mă Thiên chép: “ Lạc bộ Chuy bị Tần Mục Công diệt vào đời Chu Thành Vương năm 659TDL thời Đông Chu”.

 

4. Sử Kư của Tư Mă Thiên chép: “Đời Chu An Vương, Sở Điệu Vương sai Bạch Khởi đánh dẹp Bách Việt ở miền Nam”. Sử Kư mục Đông Việt truyện chép: “Đông Việt hay Đông Âu (Âu Việt ở phía Đông) trong thời Tần Hán đóng đô ở Vĩnh Ninh tức Vĩnh Gia miền Triết Giang, Mân Việt ở đất Mân Trung tức miền Phúc Kiến. Nam Việt đô ở Quảng Châu gọi là thành Phiên Ngung thuộc miền Quảng Đông. Tây Âu (Âu Việt ở phía Tây) ở phía Nam sông Ly miền Quảng Tây …”.

 

Sách Lă Thị Xuân Thu viết: “Phía Nam Dương, Hán là Bách Việt”.

 

5. Tiền Hán thư, Hậu Hán Thư và Sử Kư của Tư Mă Thiên đều ghi chép những sự kiện lịch sử sau:

 

     Năm 316TDL Tần đánh chiếm Ba Thục.

 

     Năm 257TDL, An Dương Vương Thục Phán thống nhất chi Lạc Việt và Âu Lạc thành lập quốc gia ÂU LẠC của Việt tộc. Sách Đại Việt Sử lược chép:“Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Thục Phán đánh đuổi mà thay. Phán đắp thành ở Việt Thường, lấy hiệu là An Dương Vương rồi không thông hiếu với họ Chu nữa”.

 

     Năm 299 TDL, Tần thắng Sở bắt giam Sở Hoài Vương. Năm 278 TDL Tần Bạch Khởi đánh chiếm đất Dĩnh, Sở phải bỏ Đan Dương phía Bắc dời đô xuống phía Nam sông Dương Tử lập ra trấn lỵ Tiểu Đan Dương. Tiểu Đan Dương là vùng đất Ô châu cũ nay là vùng Giang Tô, xưa gọi là Kiến Nghiệp Kim Lăng tức Nam Kinh bây giờ.

 

     Năm 223TDL, Tần lại đem quân đánh chiếm nước Sở. Tướng Tần là Vương Tiễn chiếm Hồ Bắc, Hồ Nam rồi đem quân đuổi theo truy kích tàn quân Sở tới An Huy, giáp biển Đông. Dân quân Sở kể cả Ngô, Việt một lần nữa phải lên đường di tản theo đường biển xuôi Nam xuống cổ Việt hội nhập với cư dân Lạc Việt của nước Văn Lang đă định cư từ lâu ở vùng châu thổ sông Hồng sông Mă. Sau khi diệt Sở năm 223TDL, Tần đánh chiếm Tề năm 221 TDL lên ngôi bá chủ Trung nguyên.       

 

6. Năm 218TDL, Tần Thuỷ Hoàng sai Đồ Thư đem 50 vạn quân tiến xuống Lĩnh Nam. Năm 214TDL, quân Tần chiếm được một phần Lĩnh Nam rồi chia làm 3 quận gồm Nam Hải (Việt Đông tức Quảng Đông bây giờ), Quế Lâm (ở phía Bắc và Đông của Việt Tây tức Quảng Tây bây giờ) và Tượng Quận (Bắc Việt Tây và Nam Quí Châu). Quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống hy sinh, quân dân Việt rút vào rừng thường xuyên đột kích tiêu diệt quân Tần. Tinh thần quân Tần hoang mang lo sợ, dân quân Việt thừa thế tổng phản công giết chết tướng Đồ Thư tại trận, quân Tần tháo chạy về nước. Đây là cuộc chiến tranh du kích đầu tiên trong trường kỳ lịch sử của Việt tộc đă đập tan đạo quân bách chiến bách thắng của đế chế Tần hùng mạnh. Chiến thắng quân Tần là minh chứng hùng hồn của sự hợp nhất các chi tộc Việt thành quốc gia Âu Lạc của An Dương Vương.

 

7. Năm 111TDL, Hán Vũ Đế cử Lộ Bác Đức giữ chức Phục Ba Tướng quân, xuất binh tiến đánh Nam Việt. Sử chép trước thế giặc mạnh như vũ bảo, Lữ Gia cùng với Vua và triều đ́nh phải rút về vùng biển. Lộ Bác Đức sai quân đuổi theo bắt giết cả Triệu Kiến Đức và Tướng Lữ Gia.

 

     Sau khi Hán tộc đánh chiếm Nam Việt, Hán triều đổi tên Nam Việt thành Giao Chỉ bộ gồm 9 quận Nam Hải (Quảng Đông), Thương Ngô (Quảng Tây), Uất Lâm (Quảng Tây), Hợp Phố (Quảng Châu), Giao Chỉ (Bắc Việt Nam), Cửu Chân (từ Vân Nam xuống tới Thanh Hóa), Nhật Nam (Nghệ An), Châu Nhai (Đảo Hải Nam), Đạm Nhĩ (nay là Đam Châu thuộc đảo Hải Nam ).* Sự thật lịch sử này đă được sử gia Chu Khứ Phi đời Tống trong “ Lĩnh Ngoại Đại Đáp” xác nhận vùng biển Việt Nam là Giao Chỉ Dương. Măi đến đời Thanh, sách “ Hải Quốc Văn Kiến Lục” (năm 1744) của học giả Trần Luân Quưnh vẫn gọi vùng biển Đông Hải là Việt Hải hay Việt Dương. Đây là chứng cứ lịch sử của chính Trung Quốc xác nhận Biển Đông mà TQ gọi là Đông Hải là của Việt Nam nên mọi luận cứ ma Trung Cộng đưa ra chỉ có tính áp đặt của một nước lớn mà thôi. Hội nghị Quốc tế các nhà Trung Hoa học trên toàn thế giới kể cả Trung Quốc và Đài Loan tổ chức tại Berkeley năm 1978 về “Nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa” đă xác nhận Di Việt làm chủ trung nguyên trước khi Hán tộc từ Tây Bắc tràn vào đánh đuổi Bách Việt.

     

Chính Hán sử cho chúng ta biết rằng sau khi chiếm được Nam Việt rồi th́ Lộ Bác Đức phải nhờ Giám Cư Ông là người Việt ở Quế Lâm chiêu dụ Âu Lạc về thuộc Nam Việt. Sở dĩ Hán Vũ Đế không dám xua quân xuống Tây Âu, Âu Lạc v́ Lưu An tác giả “Hoài Nam Tử” đă nhắc lại kinh nghiệm thất bại năm xưa của đại quân Tần. V́ thế Lộ Bác Đức đóng quân ở Hợp Phố rồi chờ 2 viên Điền sứ của Triệu Đà ở Âu Lạc đến dâng nộp ấn tín sổ sách và 1000 ṿ rượu rồi giao cho 2 viên Điền sứ cai trị như xưa. Sau khi Hán tộc đánh chiếm Nam Việt, chúng đổi tên Nam Việt thành Giao Chỉ bộ gồm 9 quận Nam Hải (Quảng Đông), Thương Ngô (Quảng Tây), Uất Lâm (Quảng Tây), Hợp Phố (Quảng Châu), Giao Chỉ (Bắc Việt Nam), Cửu Chân (từ Vân Nam xuống tới Thanh Hóa), Nhật Nam (Nghệ An), Châu Nhai (Đảo Hải Nam), Đạm Nhĩ (nay là Đam Châu thuộc đảo Hải Nam). Trên thực tế, Hán tộc chỉ thống trị các quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố c̣n các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Đạm Nhĩ vẫn do các Lạc hầu Lạc Tướng tự trị.

 

 

     Điều này chứng tỏ là ngay từ thời Triệu Vũ Đế, Âu Lạc vẫn tự trị. Trên thực tế, quân dân Nam Việt một số chạy ra đảo Hải Nam cùng với cư dân Lạc Lê ở địa phương tiếp tục chiến đấu nên năm 81TDL, Hán triều phải bỏ Đạm Nhĩ và đến năm 46TDL, quân Hán lại phải bỏ Châu Nhai v́ bị thiệt hại nặng nề. Trước t́nh h́nh đó, Hán triều phải băi chức, triệu hồi Tích Quang về kinh. Như vậy, chính sử TQ đă xác nhận là Hán tộc đă xâm lược lănh thổ của Việt tộc trong suốt tiến tŕnh lịch sử nên cả đảo Hải Nam chứ đừng nói tới Hoàng Sa và Trường Sa vẫn thuộc chủ quyền của VN từ lâu. Đây là chứng cớ hùng hồn về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt tộc. Măi tới năm 1909, bản đồ tỉnh Quảng Đông Trung Quốc mới vẽ đảo Hải Nam mà không có Hoàng Sa và Trường Sa.

 

     Thực tế này, một lần nữa khẳng định Trung nguyên, vùng Nam Trung Hoa ( Hoa Nam) kể cả đảo Hải Nam, Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa là của Bách Việt mà Hán tộc đă xâm lược thời Hán mà thôi. Quận Nam Hải thời đó là phần đất thuộc tỉnh Quảng Đông bây giờ nên sách sử Trung Quốc viết biển Nam Hải tức là biển Quảng Đông mà thôi. Nam Hải hay Trướng hải là vùng biển Hoa Nam cách huyện Hải Phong tỉnh Quảng Đông 50 dặm. “Tân Từ điễn Thực dụng Hán Anh” xuất bản tại Hồng Kông năm 1971 viết: “ Nam Hải là vùng biển kéo dài từ eo biển Đài Loan đến Quảng Đông”. Nhà bác học Lê Quí Đôn trong tác phẩm “Vân Đài Loại ngữ” viết: “Quảng Đông ngày xưa thời quốc gia Nam Việt là Phiên Ngung, c̣n gọi là Dương Thành, Dương Châu, Dương Thủy, Long Uyên, Long Biên, Quảng Châu Loan …”.  Quảng Đông Quảng Tây trước có tên là Việt Đông, Việt Tây nên cả vùng biển gọi là Nam Hải của Quảng Đông trước kia đều thuộc lănh thổ Việt Nam. Các nhà hàng hải Tây phương không hiểu rơ vấn đề chủ quyền biển Đông nên thường gọi là biển Nam Trung Hoa nên một số bản đồ ghi là biển Nam Trung Hoa dể tiện việc hải hành chứ không hề xác nhận đó là biển Nam Trung Hoa. Thực tế này chính “Từ Nguyên cải biên” bản xuất bản năm 1951 và 1984 ghi rơ là người ngoại quốc gọi Nam Hải là Nam Trung Quốc hải. Nhân sự kiện này, Sách “Từ Nguyên cải biên” lợi dụng danh xưng này đă viết:

 

Vị trí ở phía Nam Phúc Kiến và Quảng Đông, phía Tây Đài Loan và Phi Luật Tân, phía Đông bán đảo Trung Nam và bán đảo Mă Lai, phía Bắc Ba La châu (Borneo) và đảo Tô Môn Đáp Lạp (Célebres?). Có điều là thời xưa biển nước ta (Trung Quốc) mệnh danh là Nam Hải, có thời đă bao quát cả Ấn Độ dương nữa, vậy chẳng nên giới hạn diện tích Nam Hải ở phạm vi như chép ở trên.

 

    

 

CHỨNG CỨ LỊCH SỬ CỦA VIỆT NAM

 

 

     Như chúng ta đă biết, chính sử Trung Quốc đă xác nhận chủ quyền lịch sử của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chủ quyền lịch sử đó liên tục cho đến triều Nguyễn và sau này là Việt Nam Cộng Ḥa. Nhà bác học Lê Quí Đôn trong “Phủ Biên Tạp Lục” và sau này Phan Huy Chú đă viết trong Lịch Triều Hiến chương Loại chí về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam lần đầu tiên trong lịch sử. Đây là nguồn sử liệu thành văn của các sử gia triều Lê và Nguyễn được xem là những chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền lănh thổ của Việt Nam liên tục từ xa xưa đến thế kỷ XVII.

 

-          Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn đă viết về 2 quần đảo Hoàng Sa và trường Sa như sau:”“… Ở ngoài cửa biển lớn thuộc về địa phận xă An Vinh huyện B́nh Sơn, phủ Quảng Nghĩa có một ḥn núi mang tên Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu ra biển bốn trống canh th́ đến. Phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia nơi đây có nhiều hải vật và những hóa vật được chở đi bán các nơi nên triều đ́nh có lập đội Hoàng Sa để thu nhặt các hải vật. Người ta phải đi 3 ngày đêm mới đến được đảo Đại Trường Sa. Như thế là đảo Đại Trường Sa đă đến gần xứ Bắc Hải …     Nguồn sử liệu đầy đủ và chính xác trên hết sức gía trị trong việc xác nhận chủ quyền lịch sử liên tục của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Một điểm hết sức quan trọng đó là việc 2 người lính trong đội t́m vàng tại Vạn Lư Trường Sa của huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Nghĩa Thuận Hóa bị trôi giạt vào đảo Hải Nam TQ. Viên quan huyện Văn Xương, Quỳnh Châu Hải Nam trả về, đồng thời gửi văn thư cho Thuận Hóa. Nếu Trường Sa là của Trung Quốc th́ không những bắt giữ 2 người lính trên mà c̣n gửi công văn phản đối Việt Nam đă vi phạm lănh thổ của TQ. Văn thư của viên Huyện Trưởng Văn Xương Quỳnh Nhai TQ đă xác nhận Vạn Lư Trường Sa là của Việt Nam. Đây là chứng cứ không thể phủ nhận được vê chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

-          Lịch Triều Hiến Chương Loại chí của Phan Huy Chú đă đề cập chi tiết về chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như sau: “Thôn An Vĩnh thuộc huyện B́nh Dương ở ngoài biển , gần phía Đông Bắc. Ngoài biển có ḥn đảo lớn, nhiều núi linh tinh hơn 130 ngọn. Từ trong núi ra ngoài biển ước tính một ngày đường hoặc một vài trống canh. Trên núi có suối nước ngọt, giữa ḥn đảo có băi Hoàng Sa, dài độ 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo có vô số yến sào (tổ chim yến), bầy chim kể hàng ngàn hàng vạn, thấy người bay tới đậu chung quanh không sợ. Bên băi có rất nhiều vật lạ. Về ốc hoa có thứ gọi là ốc tai voi, lớn bằng tấm chiếu, trong bụng có hạt châu lớn bằng ngón tay, vỏ nó có thể đẽo thành bia, lại có thể hầm vôi để tô trét nhà cửa. Có thứ gọi là ốc xà cừ, có thể trang sức đồ vật, lại gọi là ốc hương. Có thứ đồi mồi rất lớn, gọi là Hải ba, vỏ mỏng, có thể trang sức đồ dung, trứng như ngón tay cái. Có thứ gọi là Hải sâm, tục gọi là con đột đột, ḅ chơi trên băi cát, người ta bắt lấy, dung vôi chà xát qua, bỏ ruột, phơi khô, khi ăn lấy nước cua ngâm, nấu chung với tôm, thịt heo ăn rất ngon. Nhiều thuyền buôn đi ngang qua gặp gió băo đều nương đậu ở đảo này. Ngày trước, các chúa Nguyễn có đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy người thôn An Vĩnh thay phiên, bổ sung vào. Hàng năm cứ đến tháng ba nhận lịnh đi làm việc, đem theo lương thực 6 tháng, dung 5 chiếc thuyền nhỏ, đi 3 ngày đêm mới tới đảo này. Đến nơi đó, họ tự bắt cá mà ăn, t́m lấy được nhiều đồ quí báu của các thuyền bị đắm, họ cũng nhặt lượm khá nhiều hải vật. Họ ở đó qua tháng 8 mới trở về cửa Eo (Yêu môn), rồi tới thành Phú Xuân…”.

 

-          Sách Hoàng Việt Địa dư chí của Phan Huy Chú in năm Nhâm Thân 1872 chép lại giống như trong Lịch Triều Hiến chương Loại chí. Ngoài ra, c̣n có  một số sách sử do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn để cập tới Hoàng Sa và Trường Sa như: Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, Đại Nam Thực lục Chính biên. Vua Gia Long đă đặt chân lên quần đảo Hoàng Sa ngay từ năm 1802. Trong thời gian này, Việt  Nam đă thành lập công ty Hoàng sa, gồm khoảng 70 thủy thủ, đi Hoàng sa để t́m hải vật. Đến đời Vua Minh Mạng (1820-1848), ngài đặc biệt chú ư đến Hoàng Sa. Trong cuốn “Hoàng Việt Địa Dư” (ấn hành năm 1835) đă chứng minh chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa như sau: “Ở phía Đông Bắc xă An Ninh, Huyện B́nh Sơn và ở ngoài biển khơi có một quần đảo gồm có 130 đảo nhỏ. Những ḥn đảo này cách nhau bằng một ngày thuyền hoặc vài giờ thuyền. Dưới ven đảo đều có giếng nước ngọt. Ở giữa những mỏm đá người ta thấy có một băi cát vàng bao la nên đảo này mang tên là Hoàng Sa. Nơi đây có sóng biển dữ dội.” Vua Minh Mạng đă sai đội hải thuyền chở gạch đá ra Hoàng Sa dựng chùa “Phật Cổ Tự” và dựng tấm bia “Vạn Lư Ba Đ́nh” (nghĩa là sóng êm nơi xa vạn lư) làm dấu tích. Theo “Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu” th́ Vua Minh Mạng đă thân chinh đến quần đảo Hoàng sa năm 1836 để quan sát việc đo đạc, xác định vị trí và lập họa đồ.

 

-          Sách Khâm định Đại Nam Hội điển Sự lệ cũng nhắc tới Hoàng Sa của Việt Nam như sau: “Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), tâu xin cho xây cất một gian miếu tại Hoàng Sa (theo kiểu nhà đá) nằm ở phiá Tây Nam cồn Bạch Sa, bên trái dựng bia đá (cao 1m5, rộng 1m2). Mặt trước xếp đá che, hai bên mặt, trái, phía sau miếu có trồng các loại cây.”.

 

-          Đại Nam Nhất thống Chí do Tổng Tài Quốc sử quan Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xứng và Trần Xang soạn năm 1865 đời Tự Đức. Sách soạn xong năm 1910 vào đời vua Duy Tân. Đại Nam Nhất thống Chí là một công tŕnh viết về Địa lư, Phong tục, danh thần, liệt nữ … nên được xem như một loại Địa phương Chí công phu, chính xác. Sách viết về Hoàng Sa và Trường Sa như sau: “Ở phiá Đông cù lao Ré, từ bờ biển Sa Ki, ghe chạy dọc ra khơi, nếu thuận gió th́ 3,4 ngày sẽ đến nơi. Trên đảo có các núi la liệt hơn 130 ngọn, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc trong vài trống canh. Trên đảo có đảo Hoàng Sa (Cát vàng) kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục danh (nên gọi là) Vạn Lư Trường Sa. Trên băi cát có giếng nước ngọt, nhiều giống chim quần tụ không biết bao nhiêu mà kể. Lại có những sản vật như HSâm, Đại Mội (Đồi Mồi), Văn Loa (Ốc có vằn) và Ngoan Niết (Ba Ba). Những thuyền bè chở hóa vật gặp gió to phải vào núp ở đây. Vào đầu triều Nguyễn có lập đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xă An Vĩnh sung vào. Thường vào độ tháng 3, cho ghe ra biển t́m lấy hải vật, đến tháng 8 chặy về cửa biển Tư Hiền cung nạp. Lại đặt them đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản đến đảo Bắc Hải và đảo Côn Lôn t́m bắt Hải vật. Phiá Đông đảo này gần phủ Quỳnh Châu thuộc tỉnh Hải Nam nước Trung Hoa. Đầu niên hiệu Gia Long cũng phỏng theo chế độ cũ đạt đội Hoàng Sa, sau đó băi bỏ. Vào đầu niên hiệu Minh Mạng, nhà vua thường sai binh thuyền đến nơi đó để ḍ xét hải tŕnh (đường biển), thấy có một g̣ cát trắng, chu vi khoảng 1.070 trượng, cây cối xanh tươi rậm rạp. Trong g̣ ấy có giếng nước. Phía tây có ngôi miếu cổ, không biết dựng từ lúc nào tấm bia chạm (khắc) 4 chữ “Vạn Lư Ba b́nh” (muôn dặm biển yên song lặng) nguyên tên xưa gọi là Phật tự sơn, hai bên đều trải đá San hô, quanh ra đến mặt nước. Phía tây Bắc đột khởi (nhô lên) một cái g̣ chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 2 thước, bằng g̣ nói trên tên gọi là Bàng Bang thạch. Niên hiệu Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà vua sai Đội quan thuyền chở gạch đá ra xây dựng chùa, phiá bên trái có dựng bia đá làm dấu tích.Thuở ấy binh phu ứng dịch tại đây, đào được đồng lá và gang sắt trên 200 cân”.

 

-          Việt sử Cương giám Khảo lược viết về Hoàng Sa như sau: “Vạn Lư Trường Sa thuộc đảo Lư Sơn, tỉng Quảng Ngăi (tục gọi ngoài Lao, người TQ th́ nói ngoài La). Đi thuyền theo hướng Đông chạy ra, chỉ 3 ngày đêm là đến nơi. Nước Việt Nam ta xưa kia thường chọn người tráng đinh ở 2 đội An Hải và An Vĩnh đặt làm đội Hoàng Sa để thu lượm hải sản, mỗi năm cứ tháng 2 ra đi, tháng 8 trở về… Băi cát từ Đông qua Nam, nổi lên ch́m xuống, kể hàng ngh́n trăm dặm, trong d0ó có những vũng sâu, tàu thuyền có thể đậu được. Trên băi có sản xuất nước ngọt, chim biển nhiều loại không biết gọi tên là ǵ. Trên Vạn Lư Trường Sa có ngôi miếu cổ lợp ngói, có tấm biển khắc 4 chữ “Vạn Lư Ba b́nh” (muôn dặm song yên), không rơ xây dựng từ đời nào.

 

-          Lệnh của quan Bố Chánh Quảng Ngăi thực thi sắc chỉ của nhà vua Minh Mạng cử người ra canh giữ quần đảo Hoàng Sa. Ngày 15-4-1835 phái một đội thuyền gồm 3 chiếc với 24 lính thủy ra canh giữ đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15, tức năm Ất Mùi 1835. Sắc chỉ ghi rơ: “Giao cho ông Vơ Văn Hùng ở Lư Sơn chọn những thanh niên khỏe mạnh và giỏi nghề bơi lặn để gia nhập đội thuyền; giao Đặng Văn Siểm là ḍng họ ông Đặng đang giữ tài liệu lo kham việc đà công tức người dẫn đường; giao Vơ Văn Công phụ trách hậu cần”.

 

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Newly-announced-documents-certifying-vietnam-sovereignty-at-paracels-islands%20-05142009150007.html/tailieuHSa-dantri-305.jpg

Text Box:

 

 

 

 

 

Bên cạnh chứng cứ lịch sử của Việt Nam, một số Hiệp ước quốc tế đều ghi rơ chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa như:

-          Hiệp ước Giáp Thân (6.6.1884), Pháp đại diện quyền lợi của nước Đại Nam trong quan hệ đối ngoại, trong việc bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lănh thổ.  Pháp thực hiện chủ quyền của Đại Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, những nơi mà trước đây vương triều Nguyễn đă xác lập bằng sự chiếm hữu công khai, liên tục và hoà b́nh. Các pháo hạm của Pháp thường xuyên tiến hành tuần tiễu trong vùng biển Đông và Hoàng Sa và Trường Sa. Cùng với việc đưa hải quân đến trú đóng, nhiều hoạt động thám sát, khảo cứu, xây dựng… trên hai quần đảo được Chính phủ Pháp lần lượt thực hiện. Những hoạt động thực thi chủ quyền ngày càng được củng cố qua những văn bản pháp quy hoặc các tuyên bố của những người có thẩm quyền, chức trách cao nhất của quốc gia.

 

- Ngày 3.3.1925, Thượng thư bộ binh Nam triều Thân Trọng Huề tái khẳng định Hoàng Sa là của Đại Nam. Ngày 12.12.1933, thống đốc Nam Kỳ kư nghị định sát nhập các đảo Trường Sa vào địa phận tỉnh Bà Rịa. Chỉ dụ số 10, ngày 29 tháng 2 năm Bảo Đại 13 (1938) về việc chuyển đổi hành chính đảo Hoàng Sa do Nam triều quốc ngữ công báo công bố, toàn văn như sau:“Chiếu chỉ các cù lao Hoàng Sa (Archipel des Iles Paracels) thuộc về chủ quyền nước Nam đă lâu đời và dưới các tiền triều, các cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam Ngăi (Quảng Nam, Quảng Ngăi). Đến đời đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế vẫn để y như cũ là v́ nguyên trước sự giao thông với các cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam -Ngăi. Chiếu chỉ nhờ sự tiến bộ trong việc hàng hải nên việc giao thông ngày nay có thay đổi, vả lại viên Đại diện chính phủ Nam Triều uỷ phái ra kinh lư các cù lao ấy cùng quan đại diện chính phủ bảo hộ có tâu rằng nên tháp các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên thời được thuận tiện hơn. Dụ (Độc khoản): trước chuẩn tháp nhập các cù lao Hoàng Sa (Archipel des Iles Paracels) vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên; về phương diện hành chính các cù lao ấy thuộc dưới quyền quan Tỉnh hiến tỉnh ấy. Khâm thử” (Công báo, số 8, năm 1938)

 

- Trên cơ sở đồng thuận với chủ trương của Nam Triều, ngày 5.6.1938, toàn quyền Đông Dương Jules Brévié kư nghị định thành lập một đơn vị hành chính tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên. Đồng thời, cho dựng bia chủ quyền tại đảo Hoàng Sa, với ḍng chữ:“République Francaise-Empire d’Annam-Archipel des Paracels 1816-Ile de Pattle 1938”. (Cộng Hoà Pháp-Vương quốc An Nam-Quần đảo Hoàng Sa 1816-Đảo Hoàng Sa 1938).  Bia chủ quyền này đă lấy năm 1816 làm mốc thời gian chiếm hữu chính thức, dựa theo một sự kiện được chép trong Đại Nam thực lục:“Năm Bính Tư, Gia Long thứ 15 (1816), tháng 3, sai thuỷ quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để thăm ḍ đường thuỷ”. (Chính biên, kỷ thứ nhất, quyển 52).

 

- Sau thế chiến 2, Pháp lại phái chiến hạm ra quần đảo Hoàng Sa, xây dựng lại trạm khí tượng trên đảo và chống các hành động lấn chiếm của Trung Quốc. Năm 1939, vua Bảo Đại ban hành một tờ Châu bản liên quan đến chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa như sau: “ Năm 1939 theo lời đề nghị của Toà Khâm sứ Pháp ở Trung Kỳ  chuyển qua Nam Triều ở Huế đề nghị khen thưởng cho đội khố xanh có công dẹp một số man di nhất là ở Cao Nguyên, nhất là đội khố xanh có công pḥng thủ ở Hoàng Sa là nên khen thưởng cho họ bằng huy chương”.

 

Tổng lư ngự tiền văn pḥng lúc đó là Phạm Quỳnh đă làm tờ tấu lên vua Bảo Đại và vua đă phê chuẩn  theo lời đề nghị đó và đă được tống đạt đi để thi hành. Nguồn sử liệu này chứng minh việc thực thi chủ quyền liên tục về tổ chức hành chánh của quốc gia Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

- Ngày 7.9.1951, tại hội nghị San Francisco, Thủ tướng Trần Văn Hữu, trưởng đoàn đại biểu chính phủ Bảo Đại tuyên bố:  “Cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền đă có từ lâu đời của chúng tôi đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Lời tuyên bố này không gặp phải sự phản kháng nào.

 

1. HIỆP ĐỊNH GENÈVE 20-7-1954

 

Năm 1954, để giải quyết Chiến Tranh Đông Dương, Hội Nghị Genève được triệu tập với sự tham dự của 9 quốc gia gồm Ngũ Cường: Mỹ, Anh, Pháp, Liên Sô và Trung Quốc, cùng với Ai Lao, Cao Miên và 2 nước Việt Nam là Quốc Gia Việt Nam (Miền Nam) và Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (Miền Bắc). Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954 trong đó có Trung Quốc tham dự,  một lần nữa, đă xác nhận chủ quyền lănh thổ của Việt Nam Cộng Ḥa (lúc này là Quốc Gia Việt Nam) tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo Điều 4 Hiệp Định Genève: "Giới tuyến giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam kéo dài ra ngoài hải phận theo một đường thẳng góc với đường ven biển. Quân đội Liên Hiệp Pháp phải rút khỏi tất cả các hải đảo về phía Bắc giới tuyến (Vĩ Tuyến 17). Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (Miền Bắc) phải rút khỏi tất cả các hải đảo về phía Nam giới tuyến (Vĩ Tuyến 17) trong đó có các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

 

Đặc biệt, Tuyên Cáo Cairo 1943, Tuyên Ngôn Potsdam 1945, Ḥa Ước Ḥa B́nh San Francisco 1951 và Hiệp Định Genève 1954, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc chủ quyền lănh thổ của Trung Quốc mà thuộc chủ quyền lănh thổ của Việt Nam Cộng Ḥa.

 

- Tháng 4 năm 1956, Pháp rút quân khỏi Đông Dương, quân đội Việt Nam Cộng Hoà chỉ kịp thời thay thế quân Pháp tại nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa, nhóm đảo phía Đông bị quân đội Trung Quốc thừa cơ chiếm cứ. Đài Loan cũng thừa cơ chiếm đảo Ba Đ́nh ở Trường Sa.

 

- Ngày 1.6.1956, ngoại trưởng Việt Nam cộng hoà Vũ Văn Mẫu tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và lên án sự chiếm đóng trái phép của quân đội Trung Quốc và Đài Loan. Chính phủ kư sắc lệnh ngày 22.10.1956 đặt quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy, sắc lệnh ngày 13.7.1961 lập quần đảo Hoàng Sa thành xă Định Hải thuộc quận Hoà Vang tỉnh Quảng Nam.

 

- Ngày 13.7.1971, tại hội nghị ASPAC (Manille), ngoại trưởng Việt Nam cộng hoà Trần Văn Lắm, tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

 

2. HIỆP ĐỊNH PARIS 27-1-1973

 

Ngày 27-1-1973 Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Ḥa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa và Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam đă kư Hiệp Định Ḥa B́nh Paris nhằm "kết thúc chiến tranh và tái lập ḥa b́nh tại Việt Nam". Điều 15 qui định "Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp ḥa b́nh trên căn bản thương nghị và thỏa thuận giữa Miền Nam và Miền Bắc, không bên nào cưỡng ép bên nào, không bên nào thôn tính bên nào, thời gian thống nhất sẽ do Miền Nam và Miền Bắc Việt Nam đồng thỏa thuận".

 

ĐỊNH ƯỚC PARIS

 

Để thi hành Hiệp Định Paris, với sự chứng kiến của ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc, 12 bên tham dự Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam đă kư  Định Ước của Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam  ngày 2-3-1973. Điều 4 qui định "các bên kư kết Định Ước này trân trọng cam kết sẽ triệt để tôn trọng chủ quyền độc lập, thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lănh thổ của Việt Nam". Trung Quốc đă kư vào định ước 2-3-1973 nhưng 10 tháng sau, tháng 1-1974, Trung Quốc đă huy động toàn lực để xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Ḥa. Hành động ngang ngược này của Trung Cộng bất chấp Tuyên Cáo Cairo, Tuyên Ngôn Potsdam, Hiệp Ước Ḥa B́nh San Francisco, Hiệp Định Genève và Định Ước của Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam. Ngoài ra Trung Quốc c̣n vi phạm Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, xâm phạm sự toàn vẹn lănh thổ của Việt Nam và xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Sự xâm chiếm này không được luật pháp thừa nhận.

 

     Từ ngày 17 đến 20.1.1974, Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự tấn công và chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Trong trận hải chiến này hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo Nguyễn Văn Thà cùng 58 binh sĩ đă hy sinh. Bằng sức mạnh quân sự của một cường quốc, Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa. Đây chỉ là sự tạm chiếm của một nước lớn bá quyền v́, chiếu Điều 77 Luật Biển th́: “Thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải, mọi sự chiếm cứ bất cứ từ đâu tới đều vô giá trị và vô hiệu lực, nhất là chiếm cứ vơ trang”.

 

     Đại diện chính phủ Việt Nam cộng hoà tại Liên Hiệp Quốc gửi công hàm đến chủ tịch Hội đồng Bảo an và tổng thư kư Liên hiệp quốc, phản đối hành động xâm lược của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Ngày 14.2.1975, bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hoà công bố Bạch thư về Hoàng Sa và Trường Sa.

 

 

 

BẢN ĐỒ CỔ CHỦ QUYỀN LỊCH SỬ CỦA VIỆT NAM

 

 

     Bên cạnh nguồn sử liệu trong sách sử Việt Nam, các bản đồ cổ Việt Nam đều vẽ quần đảo Hoàng Sa được ghi chú bằng chữ Nôm “BĂI CÁT VÀNG”.

1.      Bản đồ cổ nhất là Toàn tập Thiên Nam Tứ chí Lộ đồ Thư là bộ sách địa lư gồm 4 quyển viết về địa lư h́nh thể, sông núi, đường lộ giao thong và đặc biệt là vẽ cả các hải đảo ngay từ năm 1630-1653, trong khi đó, bản đồ tỉnh Quảng Đông của TQ năm 1909 mới vẽ đảo Hải Nam mà không có hoàng Sa và Trường Sa.

2.      Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ vào đời nhà Nguyễn đă vẽ khá chính xác ranh giới với các nước chung quanh Việt Nam như Trung Quốc, Lào, Cao Miên, Tiêm La quốc (Thái Lan) và Đồ Bà Quốc (Malaydia). Đặc biệt, bản đồ ghi rơ tên các hải cảng, cửa biển từ Quảng Yên Bắc VN tới Hà Tiên Nam VN và các đảo ngoài khơi VN mà ta gọi là Biển Đông như Thổ Châu, Côn Lôn, Phú Quí, Hoàng Sa và Vạn Lư Trường Sa.

3. An Nam Đại quốc Họa đồ in cùng thời với Đại Nam Nhất thống Toàn đồ do Giám mục Thừa sai Louis Taberd giới thiệu và đặt tên là An Nam Đại quốc Họa đồ, Bản đồ này được in đính kèm sau Tự điển Việt-LaTinh (Latino-Anamiticum) xuất bản năm 1838 để các giáo sĩ đi truyền giáo. Trong đó, quần đảo Hoàng Sa được viết bằng chữ "Cát Vàng". Điều đặc biệt là bản đồ có ghi tọa độ và khi đối chiếu với số liệu hôm nay th́ hoàn toàn trùng khớp. Đây là bản đồ cổ duy nhất có ghi tọa độ và cũng là bản đồ cổ duy nhất có xác định tọa độ của Hoàng Sa. Đặc biệt, bản đồ ghi rơ tên các hải cảng, cửa biển từ Quảng Yên Bắc VN tới Hà Tiên Nam VN và các đảo ngoài khơi VN mà ta gọi là Biển Đông như Thổ Châu, Côn Lôn, Phú Quí, Hoàng Sa và Vạn Lư Trường Sa. Theo Giám Mục Tabert trong quyển “Địa dư lịch sử cảnh trí và tôn giáo phong tục tập quán các dân tộc” (xuất bản năm 1938) th́ “… từ trên 34 năm rồi nhóm quần đảo Tây Sa mà người An Nam thường gọi là đảo Cát Vàng hay Hoàng Sa thực là ḥn đảo nhỏ bí hiểm, gồm những mỏm đá xen lẫn với các băi cát mà những nhà hàng hải đều kinh hăi, đă do người Nam Kỳ chiếm cứ.” Một đoạn khác, tác giả viết: “… nhưng có điều chắc chắn là Hoàng Đế Gia Long đă đặt đảo đó dưới quyền của nhà Vua, và năm 1816, Hoàng Đế đă long trọng trương lá cờ Nam Kỳ ở trên đảo.”

 

BẢN ĐỒ NGOẠI QUỐC VẼ HOÀNG SA TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM

-          An Nam Đại Quốc Họa đồ Hoàng Sa (Paracels) 1938.

-          Indes, Petrus, Plancius Pracel (Hoangsa).

-          Jodocus Hondius Costa de Pracel 1606.

 

Đặc biệt, giới nghiên cứu mới t́m ra tác phẩm “An Nam Đồ chí” của Đặng Chung được biên soạn "căn cứ theo bản sao ở Thuật Cổ Đường của họ Tiền". Thuật Cổ Đường là tên thư viện của Tiền Đại Hân, nhà khảo chứng học nổi tiếng đời Thanh. Họ tên soạn giả An Nam đồ chí được ghi cuối bài tựa là “Phân thủ Quảng Đông Quỳnh Nhai Phó Tổng binh Ôn Lăng Đặng Chung”. (Phó Tổng binh trấn thủ châu Quỳnh Nhai, tỉnh Quảng Đông là Đặng Chung, người huyện Ôn Lăng). An Nam đồ chí là một tập sách bản đồ có các khảo chú về toàn quốc và các địa phương của VN. Niên đại soạn sách ghi sau bài tựa càng là một giá trị quư hiếm: Vạn Lịch Mậu Thân thanh minh nhật. Vạn Lịch (1573-1620) là niên hiệu Vua Minh Thần Tông, năm Mậu Thân Vạn Lịch là năm 1608, cách nay đúng 401 năm. An Nam đồ chí là thư tịch bản đồ đầu tiên của Trung Quốc ghi tên cửa biển Đại Trường Sa trong tờ bản đồ vẽ nước An Nam, tức Việt Nam. Một viên quan binh của nhà Minh giữ chức Phó Tổng binh châu Quỳnh Nhai (tức đảo Hải Nam) ghi tên Cửa biển Đại Trường Sa của VN trên bản đồ An Nam, chứng tỏ người Trung Hoa từ trước và từ triều Minh, triều Thanh đều thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa là thuộc Việt Nam". Trong khi đó, bản đồ Trung Quốc ấn hành năm 1909 chỉ vẽ đảo Hải Nam là phần cực Nam của Trung Quốc mà không hề vẽ Hoàng sa mà họ gọi là Tây Sa và Trường Sa mà họ gọi là Nam Sa. Đây là một chứng cớ lịch sử cụ thể đă khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Băi Cát vàng tức Hoàng Sa. Đặc biệt, những tấm bản đồ do những người ngoại quốc vẽ thực sự là một minh chứng hùng hồn về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. (Trích trong Hoàng Sa, Trường Sa: Chủ Quyền Lịch sử của Việt Nam. Tác giả Phạm Trần Anh)

 

Để kết luận, xin thành thật cám ơn giáo sư Su Hao của Trung Quốc đă đặt vấn đề “Di sản Lịch sử” v́ cái gọi là “Di sản lịch sử” của Trung Quốc, chính là chủ quyền lịch sử liên ngay từ thời lập quốc cách đây 4.890 năm liên tục cho đến ngày nay của Việt Nam. Trung Quốc cứ nhắc đi nhắc lại cái công hàm bán nước của Phạm văn Đồng năm 1958. Thực ra công hàm này hoàn toàn vô giá trị v́ chủ quyền lănh thổ Hoàng sa và Trường Sa lúc đó thuộc chê độ Việt Nam Cộng Ḥa mà cuộc xâm chiếm Hoàng Sa ngày 19-1-1974 là một chứng cứ lịch sử rơ rang là Trung Quốc xâm lược. Đây là một sự thật lịch sử mà các quốc gia văn minh trên thế giới phải tôn trọng và bảo vệ công lư và sự thật lịch sử.

 

Để bảo vệ chủ quyền lịch sử và lănh thổ trên quần đảo Hoàng sa và Trường Sa, những người Việt Nam yêu nước ở quốc nội và quốc ngoại phải thống nhất hành động, quốc tế hoá Biển Đông như đề nghị của Hội Quốc Tế Nghiên cứu Biển Đông Nam Á  đổi tên biển Đông thành biển Đông Nam Á để vận dụng sức mạnh tổng lực của hơn 600 triệu cư dân các nước Đông Nam Á lục địa và hải đảo đồng văn đồng chủng với chúng ta cùng đương đầu với đại họa Trung Cộng xâm lược độc chiếm biển Đông Nam Á. Chúng đang đứng vào giờ hứ hai mươi lăm của lịch sử, nguy cơ mất nước cận kề. Đă đến lúc tất cả tướng lănh, quân nhân và những người CS VN yêu nước phải đứng về phiá nhân dân để chuyển đổi lịch sử buộc tập đoàn lănh đạo hại dân bán nước phải từ bỏ quyền lực, giao lại quyền làm chủ đất nước cho nhân dân qua một cuộc tổng tuyển cử dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc. Một chính quyền mới hợp hiến, hợp pháp, hợp ḷng dân lên tiếng kêu gọi đại đoàn kết mọi thành phần dân tộc trong nước và hải ngoại để tạo thành một tổng lực dân tộc với một sức mạnh vô địch mới đánh thắng được đế quốc mới Trung Cộng trên mọi mặt trận nhất là mặt trận ngoại giao “vận động quốc tế” và mặt trận kinh tế “vận động tẩy chay không dùng thực phẩm độc hại và hàng dỏm của TQ”. Đồng thời kêu gọi lương tri của cả nhân loại tiến bộ lên tiếng, kêu gọi thành lập liên pḥng Đông Nam Á và kêu gọi tổ chức một Hội nghị Quốc tế gồm các quốc gia đă kư kết các hiệp ước liên quan đến Việt Nam để bảo vệ công lư và sự thật lịch sử như Bản Tuyên Bố kêu gọi của Hội Nhân Sĩ Diên Hồng Thời Đại ngày 11-6-2011.

 

PHẠM TRẦN ANH

 

Chú thích:

 

Các nhà sử học thuộc Viện khoa học xă hội CHXHCNVN có quan điểm loch sử đóng khung vội vă đưa ra luận điểm cho rằng thời Hùng Vương với sự thành lập nhà nước Văn Lang ra đời cách nay khoảng 2500-2600 năm cho phù hợp với những ǵ ghi chép trong bộ Đại Việt sử lược của tác giả vô danh đời Trần. Bộ sử này đă bị Tiền Hy Tộ sử quan đời Thanh bóp méo sửa đổi theo sử quan Đại Hán là“Đến đời Trang Vương nhà Chu (696-682TCN) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang”. Nguyễn Khắc Thuần trong “Việt Nam, tư liệu tóm tắt” th́ cái gọi là “Khoa học lịch sử hiện đại” cho rằng: “niên đại mở đầu của thời sơ sử được xác định là cách nay từ 2.600 năm tới 2.500 năm. Giai đoạn Hùng Vương với nước Văn Lang mở đầu cách nay khoảng 2.500 năm và chấm dứt vào năm 179 TCN. Năm Triệu Đà đánh bại An Dương Vương và xác lập nền đô hộ ở nước ta. Văn Lang là m ột giai đoạn có thật của lịch sử Việt Nam nhưng sự thật lịch sử về Văn Lang không hoàn toàn như sử cũ mô tả ! Mười tám đời vua Hùng nối nhau trị v́ 2622 năm (từ 2879 - 258 TDL). Đó là những con số khó thuyết phục. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng với người Việt số 9 là số linh thiêng, cho nên con số 18 đời Hùng Vương mà Hùng triều Ngọc Phả nói tới cũng là con số ước lệ, biểu tượng một ư niệm thiêng liêng nào đó..”!

 

    Theo Nguyễn Khắc Thuần th́ “Trái với những ghi chép của chính sử cũ và các tài liệu dă sử khác, các nhà nghiên cứu thuộc Viện Khoa học xă hội nhà nước CHXHCNVN cho rằng nước Văn Lang của các vua Hùng chỉ tồn tại khoảng 300 năm và niên đại tan ră là khoảng 208 TDL chứ klhông phải 258 TDL. Với 300 năm, con số 18 đời Hùng là con số dễ dàng chấp nhận. Tuy nhiên cũng không v́ thế mà khẳng định rằng nước Văn Lang thực sự có 18 đời vua Hùng nối tiếp nhau trị v́. Tóm lại nước Văn Lang chỉ tồn tại trước khoảng 300 năm và con số 18 đời vua Hùng cho đến nay vẫn là con số của huyền sử”!

 

    Luận điểm trên không thuyết phục được ai v́ tính chất phủ nhận cội nguồn phản dân tộc của họ. Đây là một quan niệm hết sức sai lầm của một số người “vong bản”, nhân danh khoa học lịch sử hiện đại tiến bộ mà trong thực chất là phản bội dân tộc, phủ nhận cội nguồn gốc tích tổ tông không thể tha thou được. Vô h́nh chung họ đă phủ nhận nền văn minh Đông Sơn rực rỡ, nền văn minh trống đồng độc đáo của Việt tộc. Chính họ đă phải xác định rằng, sơ kỳ của thời đại đồ đồng ở Việt Nam mở đầu cách nay 4.000 năm với nền văn hoá Phùng Nguyên mà đỉnh cao tột cùng là nền văn hoá Đông Sơn, mở đầu cách nay 2.800 năm. Điều đó có nghĩa là ít nhất là cách đây ít nhất là 4.000 năm, xă hội Việt cổ đă tổ chức ổn định thou tự lớp lang. Nói một cách khác, xă hội Văn Lang đă được định chế hoá thành nhà nước từ lâu như giới nghiên cứu lịch sử cổ đại đă nhận định là khi con người cổ đại đă biết nung chảy kim khí th́ họ cũng nung chảy luôn cái khuôn mẫu xă hội nguyên thủy để tổ chức thành nhà nước với những định chế rơ ràng.

 

     Mặt khác, họ quên một điều là bộ Đại Việt Sử Lược tuy là bộ sử xưa nhất c̣n sót lại nhưng đă bị Tiền Hy Tộ (người Hán) sửa chữa đổi tên là Việt Sử Lược rồi lưu trong Tứ Khố Toàn Thư của Thanh triều nên luận điệu sặc mùi Đại Hán bành trướng. Các sử gia Hán tộc với quan niệm: “Đại nhất thống” tự cho là trung tâm thế giới, cái rốn của nhân loại, là tộc người ưu việt. Hán tộc chủ trương: “Huệ thử Trung Quốc, dĩ tuy tứ phương” nghĩa là: lấy ân huệ Trung Quốc để yên định bốn phương. Đó là chủ trương bành trướng Đại Hán “dĩ hạ biến di” nghĩa là lấy cái cao thượng, tao nhă của Đại Hán để cải hoá man di mọi rợ. Chính v́ vậy trong mọi thời kỳ lịch sử, Hán tộc luôn luôn chủ trương tiêu diệt văn tự các dân tộc khác, âm mưu nô dịch văn hoá rồi đồng hoá các dân tộc. Lợi dụng Hán tự là văn tự duy nhất các sử gia Trung Quốc từ cổ đại đến nay đă xuyên tạc, bóp méo sự thật, sửa đổi cho phù hợp với sử quan Đại Hán, đánh đổ ḷng tự hào dân tộc của các tộc người khác để dễ bề thống trị và đồng hoá. Đó là chủ trương nhất quán, là bản chất bành trướng thâm độc của họ suốt từ xưa tới nay.

BẢN TUYÊN BỐ

CỦA HỘI NHÂN SĨ DIÊN HỒNG THỜI ĐẠI

 

Lịch sử Việt Nam kể từ thời lập quốc cho đến ngày nay luôn phải đương đầu với kẻ thù truyền kiếp của dân tộc:“Tầu Hán xưa và đế quốc Trung Cộng ngày nay”. Lịch sử cũng chứng minh rằng, dân tộc Việt Nam với truyền thống hào hùng bất khuất đă từng đánh bại đạo quân Nguyên Mông bách chiến bách thắng, đánh tan tành 29 vạn quân Thanh xâm lược với những danh tướng lẫy lừng, những anh hùng dân tộc như Lư Thường Kiệt, Lê Đại Hành, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi và Quang Trung Nguyễn Huệ. Thế nhưng, đế quốc mới Trung Cộng vẫn chưa học được bài học máu và nước mắt, vẫn chủ trương xâm lược Việt Nam, chiếm cứ biển Đông để thực hiện giấc mộng bá chủ của Trung Quốc.

 

Nhà nước Việt Nam dân Chủ Cộng Ḥa và Cộng ḥa xă hội Chủ nghĩa Việt Nam được thành lập do sự cướp đoạt chính quyền, không do nhân dân bầu lên trong một cuộc bầu cử dân chủ tự do, là những chế độ độc tài toàn trị với những tên Việt gian bán nước cầu vinh “Dâng đất nhường biển” cho Trung Cộng.

 

Trước hành động ngang ngược của đế quốc mới Trung Cộng và thái độ ươn hèn nhục nhă của tập đoàn Việt gian Cộng sản bất nhân, hại dân bán nước. Bất chấp sự ngăn chặn của công an, hàng ngàn thanh niên sinh viên, trí thức và văn nghệ sĩ đồng loạt xuống đường để thể hiện quyết tâm bảo vệ đất nước ngày 5 tháng 6 vừa qua.

 

Dân tộc Việt Nam đang đối mặt với “Thù Trong giặc ngoài”. Đất nước Việt Nam đang đứng bên bờ vực thẳm của nguy cơ mất nước cận kề… Trong giờ phút trọng đại của lịch sử, Chúng tôi, các bô lăo, nhân sĩ trí thức và các hội đoàn Việt Nam yêu nước, thể hiện ư chí và nguyện vọng của toàn thể đồng bào Việt Nam Hải ngoại đặt quyền lợi  dân tộc lên trên hết long trọng tuyên bố:

 

1.      Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời đại khẳng định chủ quyền lịch sử của Việt nam đối với Hoàng sa Trường Sa từ thời lập quốc cho đến ngày nay. Tất cả mọi văn kiện kư kết giữa nhà nước Cộng sản Việt Nam không do dân bầu lên với  Trung Cộng hoàn toàn vô giá trị. Toàn dân Việt Nam sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ giang sơn gấm vóc của vua Hùng dựng nước và anh hùng liệt nữ bao đời giữ nước Việt Nam.

 

2.      Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi công luận quốc tế hăy lên tiếng can thiệp để bảo vệ công lư và sự thật lịch sử. Các nước Đông Nam Á phải thành lập liên minh pḥng thủ Đông Nam Á (SEATO) để chống lại Trung Cộng xâm lược. Các nước đă tham gia kư kết các hiệp ước quốc tế về Việt nam cùng tổ chức ngay một Hội nghị Quốc tế các quốc gia liên quan đến Việt Nam và biển Đông Nam Á để bảo vệ công lư, sự thật lịch sử về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

 

3.      Hồ Chí Minh và đảng CSVN đă rước voi Liên Sô về dày mả Tổ Hùng Vương, cơng rắn độc Tầu Cộng về cắn gà nhà dân tộc, đưa dân tộc vào cuộc chiến tranh phi nghĩa khiến hàng triệu đồng bào Việt Nam vô tội đă phải hy sinh oan uổng và một đất nước Việt Nam nghèo nàn chậm tiến nhất thế giới. Ngày nay, tập đoàn lănh đạo CSVN đă chứng tỏ là một tập đoàn tham nhũng, bóc lột vơ vét tài  sản của nhân dân để  trở  thành những tên tư  bản đỏ, cường quyền đỏ  cưỡi  đầu cưỡi  cổ  dân lành. Tập đoàn Việt gian hại dân bán nước “Ác với dân hèn với giặc” này là “Tội đồ của Dân tộc” sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước sự phán xét của toàn thể nhân dân Việt Nam trong ngày N giờ G của lịch sử.

 

4.      Cuộc xuống đường của hàng ngàn thanh niên sinh viên, trí thức tại Hà Nội và Sài G̣n ngày 5 tháng 6 vừa qua đă thể hiện quyết tâm của toàn dân Việt, biểu dương sức mạnh của toàn dân đối với thù trong, giặc ngoài mở đầu cho cuộc Tổng xuống đường của toàn dân trên cả nước trong nay mai để chuyển đổi lịch sử. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời đại tha thiết kêu gọi đồng bào trong nước không phân biệt tôn giáo, địa phương, đoàn thể, chính kiến hăy nắm chặt tay nhau xuống đường đ̣i hỏi tự do, cơm áo và quyền làm chủ đất nước. Các tướng lănh và quân nhân Việt Nam yêu nước, các đảng viên CS phản tỉnh hăy đứng về phía nhân dân để cứu dân cứu nước.

 

Để thể hiện ḷng yêu nước, Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời đại tha thiết kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam trong nước và hải ngoại nhất loạt không mua thực phẩm độc hại của Trung Quốc, không dùng hàng hóa sản phẩm “Dỏm” của Trung Quốc. Đây là biện pháp hiệu qủa nhất để làm suy yếu nên kinh tế đang lên của Trung Quốc khiến đế quốc Trung Cộng không c̣n khả năng để xâm lược Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Hơn ba triệu đồng bào Việt Nam Hải ngoại sẽ làm hết sức ḿnh từ tinh thần đến vật chất để yểm trợ công cuộc đấu tranh của toàn dân trong nước.

 

Thủ đô Tinh thần của đồng bào Việt Nam Tỵ nạn Cộng sản ngày 11-6-2011

 

TM HỘI ĐỒNG SÁNG LẬP HỘI NHÂN SĨ DIÊN HỒNG THỜI ĐẠI

 

1.      Bô Lăo Vơ Toàn 102 tuổi.

2.      Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm.

3.      Nhà Biên Khảo Lịch sử Phạm Trần Anh.

 

 

HỘI ĐOÀN

 

-          Mặt Trận Dân Tộc Cứu Nguy Việt Nam.

-          Hội Cao Niên Việt Nam Sanjose.

-          Lê Văn Duyệt Foundation.

-          Hội Cao Niên Montréal Canada.

-          Hội Đền Hùng Hải Ngoại.

-          Ủy Ban Đặc Nhiệm chống Tuyên vận Cộng Sản.

-          Hội Nghiên cứu Lịch sử.

-          Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam.

-          Liên Minh Dân Tộc Việt Nam.

-          Ủy Ban Hoà Đồng Dân Tộc và Tôn Giáo.

-          Phong Trào Phụ Nữ Hành Động Cứu Nước.

-          Li ên Minh Quang Phục Việt Nam.

-          Hội Hải Quân Philadelphia và vùng phụ cận.

-          Đại Việt Quốc Dân Đảng.

-          Việt Nam Quốc Dân Đảng Thống Nhất Nam Cali.

-          Hội Cao niên Á Mỹ.

-          Câu Lạc Bộ Thi Văn Tao Đàn Hải Ngoại.

-          Câu Lạc Bộ Dân chủ Tự Do.

-          Cộng Đồng Người Việt Cleverland Ohio.

-          Hội Đồng Việt Nam Tự Do.

-          Diễn Đàn Dân chủ Tự Do.

-          Chi Hội Ái Hữu Tù nhân Chính Trị và Tôn Giáo Cambodia.

-          Chi Hội Ái hữu Tù nhân Chính Trị và Tôn Giáo Thái Lan.

-          Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California.

-          Nghị Hội Người Việt Toàn Quốc Hoa Kỳ.

-          Hội Cử Tri Việt Mỹ.

      -     Phật Tử An Lạc. Phụng sự.

-     Hội Văn Hóa Phụ Nữ Philadelphia và vùng Phụ cận HK.

-     Hội Phụ Nữ Nhân Ái Thiện Nguyện Nam Cali HK.

-     Hội Giáo Chức Việt Mỹ Tây Nam Hoa Kỳ.

-     Cỏ Thơm Magazine.

      -    Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam.

      -    Ủy Ban Phát Huy & Bảo vệ Chính nghĩa Quốc Gia.

 

DANH SÁCH BÔ LĂO, NHÂN SĨ TRÍ THỨC

 

  1. Bô Lăo Nguyễn văn Bách, Nam cali 100 tuổi.
  2. LM Nguyên Thanh, Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam.
  3. Khoa học gia, GSTS Nguyễn Xuân Vinh.
  4. Bô Lăo Vũ Ngọc Truy, Cựu Luật sư 96 tuổi.
  5. Nhân sĩ Đinh Thị Việt Liên 95 tuổi Bắc Cali.
  6. Nhà văn Lăo thành Doăn Quốc Sỹ, 88 tuổi Texas.
  7. GS Nguyễn Tư Mô, Cố vấn Hội Đền Hùng Hải Ngoại.
  8.  Cụ Bà Âu Tiên Nguyễn thị Đức.
  9. Giáo sư Phạm Cao Dương.
  10. Cụ Bà Nguyễn thị Chương
  11. Học giả Huỳnh văn Lang, 90 tuổi Nam California.
  12. Luật sư Đoàn Thanh Liêm, Nam California.
  13. Giáo sư Nguyễn Chính Kết USA.
  14. Nhân sĩ Phạm văn Tường 85 tuổi, Bắc California.
  15. Nhân sĩ Lê Châu Lộc, Cựu Thương Nghị sĩ Việt Nam Cộng Ḥa.
  16. Nhân sĩ Nguyễn Hy Vọng 80 tuổi, Nam Cali.
  17. Nhân sĩ Vơ Đại Tôn (Liên Minh Quang Phục Việt Nam).
  18. Nhân sĩ Phan Kỳ Nhơn, Ủy Ban Đặc nhiệm chống Tuyên vận Cộng Sản.
  19. Nhà Báo Trần Phong Vũ.
  20. Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiện..
  21. Giáo sư Vũ Thiệu Phúc, Cố vấn Hội Đền Hùng Hải Ngoại.
  22. Nhân sĩ Chu Chi Nam, Hội Nghiên cứu Lịch sử Pháp Quốc.
  23. Nhân sĩ Trần Như Huỳnh, Bắc Cali.
  24. Nhân sĩ Trần Thanh Phong, CT Hội Đồng Kiểm soát Hội Đền Hùng hải Ngoại
  25. Nhân sĩ Nguyễn văn Cừ, Cộng Đồng Việt Nam Los Angeles.
  26. Phan Như Hữu, Hội Đồng Việt Nam Tự Do Nam Cali.
  27. Nhân sĩ Phạm Ngọc Khôi, Phó HT Hội Đền Hùng Hải Ngoại.
  28. Nhân sĩ Trần Ngọc Tôn, Cựu Đốc sự Hành Chánh.
  29. Bác sĩ Nghiêm Phú, Nam Cali.
  30. DS Bùi Như Hải. Hội Đền Hùng Hải Ngoại.
  31. DS Nguyễn Đ́nh Thức, Hội Đền Hùng Hải Ngoại.
  32. Nhân sĩ Trần văn Thắng, Hội Đền Hùng Hải Ngoại.
  33. Nhân sĩ Pham Ngọc Điệp 81 tuổi Úc Châu.
  34. Tiến sĩ  Phan văn Song, Đại Việt Quốc Dân Đảng.
  35. Nhân sĩ Phan Đa Văn, Nam Cali HK.
  36. Nhân sĩ Dương Ngọc Sum Nam Cali.
  37. Nhân sĩ Nguyễn Duy Nghiêu Nam Cali.
  38. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, Phong Trào Phụ Nữ Hành Động Cứu Nước.
  39. Cư sĩ Minh Pháp.
  40. Nhân sĩ Nguyễn Hữu Đĩnh.
  41. Nhân sĩ Nguyễn Tạ Quang, Hội Hải Quân Trần Quang Khải Philadelphia.
  42. Nhân sĩ Đoàn Thế Cường, Ủy Ban Bảo Toàn Đất Tổ.
  43. Nhân sĩ Vũ Lang, Câu Lạc Bộ Thi Văn Tao Đàn Hải Ngoại.
  44. Nhân sĩ Phùng Ngọc Ẩn San Diego.
  45. Giáo sư Nhạc sĩ Lê Quốc Tấn, SanJose.
  46. Nhân sĩ Hoàng Ngọc An Nam Cali.
  47. Nhân sĩ Hoàng Vy Nam cali.
  48. Nhân sĩ  Lê Văn Lan Texas.
  49. Nguyễn Hữu Lễ, Cộng Đồng Việt Nam Ohio.
  50. Nguyễn Phùng Phong, CT Hội Ái Hữu Tù nhân CT và Tôn Giáo VN Cambodia.
  51. Lê Thái Lan, CT Hội Ái Hữu Tù nhân Chính Trị và Tôn Giáo VN Thái Lan.
  52. LS Nguyễn Xuân Nghĩa, HT Hội Đền Hùng Hải Ngoại.
  53. Giáo sư Trần Đức Thanh Phong, Nhân sĩ Tây Nam Hoa Kỳ.
  54. Thi họa sĩ Vũ Hối, nhân sĩ  Đông Bắc Hoa Kỳ.
  55. Mhân sĩ Trần Vệ, CT TT Cựu Chiến sĩ Tây Nam Hoa Kỳ..
  56. Nhà văn Nguyễn Hữu Của, TT Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ.
  57. Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, nhân sĩ Đông Bắc Hoa Kỳ.
  58. Nhân sĩ Đào Xuân Đàm 93 tuổi, nhân sĩ Tây Nam HK.
  59. Tiến sĩ Hà Thế Ruyệt, nhân sĩ Nam Cali.
  60. GS Nguyễn Thành Long PGHH.
  61. GS Nguyễn Thanh Giàu PGHH.
  62. Hiền Tài Phạm Văn Khảm Cao Đài.
  63. BS Phạm Nguyên Lương, Nhân sĩ Nam Cali.
  64. Cụ Nguyễn văn Sĩ, Nhân sĩ Nam Cali.
  65. Ông Vũ Hoàng Hải, VNQDĐTN  Nam Cali.
  66. Nhân sĩ Hoàng văn Phong, Đoàn An Lạc Phụng sự Nam Cali.
  67. Nhân sĩ Nguyễn Phổ Nam Cali.
  68. Nhân sĩ Trần Việt Nhân Úc Châu.
  69. Nhân sĩ Hoa Thế Nhân, Hội Cử Tri Việt Mỹ Nam Cali.
  70. Nhân sĩ Trần Thị Hồng Khương, Hội Văn Hóa Phụ Nữ Philadelphia và vùng Phụ cận HK.
  71. Nhân sĩ Lê Thị Hồng Lan, Hội Phụ Nữ Nhân Ái Thiện Nguyện Nam Cali HK.
  72. Nhân sĩ Lê Quư An, Hội Giáo Chức Việt Nam Nam Cali.
  73. Nhân sĩ Nguyễn thị Ngọc Dung, nhà văn Cỏ Thơm Magazine HK.
  74. Học giả Vũ Hữu San.
  75. Bà Đỗ Thị Thuấn, Điện báo Ánh Dương.
  76. Nhà văn Chu Vũ Ánh Fháp Quốc.
  77. Nhá Báo Thanh Phong.
  78. Họa sĩ Hoàng Vinh, nhân sĩ Nam Cali.
  79. Nhân sĩ Trần Ngọc Thiệu, QGHC Nam Cali.
  80. Nhà văn Đỗ Tiến Đức, Chủ bút Báo Thời luận.
  81. TS Mai Thanh Truyết, Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam.
  82. Nhân sĩ Lê Ngọc Diệp, Ủy Ban Phát Huy & Bảo vệ Chính nghĩa Quốc Gia.
  83. Nhà Thơ Thái Anh Duy, TT Văn Bút Nam Cali.
  84. Nhân sĩ Vũ văn Tùng (CT TT Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ).
  85. Nhân sĩ Lưu Phát.
  86. Nhà Báo Nguyễn Duy.
  87. Nhân sĩ Lê Nguyễn Thiện Truyền.

 

 

 

QUYẾT TÂM ĐÁNH BẠI TẦU CỘNG

TRÊN MẶT TRẬN KINH T Ế

Thưa Quư Vị, Quư NT và CH...

Giới truyền thông Hoa Kỳ đă tham dự, vận động tẩy chay hàng hóa Trung cộng đang có tại thị trường Hoa Kỳ...

Xin Quư Vị cùng đồng tâm hiệp lực thực hiện việc làm chính đáng này...

Mọi người, mọi nhà nhất quyết không mua hàng nhập cảng từ Tàu cộng...

không tham dự bất cứ dịch vụ ǵ với Tàu cộng...

Từ nay và măi măi...

v́ Tàu cộng vốn là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam...

Cũng xin Quư Vị vui ḷng góp tay phổ biến rộng rải...

Chân thành cám ơn.

BMH

Washington, D.C

 

TRUYỀN THÔNG HOA KỲ VẬN ĐỘNG

TẨY CHAY HÀNG HÓA TRUNG CỘNG

và ỦNG HỘ HÀNG HÓA SẢN XUẤT TẠI HOA KỲ(MADE IN USA)…

 

Diane Sawyer has a special report coming up this week?

 

They removed ALL items from a typical, middle class family's home that were not made in the USA. 
There was hardly anything left besides the kitchen sink. Literally.

 

During the special they are going to show truckloads of items - USA made -
being brought in to replace everything and will be talking about how to find these items and the difference in price etc..

 

It was interesting that Diane said that if every American spent just $64 more than normal on USA made items this year,
it would create something like 200,000 new jobs!

 

I WAS BUYING FOOD THE OTHER DAY AT WALMART and ON THE LABEL OF SOME PRODUCTS IT SAID 'FROM CHINA’

 

FOR EXAMPLE THE "OUR FAMILY" BRAND OF THE MANDARIN ORANGES SAYS RIGHT ON THE CAN 'FROM CHINA'

 

I WAS SHOCKED SO FOR A FEW MORE CENTS I BOUGHT THE LIBERTY GOLD BRAND OR THE DOLE SINCE IT'S FROM CALIFORNIA.

 

Are we Americans as dumb as we appear --- or --- is it that we just do not think while the Chinese, knowingly and intentionally,
export inferior and even toxic products and dangerous toys and goods to be sold in American markets?

 

70% of Americans believe that the trading privileges afforded to the Chinese should be suspended.

 

Why do you need the government to suspend trading privileges?

DO IT YOURSELF, AMERICA!!

 

 

Simply look on the bottom of every product you buy, and if it says 'Made in China ' or 'PRC' (and that now includes Hong Kong), simply choose another product, or none at all. You will be amazed at how dependent you are on Chinese products, and you will be equally amazed at what you can do without.

 

Who needs plastic eggs to celebrate Easter? If you must have eggs, use real ones and benefit some American farmer. Easter is just an example:

 

. The point is do not wait for the government to act. Just go ahead and assume control on your own.

 

THINK ABOUT THIS:

 

If 200 million Americans refuse to buy just $20 each of Chinese goods, that's a billion dollar trade imbalance resolved in our favor... fast!!

 

Most of the people who have been reading about this matter are planning on implementing this on JUNE 1st and continue it until JUL 1st. That is only one month of trading losses, but it will hit the Chinese for 1/12th of the total, or 8%, of their American exports. Then they might have to ask themselves if the benefits of their arrogance and lawlessness were worth it.

 

Remember, JUNE 1st to JUL 1st !!!!!!  START NOW.

 

Send this to everybody you know. Let's show them that we are Americans and NOBODY can take us for granted.

 

If we can't live without cheap Chinese goods for one month out of our lives, WE DESERVE WHAT WE GET!

 

Pass it on, America......

 

BUY AMERICAN !!!!!

TẨY CHAY HÀNG HOÁ TRUNG CỘNG tại HOA KỲ

 

IF: 2 tỉ người không mua $20/month sản phẩm Tàu cộng,

THEN: Tàu cộng sẽ thâm hụt mậu dịch 10 tỉ đô la/month 2 tỉ người không mua $200/month sản phẩm Tàu cộng, Tàu cộng sẽ thâm hụt mậu dịch 100 tỉ đô la/month.  Nghĩa là Tàu cộng sẽ thâm hụt mậu dịch $1,200,000,000,000/year (1,200 tỉ đô la mỗi năm).

 

Đây là sự đánh trả lại Tàu cộng gian thương quỉ quyệt (đang kiếm tiền của nhân loại một cách bất chính để GIẾT NHÂN LOẠI và LŨNG ĐOẠN THẾ GIỚI) mà tất cả người Việt nam yêu nước, người dân trung hậu chân chính trên toàn thế giới có thể tham gia trực tiếp để cứu ḿnh, cứu đời.

 

Lời kêu gọi toàn cầu: TẨY CHAY HÀNG HÓA, THỨC ĂN, THỨC UỐNG, DU LỊCH TÀU CỘNG !!!!!!!!!!!!!!!!!!

 

Mặt Trận Dân Tộc Cứu Quốc tha thiết kêu gọi toàn thể đồng bào rong nước và Hải ngoại hăy thể hiện ḷng yêu nước của ḿnh bằng việc làm cụ thể là vận động gia đ́nh ḿnh, vận động bạn bè, bà con cḥm xóm không mua thực phẩm độc hại của Trung Quốc, không mua hàng dỏm của Trung Quốc. Đây là hành động thiết thực hữu hiệu để đánh xập nền kinh tế của Trung Quốc khiến đế quốc mới Trung Cộng không c̣n khả năng gây chiến xâm lược nước ta. Làm được như vậy, chúng ta đă góp phần vào công cuộc bảo vệ đất nước, ǵn giữ giang sơn gấm vóc của tiền nhân bao đời dựng nước và giữ nước.

 

 

TẨY CHAY THỰC PHẨM, HÀNG HÓA ĐỂ ĐÁNH XẬP KINH TẾ TRUNG QUỐC, CHÚNG TA SẼ ĐÁNH BẠI TRUNG CỘNG TRÊN MẶT TRẬN KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ.

 

NGƯỜI VIỆT NAM CHÚNG TA QUYẾT TÂM:

 

1.    KHÔNG DÙNG THỨC ĂN, THỨC UỐNG ĐỘC HẠI CỦA TRUNG CỘNG ĐỂ TRÁNH CÁI CHẾT TỪ TỪ BẰNG THỰC PHẨM DO TRUNG QUỐC ĐẦU ĐỘC CHÚNG TA.

 

2.    KHÔNG MUA HÀNG DỎM CỦA TRUNG QUỐC… 

 

3.    KHÔNG DU LỊCH TÀU CỘNG, KHÔNG MUA VÉ  MÁY BAY TRUNG QUỐC VỀ  VIỆT NAM DÙ  CÓ  RẺ  ĐẾN BAO NHIÊU…

 

4.    KHÔNG VỀ VIỆT NAM TRỪ TRƯỜNG HỢP CẦN THIẾT.

 

5.    KHÔNG MUA HÀNG VIỆT NAM ĐỘC HẠI LÀM BẰNG NGUYÊN LIỆU TRUNG QUỐC.

 

 

Chúng ta cố gắng thực hiện cho bằng được những điều tưởng là đơn giản nhưng hữu hiệu vô cùng, chúng ta sẽ diệt được thù trong giặc ngoài để cứu dân cứu nước.

 

MẶT TRẬN DÂN TỘC CỨU QUỐC

 

PHẠM TRẦN ANH

 

Nếu chúng ta không muốn dân tộc chúng ta chết dưới tay Tàu cộng "DEATH BY CHINA" th́ xin hăy phổ biến rộng răi qua truyền thông báo chí, Facebook, Twitters, websites, email cho tất cả đồng bào VN trong nước và hải ngoại. HĂY CHIẾN ĐẤU NGAY TỪ BÂY GIỜ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 Tuyên bố chung nhân các cuộc biểu t́nh

chống Trung Cộng của Đồng bào Việt Nam trong tháng 06-2011

(Khối Tự do Dân chủ 8406 và Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền)

            Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam

            Trong tháng 6 năm nay, nhà cầm quyền Trung Cộng đột nhiên gia tăng gây hấn với Việt Nam trên Biển Đông, cụ thể và đặc biệt là đă đi vào lănh hải đất nước để cắt cáp ngầm tàu thăm ḍ dầu khí của Việt Nam ngày 26-05 rồi 09-06-2011. Hành động ngang ngược này lập tức khơi dậy ḷng ái quốc của nhân dân. Nhiều cuộc biểu t́nh đă diễn ra sôi nổi tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Sài G̣n cũng như đă bị cấm cản tại Hải Pḥng, Vinh và Đ;à Nẵng vào các Chủ nhật 05, 12 rồi 19-06-2011. Thế nhưng, y như trong các cuộc xuống đường năm 2007-2008, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, thay v́ tỏ ḷng biết ơn và tạo điều kiện thuận lợi cho các hành động của nhân dân chống hiểm họa ngoại bang xâm lược, tương tự tại bao quốc gia khác, lại dùng vô số thủ đoạn, thậm chí đểu cáng và hung bạo để trấn áp ḷng ái quốc.     

            Trước t́nh thế đó, Khối 8406 và Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền nhận định:

            Như cụ Nguyễn Trăi từng nói: “Mọi chuyện đều có nguyên nhân của nó, nhưng không phải việc của một ngày”, thái độ lạ lùng của nhà cầm quyền CSVN nói trên bắt nguồn từ lâu trong quá khứ, qua một tiến tŕnh dài như sau:

            1- Khi người Pháp sắp rút khỏi Đông Dương, với tinh thần Đại Hán tăng cường bởi tinh thần Cộng sản, Trung Hoa tiếp tục ḍm ngó Việt Nam và họ đă t́m thấy một trợ thủ đắc lực. Đó là ông Hồ Chí Minh và đảng Lao động (tiền thân đảng Cộng sản), vốn rất sùng bái, hăi sợ và luôn học đ̣i Mao Trạch Đông. Trước hết, ông Hồ đă đê hèn chấp nhận sự buôn bán chính trị giữa Trung Cộng với các cường quốc (thông qua vai tṛ xấu xa của Chu Ân Lai) tại Hội nghị Genève (1954) trên lưng dân Việt. Điều này khiến cho đất nước bị phân đôi và cuộc chiến tranh Đông Dương lần 2 (1954–1975) nổ ra (trong khi các nước trong khu vực có cùng điều kiện địa chính trị như Đông Dương đă tránh được). Đây chính là tội ác lớn nhất đối với Dân tộc. Tiếp đến, dưới sự chỉ đạo của Mao, rập khuôn mẫu Trung Cộng và được các cố vấn Trung Cộng trợ giúp, Hồ Chí Minh đă tàn hại đạo đức phong hóa nông thôn, cơ cấu làng xă họ tộc truyền thống, tiềm lực nhân sĩ lănh đạo qua vụ Cải cách Ruộng đất, đă tiêu diệt bao tài năng nhiệt huyết trí thức qua vụ Nhân văn Giai phẩm và vụ Chỉnh đốn Tổ chức. Đây là một sự xâm hại sinh khí và nền văn hóa Dân tộc rất nghiêm trọng.

            2- Khi Mao Trạch Đông tiến hành kế hoạch mở rộng đế quốc Cộng sản và nhất là lănh thổ Trung Hoa xuống Đông Nam Á qua việc giúp đỡ Việt Nam Dân chủ xâm chiếm Việt Nam Cộng ḥa, Hồ Chí Minh đă dâng cho Trung Cộng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên danh nghĩa (qua công hàm bán nước do Phạm Văn Đồng kư năm 1958), đă để cho Trung Cộng chiếm cứ đồn biên pḥng yếu huyệt ngàn năm là Nam Quan ải, đem quân xâm nhập sâu vào miền Bắc gọi là giữ giùm hậu phương, len lỏi vào tận hàng lănh đạo của đảng CSVN để gọi là bảo đảm sự đoàn kết giữa hai chính đảng và chính thể. Đây là một sự xâm hại nền chính trị quốc gia hết sức nguy hiểm.

            3- Khi cuộc thôn tính miền Nam kết thúc, do bị Trung Cộng đ̣i nợ chiến phí bằng đất đai Tổ quốc và quyền lợi kinh tế trên đất Việt, do mù quáng tin tưởng vào t́nh hữu nghị Trung-Việt (16 chữ vàng và 4 tốt) cũng như do yếu nhược phải cậy dựa vào đàn anh duy nhất hùng mạnh c̣n lại, đảng CSVN đă nhượng cho Trung Quốc gần cả ngàn km2 lănh thổ (trong đó có nhiều điểm chiến lược) qua Hiệp định biên giới năm 1999, gần 10.000 km2 lănh hải qua Hiệp định vịnh Bắc bộ năm 2000, cả vùng Tây Nguyên yếu huyệt qua Quyết định năm 2007 cho Trung Cộng khai thác bauxite; đă cho Trung Cộng thuê hơn 300.000 hecta rừng đầu nguồn và rừng pḥng hộ, xây nhiều làng mạc và đô thị Trung Cộng từ Nam chí Bắc, đi vào đất Việt không cần thị thực nhập cảnh, trúng thầu phần lớn các công tŕnh xây dựng, kinh tế lớn trong đất nước, tuôn tràn vào Việt Nam các sản phẩm văn hóa, kỹ thuật, ẩm thực (đa phần kém chất lượng hay độc hại)… Đây là một sự xâm hại nền kinh tế và quốc pḥng đất nước rất đáng lo âu.

            4- Khi Trung Cộng quyết định mở rộng chủ quyền trên Biển Đông những năm gần đây qua yêu sách “Đường lưỡi ḅ 9 đoạn”, Hà Nội tiếp tục theo đuổi chính sách ngoại giao ngây thơ (dựa trên bảng phân loại các nước thành bạn hay thù, chứ không phải trên quyền lợi quốc gia lẫn tương quan lợi quyền quốc tế) và thái độ ngày càng khiếp nhược trước Trung Cộng dưới mỹ từ “hiếu ḥa hữu nghị”, do đó đă bị Trung Cộng ngày càng lấn lướt trên Biển đông: cấm cản, xua đuổi, bắt tù, cướp bóc, bắn giết ngư dân Việt; thúc giục, bảo vệ ngư dân Tàu vào đánh cá ngay trong thềm lục địa nước Việt; hăm dọa các công ty khai thác dầu hỏa ngoại quốc muốn làm ăn với Hà Nội; và mới nhất là xâm phạm lănh hải Việt Nam để hăm dọa và phá hoại những tàu thăm ḍ khoáng sản của Việt Nam. Đây là một sự xâm hại chủ quyền quốc gia rất trắng trợn.

            Thế mà nhà cầm quyền CSVN lại phản ứng bằng cách bỏ mặc ngư dân bơ vơ trước sói dữ, lấy cớ tàu quân sự không xen vào chuyện dân sự; bằng cách tiếp tục hợp tác toàn diện với lân bang luôn nuôi mộng Đại Hán xâm lược; bằng cách từ khước liên minh với lực lượng hùng mạnh của các quốc gia văn minh dân chủ; bằng cách giấu nhẹm thông tin về vụ việc trước quốc dân và không tŕnh vụ việc lên ṭa án quốc tế; bằng cách ngăn cản, sách nhiễu, hăm dọa hoặc bỏ tù những ai lên tiếng chống Trung Cộng xâm lược qua các bài viết hay các cuộc biểu t́nh. Những phản ứng gần đây như cho phát ngôn viên bộ Ngoại giao lên tiếng, như tới gặp đại sứ Trung Cộng trao công hàm đều chứng tỏ tinh thần yếu nhược; như mua thêm khí tài quân sự, như tập trận bắn đạn thật trên biển Đông chỉ là tṛ đánh lừa dư luận, hóa giải sự phẫn nộ của nhân dân, chẳng mảy may hiệu quả ǵ.

            5- Những động thái trên cho thấy Trung Cộng ngày càng trở thành hiểm họa xâm lăng đối với Việt Nam, nguy cơ Bắc thuộc lần thứ 5 đang đến gần; cũng như cho thấy nhà cầm quyền Hà Nội ngày càng lộ rơ bộ mặt phản dân hại nước, đặt quyền lợi của đảng và phe phái trên quyền lợi của quốc gia và dân tộc, sẵn sàng bán đất biển, nhường quyền lợi để giúp Trung Cộng có điều kiện tiến lên địa vị siêu cường, bá chủ thế giới, hầu Việt cộng tiếp tục cai trị trên một Việt Nam sẽ trở thành Giao chỉ quận.

            II- Trước nguy cơ ấy, Khối 8406 và Nhóm Lm Nguyễn Kim Điền tuyên bố:

            1- Lên án thái độ đồng lơa với giặc - gian ác với dân, lụy phục ngoại thù - phản bội tổ quốc của đảng Cộng sản Việt Nam. Một thái độ không bao giờ thay đổi kể từ khi Hồ Chí Minh và đảng CS cầm quyền trên đất nước. Lên án thái độ dửng dưng của tân Quốc hội, vốn chẳng có thành viên nào tham gia các cuộc biểu t́nh bày tỏ tấm ḷng yêu nước và ư chí chống giặc nói trên. Điều đó tiếp tục chứng tỏ Quốc hội chỉ là công cụ đê hèn trong tay Cộng đảng khiếp nhược.

            2- Đ̣i hỏi đảng CSVN, nếu muốn có đường sống và chỗ đứng trên đất nước Việt Nam, hăy trở về với nhân dân bằng cách thả hết các tù nhân chính trị vốn đă bị giam giữ v́ ḷng ái quốc, chấm dứt chế độ chuyên chế độc tài, băi bỏ quan niệm “chỉ đảng mới có quyền lo việc nước”, phủ nhận Công hàm bán nước 1958 và các Hiệp ước bất b́nh đẳng với Trung Cộng, kiện Trung Cộng trước ṭa án Liên Hiệp quốc, quyết liệt truy đuổi tàu Trung Cộng xâm phạm lănh hải (như gương Philippin, Hàn Quốc, Nhật Bản…), hủy bỏ các tô giới Trung Cộng trên đất liền, thôi trấn áp ḷng yêu nước biểu lộ qua những cuộc biểu t́nh hay những lời lên tiếng chống quân xâm lược, trả lại mọi nhân quyền cho toàn dân để có thể thực hiện đại đoàn kết theo tinh thần Hội nghị Diên Hồng.

            3- Hoan nghênh và ủng hộ các cuộc biểu t́nh bất bạo động mà Đồng bào khắp cả nước (đặc biệt các bạn trẻ sinh viên, các trí thức nhân sĩ và các bậc trưởng thượng vị vọng) đă, đang và sẽ c̣n tiến hành để bày tỏ tấm ḷng ái quốc, sức mạnh dân tộc, tinh thần đoàn kết và thái độ sẵn sàng hỗ trợ cho một chính phủ biết đặt quyền lợi Tổ quốc lên hàng đầu. Yêu cầu lực lượng công an quân đội chớ để ḿnh hay tự ḿnh biến thành kẻ thù của nhân dân bằng cách đàn áp những tấm ḷng yêu nước theo lệnh các lănh đạo CS. Bằng không anh em sẽ đắc tội trước lịch sử và sẽ trực tiếp hứng chịu sự trừng phạt của nhân dân khi những kẻ sai khiến anh em bỏ chạy ra nước ngoài.

            4- Kêu gọi giới lănh đạo tinh thần (trí thức dân sự và chức sắc tôn giáo) thể hiện tinh thần sĩ phu yêu nước, đoàn kết nên một, đứng ra lănh đạo toàn dân, điều hướng sức mạnh của mọi lực lượng quần chúng chống lại nội thù bán nước và ngoại thù cướp nước. Kêu gọi các tôn giáo liên tục tổ chức những buổi cầu nguyện cho Quê hương, cho các tù nhân lương tâm, cho các nạn nhân bị bóc lột, để khơi gợi ư thức và củng cố tinh thần cho tín đồ.

            5- Thỉnh cầu Đồng bào hải ngoại tiếp tay với quốc nội bằng cách hỗ trợ các cuộc xuống đường biểu t́nh của quốc nội, bằng cách xiển dương chính nghĩa cuộc đấu tranh chống ngoại thù và nội thù của Dân tộc trước thế giới, bằng cách vận động quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh này qua việc giúp nhân dân Việt Nam giải thể cho được chế độ độc tài toàn trị Cộng sản…

            Làm tại Việt Nam ngày 25 tháng 06 năm 2011

            Ban Đại diện lâm thời Khối 8406 và Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền.

1. Linh mục Chân Tín, Ḍng Chúa Cứu thế Sài G̣n, 38 Kỳ Đồng, Sài G̣n, Việt Nam

2. Kỹ sư Đỗ Nam Hải, 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài G̣n, Việt Nam.

3. Linh mục Nguyễn Hữu Giải, Giáo xứ An Bằng, Vinh An, Tổng Giáo phận Huế.  

4. Linh mục Phan Văn Lợi, 16/46 Trần Phú, Thành phố Huế, Việt Nam.

5. Linh mục Nguyễn Văn Lư, bị quản thúc tại 69 Phan Đ́nh Phùng, Tp Huế, Việt Nam.

6. Giáo sư Nguyễn Chính Kết - Đại diện Khối 8406 tại hải ngoại.

            Trong sự hiệp thông với cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù Cộng sản.

 

 

KHI TRÍ THỨC ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN LÊN TIẾNG…

 PS:

In a message dated 6/26/2011 2:01:26 P.M. Eastern Daylight Time, honghai386@gmail.com writes:

kinh chuyen tin
Hong Hai .
***************

 

from

Nguyen Thai Son nguyen.thaison@neuf.fr

to

honghai <honghai386@gmail.com>

date

Sun, Jun 26, 2011 at 7:06 AM

subject

Tr : MOT DONG THAI CAN DAM CO Y NGHIA CHINH TRI QUAN TRONG : BẢN TUYÊN CÁO ĐẶC BIỆT của các nhân sĩ quôc nội ve TRUNG CONG XAM PHAM CHU QUYEN TO QUOC !

 

 

 

 

hide details 7:06 AM (3 hours ago)

 

 

Xin ĐH vui long pho bien rong rai.

Đa ta.

NTTS


BẢN TUYÊN CÁO ĐẶC BIỆT

CỘNG H̉A XĂ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

--- o0o ---

TUYÊN CÁO

VỀ VIỆC NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC LIÊN TỤC CÓ NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN, XÂM PHẠM NGHIÊM TRỌNG CHỦ QUYỀN VÀ TOÀN VẸN LĂNH THỔ VIỆT NAM TRÊN BIỂN ĐÔNG

Chúng tôi, những người đồng kư tên dưới đây

Nhận định rằng:

1. Trong quá tŕnh lịch sử, Trung Quốc đă nhiều lần tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Năm 1974 chiếm Ḥang Sa, năm 1979 xua quân đánh 9 tỉnh biên giới phía Bắc, tiếp sức cho bọn diệt chủng Pôn Pốt đánh vào các tỉnh Tây Nam Việt Nam, năm 1988 đánh chiếm đảo Đá chữ thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, cho đến nay mưu đồ lấn chiếm ngày càng tiếp diễn thô bạo hơn.

2. Mặc dù năm 1991, Việt Nam Trung Quốc đă kư Hiệp định Ḥa B́nh, tuyên bố láng giềng hữu nghị nhưng nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn tiếp tục ngang ngược cho tàu ngăn cản , bắn giết ngư dân Việt Nam trong cuộc mưu sinh trên vùng biển của ḿnh; bắt tàu đánh cá , phạt vạ, trấn lột, cướp bóc tài sản của ngư dân Việt Nam. Ngày 26 tháng 5 năm 2011, tàu hải giám Trung Quốc xông vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tấn công, cắt cáp thăm ḍ dầu khí của tàu B́nh Minh, tiếp đến ngày 9 tháng 6 năm 2011, tàu Trung Quốc lại hung hăn xông vào cắt cáp tàu Viking đang hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, với ư đồ xấu xa là biến vùng đặc quyền kinh tế,vùng biển của Việt Nam thành vùng đang tranh chấp để thưc hiện cái gọi là gác bỏ tranh chấp để cùng nhau khai thác với ưu thế vượt trội của Trung Quốc; áp đặt thô bạo đường lưỡi ḅ 9 đoạn trên Biển Đông mà không có cơ sở lịch sử, pháp lư nào. Việc làm này đă ngăn cản tự do hàng hải, đang bị các nước lên tiếng phản đối. Các hành vi nêu trên của Trung Quốc đă vi phạm nghiêm trọng Luật Biển và Công ước về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 của Liên Hiệp Quốc mà Trung Quốc là thành viên Thường Trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, vi phạm tuyên bố về ứng xử trên Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc và ASEAN đă kư năm 2002.

3. Mới đây Trung Quốc lại điều tàu chiến Hải tuần 31 qua Biển Đông, tổ chức tập trận để đe dọa Việt Nam, Philippines và các nước khác ở Đông Nam Á. Những hành động ngang ngược, phô trương lực lượng này đă tạo nên không khí căng thẳng, phá hoại ḥa b́nh, ổn định và an ninh trong toàn khu vực Châu Á Thái B́nh Dương và trên toàn thế giới, ngăn cản công cuộc xây dựng ḥa b́nh của các nước trong khu vực Đông Nam Á - Thái B́nh Dương, trong đó có ASEAN và Việt Nam. Các hành vi nêu trên của Trung Quốc là trái ngược hoàn toàn với những ǵ mà Trung Quốc đă tuyên bố với thế giới và với xu thế phát triển ḥa b́nh, tiến bộ của thời đại.

4. Những lời tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 08/06/2011 tại Nha Trang: “ Tiếp tục khẳng định mạnh mẽ và thể hiện ư chí quyết tâm cao nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển và hải đảo của Tổ Quốc”, đă đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam.

Chúng tôi long trọng tuyên bố:

1. Cực lực lên án và tố cáo trước dư luận trong và ngoài nước: Nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục có những hành động gây hấn nhằm xâm chiếm Biển Đông với tuyên bố chủ quyền đường lưỡi ḅ 9 đoạn và Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam; bắt bớ cướp bóc, phá hoại tàu bè của ngư dân Việt Nam; cắt cáp tàu thăm ḍ dầu khí của Việt Nam với ư đồ biến vùng đặc quyền kinh tế, vùng biển của Việt Nam thành vùng tranh chấp để Trung Quốc hưởng lợi; diễn tập quân sự, điều tàu chiến lớn đến Biển Đông, đe dọa ḥa b́nh an ninh trong khu vực.

2. Chúng tôi ủng hộ những phát biểu mạnh mẽ, hợp ḷng dân của những nhà lănh đạo cao nhất của nhà nước Việt Nam và rất mong các nhà lănh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị và xă hội, các ban ngành đoàn thể Việt Nam nhanh chóng có những biện pháp tích cực và hữu hiệu hơn nữa nhằm bảo vệ ngư dân, bảo vệ các tàu thăm ḍ dầu khí. Chúng ta yêu chuộng ḥa b́nh, nhưng kiên quyết không để một tấc đất, một vùng biển, đảo nào lọt vào tay bất cứ một nước ngoài nào như Chủ tịch Nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết nhiều lần phát biểu khẳng định.

3. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân. V́ vậy bên cạnh biện pháp chính trị, quân sự và ngoại giao, biện pháp đấu tranh hiệu quả nhất vẫn là phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc, của tất cả mọi người Việt Nam yêu nước ở trong nước cũng như ở ngoài nước nhằm chống lại những hành động ngang ngược gây hấn, xăm lấn của nhà cầm quyền Trung Quốc, bảo vệ nền độc lập chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ của Tổ quốc Việt Nam mà bao đời ông cha đă gầy dựng, ǵn giữ.

4. Chúng tôi nghĩ rằng không v́ lư do ǵ ngăn chặn những hành động yêu nước của nhân dân bao gồm các cuộc biểu t́nh, mít tinh ôn ḥa, trật tự của thanh niên, sinh viên học sinh và đồng bào Việt Nam trên toàn quốc.

Trong suốt quá tŕnh lịch sử dựng nước và giữ nước, nối tiếp biết bao thế hệ cha ông chúng ta đă khắc sâu lời thề: “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh”. Dựa vào sức mạnh của nhân dân là chính, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng. Chính nhờ vậy mà Tổ quốc Việt Nam chúng ta đă trường tồn và độc lập đến ngày hôm nay.

Làm tại TP.HCM, ngày 25 tháng 06 năm 2011

Đồng kư tên

 

01

Ô. NGUYỄN Đ̀NH ĐẦU

- Nhà nghiên cứu sử địa học, chuyên gia về

Biển Đông

 

02

Ô. NGUYỄN TRỌNG VĨNH

- Thiếu tướng, lăo thành Cách Mạng

- Nguyên ủy viên Trung Ương Đảng Khóa 3

- Nguyên Đại Sứ Đặc Mệnh Toàn Quyền Việt Nam tại Trung Quốc

 

 

 

03

Ô. NGUYỄN HUỆ CHI

- Giáo sư Văn học, người sáng lập trang mạng Bauxite Việt Nam

 

 

 

04

Ô. NGUYỄN QUANG A

- Tiến sĩ

 

 

 

05

Ô. PHẠM TOÀN

- Nhà giáo, người sáng lập trang mạng Bauxite Việt Nam


06


Ô. CHU HẢO


- Giáo sư Tiến sĩ Nguyên Thứ Trưởng

Bộ Khoa Học Công Nghệ

07

Ô. NGUYỄN KHẮC MAI

- Nguyên vụ trưởng Ban Dân Vận Trung Ương

- Gíam Đốc Trung Tâm Minh Triết

08

Ô. PHAN Đ̀NH DIỆU

- Giáo sư Tiến sĩ

- Ủy viên Đoàn Chủ Tịch ủy ban Trung ương MTTQ VN

09

Bà TRẦN THỊ BĂNG THANH

- Phó GSTS , Viện Văn học Việt Nam


10
Ô. NGUYÊN NGỌC


- Nhà văn

- Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Đại Học Phan Chu Trinh – tỉnh Quảng Nam

11

Ô. HỒ NGỌC NHUẬN

- Nhà báo

- Nguyên Gíam Đốc chính trị nhật báo Tin Sáng

- Uỷ viên TW Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

- Phó chủ tịch Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc TP.HCM

12

Ô. LỮ PHƯƠNG

- Viết văn

- Nguyên thứ trưởng Bộ Văn Hóa Thông Tin Chính Phủ CM Lâm Thời Cộng Ḥa Miền Nam VN

13

Ô. NGUYỄN XUÂN DIỆN

- Tiến sĩ, Phó GĐ Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm VN

E-mail: lamkhanghn@yahoo.com.vn

14

Ni sư trưởng NGOẠT LIÊN

- Trụ tŕ tịnh xá Ngọc Phương

- Ủy viên Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo VN

- Ủy viên Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc VN

15

Ô. HUỲNH TẤN MẪM

- Bác sĩ Đại biểu Quốc Hội Khóa 6

- Nguyên chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên SG trước 1975

16

Ô. TRẦN QUỐC THUẬN

- Luật sư , Phó Ban Thường Trực Ban Liên Lạc Tù Chính Trị Việt Nam

- Nguyên Phó chủ nhiệm thường trực văn pḥng Quốc Hội Việt Nam .

17

18

Ô. TƯƠNG LAI

Ô. LÊ HIẾU ĐẰNG

- Gíao sư, Email: tnglai@gmail.com, DĐ: 0918739367

- Nguyên phó Tổng Thư Kư Uỷ Ban TW Liên Minh các lực lượng dân tộc, dân chủ & ḥa b́nh Việt Nam

- Nguyên phó chủ tịch UB MTTQ TP.HCM

- Đại biểu HĐND TP.HCM khóa 4&5

19

Ô. LÊ CÔNG GIÀU

- Cựu tù chính trị trước 1975

- Nguyên Phó Bí Thư thường trực Thành Đoàn TP.HCM

- Nguyên GĐ Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại & Đầu tư TP.HCM.

- Nguyên Phó Tổng GĐ Saigontourist

20

Ô. ANDRÉ MENRAS- HỒ CƯƠNG QUYẾT

- Cựu tù chính trị tại Việt Nam trước 1975

- Nhà giáo về hưu

21

Ô. PHẠM VĂN ĐỈNH

- Tiến sĩ quốc gia Pháp, chuyên ngành Vật Lí Khí Quyển

- Chủ tịch hội văn hóa Trịnh Công Sơn

- Thành viên hội đồng quản trị hội “Maison Vietnam” – Pháp

22

Ô. HÀ DƯƠNG TƯỜNG

- Nguyên giáo sư Đại học Công nghệ Compiègne (UTC, France)

23

Ô. NGUYỄN NGỌC GIAO

- Tiến sĩ Nguyên Giáo sư Đai học Paris 7

24

Ô. HÀ SỸ PHU

- Tiến sĩ Sinh Học ( Đà Lạt )

25

Ô. TRẦN VĂN LONG

- Cựu tù Côn Đảo trước 1975,

- Nguyên Phó Bí thư Thành Đoàn Tp.HCM

- Nguyên Tổng thư kí UB Vận động cải thiện chế độ lao tù - MNVN (trước 1975), Nguyên phó Tổng GĐ Saigontourist

26

Ô. NGÔ ĐỨC THỌ

- Phó GS TS ( Hà Nội ), nguyên cán bộ Viện Hán Nôm

27

Ô. HUỲNH NHẬT HẢI

- Nguyên Phó Chủ tịch UBND Thành Phố Đà Lạt

28

Ô. HUỲNH NHẬT TẤN

- Nguyên giám đốc Trường Đảng Tỉnh Lâm Đồng

29

30

Ô. BÙI MINH QUỐC

Ô. TIÊU DAO BẢO CỰ

- Nhà thơ, Nguyên chủ tịch Hội Văn Nghệ Lâm Đồng

- Nhà văn tự do ( Đà Lạt )

31

Ô. MAI THÁI LĨNH

- Nguyên phó chủ tịch HĐND Thành phố Đà Lạt

32

Ô. NGUYỄN QUANG NHÀN

- Cán bộ công đoàn Đà Lạt ( đă nghỉ hưu )

33

Bà TRẦN THỊ THANH BIÊN

- Nhà giáo ( đă nghỉ hưu )

34

Ô. KHA LƯƠNG NGĂI

- Nguyên Phó Tổng Biên Tập báo Sài G̣n Gỉai Phóng thuộc Thành Uỷ TP.HCM

35

Ô. HỒ TỊNH T̀NH

( HỒ THANH)

- Nguyên hiệu trưởng trường Phát Thanh Truyền H́nh TW 2  

36

Ô. HUỲNH KIM BÁU

- Nguyên Tổng Thư Kư Hội Trí Thức Yêu Nước TP.HCM (nay là Liên Hiệp các hội Khoa Học Kỹ Thuật TP.HCM )

37

Luật sư TRỊNH Đ̀NH BAN

- Nguyên Chủ Tịch Phong Trào Tự Trị Đại Học Miền Nam Việt Nam

- Nguyên thành viên Tổ Tư Vấn Chính Phủ nước CHXH Chủ Nghĩa Việt Nam

- Nguyên phó chủ tịch Hội Luật Gia TP.HCM

- Nguyên Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân TPHCM Khóa 3

38

Ô.NGUYỄN XUÂN LẬP

- Nguyên chủ tịch đoàn sinh viên Phật Tử Sài G̣n

- Nguyên Gíam Đốc Cty Dược TP.HCM ( SAPHARCO)

- Nguyên chủ tịch Hội Dược Học TP.HCM

39

Ni sư TUẤN LIÊN

- Phong trào đấu tranh trước 1975

40

Ni sư trưởng LIÊN HÀN LIÊN

- Phong trào đấu tranh trước 1975

41

Thích nữ TÍN LIÊN

- Uỷ viên TW Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

42

Ni sư THÍCH NỮ MINH LIÊN

- Uỷ viên Uỷ Ban Mặt Trận Tổ Quốc , quận G̣ Vấp

43

Ni sư Thích nữ LỆ LIÊN

- Phong trào đấu tranh trước 1975

44

Thích nữ H̉A LIÊN

- Uỷ viên Hội Liên Hiệp Phụ Nữ , quận G̣ Vấp

45

Thích nữ VIÊN LIÊN

- Tịnh xá Ngọc Phương

46

Ô.HẠ Đ̀NH NGUYÊN

- Nguyên Chủ Tịch Uỷ Ban Đấu Tranh thuộc Tổng Hội Sinh Viên Sài G̣n ( trước 1975)

47

Ô.PHAN LONG CÔN

- Nguyên Tổng Thư Kư Tổng Hội Sinh Viên Liên Viện Miền Nam VN (1967)

- Nguyên Chủ tịch Liên Hiệp Các Tổ Chức Hữu Nghị Phú Yên

48

Bà VƠ THỊ BẠCH TUYẾT

- Nguyên Gíam Đốc Sở Lao Động Thương Binh Xă Hội TP.HCM

49

Ô. NGUYỄN TRỌNG TẠO

- Nhà thơ, nhạc sĩ
50
Ô. TRẦN NHƯƠNG
- Nhà văn, họa sĩ
51

Ô. LƯ TRỰC DŨNG
- Họa sĩ

52

Ô. TRỊNH QUANG VŨ

- Họa sĩ

53

Ô. MAI THANH HẢI

- Blogger

54

Ô. HÀ THÚC HUY

- Tiến sĩ Hóa học Đại học KHTN

55

Ô. PHẠM QUỐC VỸ

- Bác sĩ, Nguyên ban đại diện SV Y Khoa Sài G̣n.

- Nguyên trưởng pḥng y tế LLTNXP

56

Ô. PHAN THANH HUÂN

- Luật sư

57

Ô. THÁI VĨNH TRINH

- Cựu tù Côn Đảo

58

Ô. VƯƠNG Đ̀NH CHỮ

- CLB Phaolo NGUYỄN VĂN B̀NH

59

Ô. Đ̀NH VƯỢNG

- CLB Phaolo NGUYỄN VĂN B̀NH

60

Ô. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

- Thanh niên Hà Nội

61

Bà HUỲNH THỊ KIM TUYẾN

- Nguyên Phó Tổng Thư Kư Hội Nhà Gíao Yêu Nước TP.HCM

- Nguyên Cán Bộ Ban Dân Vận Thành Uỷ

62

Ô. ĐẶNG NGỌC LỆ

- Phó giáo sư tiến sĩ , Chủ Tịch Hội Ngôn Ngữ Học TPHCM

- Trưởng Khoa Đông Phương Học – Trường Đại Học Văn Hiến

63

Ô. HUỲNH SƠN PHƯỚC

- Nguyên Phó Tổng Biên Tập Báo TUỔI TRẺ TP.HCM

64

Ô. NGUYỄN QUỐC THÁI

- Nhà Báo Nguyên Tổng Thư Kí báo Công Nghiệp

65

Ô. TRẦN MINH ĐỨC

- Nguyên Phó Tổng Biên Tập Báo Tuổi Trẻ TP.HCM

- Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị CTY CỔ PHẦN THẾ KỈ 21

66

Ô. CAO LẬP

- Cựu tù Chính trị Côn Đảo trước 1975

- Nguyên Gíam Đốc Làng Du Lịch B́nh Quới – Saigontourist

67

Ô. BÙI TIẾN AN

- Huynh trưởng hướng đạo

- Cựu tù Chính trị Côn Đảo trước 1975

68

Ô. NGUYỄN TUẤN KIỆT

- Nhạc sĩ

- Cựu tù Chính trị Côn Đảo trước 1975

69

Ô. ĐỖ TRUNG QUÂN

- Nhà thơ

70

Ô. NGUYÊN HẠO

- Họa sĩ

71

Ô. VŨ QUANG HÙNG

- Cựu tù Chính trị Côn Đảo trước 1975

- Nguyên Phó Tổng Biên Tập Báo Công An TPHCM

72

Ô. ĐỖ HỮU BÚT

- Nguyên trưởng Ban Tuyên Huấn Đảng Uỷ Sinh Viên Sài g̣n Gia Định

- Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh Sài G̣n Gia Định

73

Ô. TRẦN HƯNG ĐOÀN

- Nguyên Tổng Gíam Đốc cty SAVIMEX

74

Bà TRẦN THỊ KHÁNH

- Biên tập viên nhà xuất bản Trẻ TP.HCM  

75

Ô. NGUYỄN TẤN Á

- Nguyên quyền trưởng ty điện lực Phú Yên (trước 1975)

- Nguyên Tổng Thư Kí Tổng Hội Sinh Viên Sài G̣n 1964

76

Bà HUỲNH QUANG THƯ

- Nguyên Tổng Thư Kí Tổng Hội Sinh Viên Sài G̣n 1968

77

Ô. THIỀU HOÀNH CHÍ

- Bác sĩ

78

Ô. HUỲNH NGỌC CƯƠNG

- Dược sĩ

- Gíam đốc công ty Dược Phú Thọ

79

Bà TRƯƠNG HỒNG LIÊN

- Nguyên cán bộ Thành Đoàn TP.HCM

80

Bà HUỲNH MINH NGUYỆT

- Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh Sài G̣n Gia Định

81

Bà NGUYỄN THỊ XUÂN DUNG

- Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh Sài G̣n Gia Định

82

Bà TẠ THỊ TƯƠI

- Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh

Sài G̣n Gia Định

83

Bà NGUYỄN THỊ TRUYỀN

- Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh

Sài G̣n Gia Định
84
Ô. HỒ HIẾU
- Nguyên chánh Văn pḥng ban Dân vận Thành Ùy TP.HCM

85

Ô. LÊ THÂN

- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Cựu tù Côn đảo trước 1975

86

Ô. HOÀNG TIẾN CƯỜNG

- Hà Nội
87
Bà CAO THỊ VŨ HƯƠNG

- Hà Nội
88
Ô. NGUYỄN QUANG THẠCH
- Sáng lập Tủ sách ḍng họ ở nông thôn
89

Ô. LÊ TUẤN ANH
- Hà Nội
90
Bà ĐẶNG BÍCH PHƯƠNG
- Hà Nội 

 

Trung Quốc rất ngạc nhiên trước phản ứng của Việt Nam’

Posted on June 24, 2011

Trước bối cảnh những tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông ngày càng trở nên căng thẳng, buổi hội thảo có tên “An Ninh Hàng Hải Biển Đông” do Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế Hoa Kỳ (CSIS) tổ chức tại Hoa Thịnh Đốn vào hai ngày 20 và 21 tháng 6 đă thu hút khoảng 200 người tham dự, trong đó gần một nửa là các nhà nghiên cứu tầm cỡ quốc tế và nhiều viên chức cao cấp của các quốc gia liên quan trực tiếp và không trực tiếp như Việt Nam, Trung Quốc, Phi Luật Tân, Ấn Độ, Nhật Bản, Indonesia v.v…

Trong gần hai ngày làm việc liên tục với một thời khóa biểu dầy đặc, những bài thuyết tŕnh của các diễn giả được xen kẽ với phần thảo luận sôi nổi, căng thẳng, qua đó cả cử tọa lẫn diễn giả đă nêu câu hỏi với nhau và đặt vấn đề về quyền lợi, vị trí của các nước, những sự kiện dẫn tới t́nh h́nh căng thẳng hiện nay, và cùng xem xét những đề nghị để có thể hóa giải quyết những tranh chấp ngày càng leo thang này.

Phần tŕnh bày của Giáo Sư Su Hao, phó giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế, trường Đại Học Ngoại Giao, Bắc Kinh, mở đầu cho tiêu đề “Quyền lợi và lập trường của các bên tại biển Đông,” đă tạo nhiều tranh căi sôi nổi nhất. Có tất cả là 3 diễn giả cho tiêu đề này, nhưng hầu hết những câu hỏi được đặt ra trong phần thảo luận theo sau đều nhắm vào Giáo Sư Su Hao, đến nỗi người dẫn chương tŕnh là ông Ernest Bower đă phải kêu lên là “buổi hội thảo sáng nay vô t́nh đă biến thành the Su Hao’s conference.”

Bài thuyết tŕnh của các diễn giả đến từ Việt Nam là Tiến Sĩ Trần Trường Thủy, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Biển Đông, thuộc Học Viện Quan Hệ Quốc Tế, và Tiến Sĩ Đặng Đ́nh Quư, giám đốc Học Viện Ngoại Giao, Luật Sư Nguyễn Duy Chiến – Trung Tâm Nghiên Cứu Biển Đông thuộc Học Viện Ngoại Giao Việt Nam cũng tạo được nhiều chú ư.

Phần phỏng vấn của phóng viên Hà Giang của nhật báo Người Việt với Giáo Sư Su Hao, Tiến Sĩ Trần Trường Thủy, Luật Sư Nguyễn Duy Chiến, và nhiều diễn giả khác trước và sau cuộc hội thảo sẽ lần lượt được tường thuật trên Người Việt, trong nhiều số báo liên tiếp.

Dưới đây là phần phỏng vấn Giáo sư Su Hao, phó giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế, trường Đại Học Ngoại Giao, Bắc Kinh, ngay sau phần thảo luận về tiêu đề “Quyền lợi và lập trường của các bên tại biển Đông.”

Hà Giang: Thưa giáo sư, trước buổi hội thảo này khoảng hơn một tuần, Bắc Kinh lên tiếng yêu cầu những nước không liên quan (ám chỉ Hoa Kỳ) đừng can dự vào tranh chấp Biển Đông. Nhưng trong phần thuyết tŕnh của giáo sư vừa rồi, ông kêu gọi sự giúp đỡ của Hoa Kỳ trong việc làm ổn định t́nh h́nh, nhưng ở đoạn kết luận của bài ông lại nói một trong ba điều có thể làm trở ngại việc ổn định t́nh h́nh Đông Nam Á là “sự xen vào của Mỹ”. Có mâu thuẫn nào không, thưa ông?

GS Su Hao: Vâng, Hoa Kỳ là một nước không liên quan đến tranh chấp trong vùng Biển Đông, nhưng v́ là một cường quốc, Hoa Kỳ có những quyền lợi chung với những nước thành viên của ASEAN. Trung Quốc mong có sự tiếp tay của Hoa Kỳ như một đối tác trong việc ổn định an ninh cũng như hợp tác với nhau trong vùng, v́ các nước nhỏ thường cảm thấy không an tâm với sự lớn mạnh của Trung Quốc. Chúng tôi hoan nghênh việc Hoa Kỳ giúp cho t́nh h́nh ổn định hơn. Vấn đề là đôi khi sự có mặt của Hoa Kỳ làm một số quốc gia trở nên hung hăn hơn.

Hà Giang: Giáo sư nhắc đến từ “hung hăn,” th́ qua buổi thảo luận vừa rồi, giáo sư cũng thấy là hai chữ hung hăn được nhiều học giả và giới phân tích dành cho Trung Quốc, nhất là qua sự kiện Trung Quốc vừa hai lần cắt dây cáp của các tàu Việt Nam ngay bên trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Ông nghĩ sao khi các nước cho rằng chính Trung Quốc mới hành xử một cách hung hăng?

GS Su Hao: Chúng tôi cắt dây cáp, nhưng dây cáp này nằm ở đâu? Lănh hải của Trung Quốc và Việt Nam chồng chéo lên nhau. Và trong quá khứ, chúng tôi đă từng làm như thế khi tàu Việt Nam đi đến vùng đánh cá của chúng tôi, đi vào vùng biển của chúng tôi, nhưng lần này Việt Nam phản ứng rất dữ dội hơn hẳn với truyền thống hành xử của họ. Chúng tôi hết sức ngạc nhiên trước phản ứng này.

Hà Giang: Xin hỏi lại, theo ông th́ Trung Quốc rất ngạc nhiên trước phản ứng mạnh mẽ vừa rồi của Việt Nam khi hai lần bị cắt dây cáp, có phải không ạ?

GS Su Hao: Đúng như vậy!

Khi buổi họp tiếp diễn ngày thứ hai, nhiều học giả và đại diện các bên tiếp tục cho rằng Trung Quốc phải chịu trách nhiệm v́ sự hung hăn, hiếu chiến của ḿnh.

Thậm chí Tiến Sĩ Stein Tonneson, học giả thuộc Học Viện Ḥa B́nh Hoa Kỳ (United States Institute or Peace) nhắn nhủ thẳng với Giáo sư Su Hao là khi về nước nên khuyên chính quyền Trung Quốc xét kỹ lại chính sách sai lầm của ḿnh, và tôn trọng UNCLOS cũng như những nước láng giềng. Nhật báo Người Việt thực hiện cuộc phỏng vấn thứ hai với Giáo Sư Su Hao sau khi buổi hội thảo kết thúc để t́m hiểu về quan niệm của ông đối với các vấn đề Biển Đông.

Hà Giang: Thưa giáo sư, ông nghĩ ǵ về buổi hội thảo, nhất là sự kiện Trung Quốc bị đa số cho là nguyên nhân chính đưa tranh chấp của Biển Đông đến t́nh trạng nóng bỏng hiện nay, v́ thái độ hung hăng, hiếu chiến với các nước láng giềng trong thời gian qua?

GS Su Hao: Tôi không nghĩ là Trung Quốc hung hăn tí nào cả. Không hiểu tại sao những người đứng ngoài cuộc tranh chấp lại cứ thấy bất cứ hành động nào của Trung Quốc cũng là hung hăn, mà không thấy là những người láng giềng kia giờ này mới chính là nguyên nhân làm leo thang sự căng thẳng. Hy vọng một ngày người ta sẽ hiểu rơ sự thật. Tôi nói điều này với tất cả sự thông cảm rằng chủ quyền quốc gia là một vấn đề nhậy cảm, cả ở Việt Nam lẫn ở Trung Quốc.

Hà Giang: Những người cho là Trung Quốc hung hăn có thể đơn cử việc Trung Quốc cắt dây cáp, việc Trung Quốc đánh phá tàu ngư dân Việt Nam, bắt giữ họ, việc Trung Quốc ra lệnh cấm đánh cá đơn phương trong vùng biển chung. Vậy giáo sư có thể đưa ra một vài thí dụ cụ thể về những hành động làm căng thẳng t́nh h́nh của các nước láng giềng không?

GS Su Hao: Như tôi đă nói hôm qua, các nước láng giềng đă có những phản ứng mạnh hơn cả những phản ứng truyền thống trước kia của họ.

Hà Giang: Trở lại với cuộc hội thảo, ông có nhận xét ǵ, và đă rút tỉa ra được những điều ǵ đặc biệt trong hai ngày qua thưa ông?

GS Su Hao: Tôi nghĩ rằng buổi hội thảo khiến mọi bên có dịp nói ra quan điểm và lập trường của ḿnh, khiến mọi bên hiểu nhau nhiều hơn. Tôi thấy giữa chúng tôi c̣n nhiều khác biệt, và cả những lời chỉ trích cũng tốt nữa, và từ đó mới t́m ra được điểm chung, là mọi người đều muốn t́nh h́nh trong vùng ổn định. Lần sau khi chúng tôi ngồi xuống thảo luận, chẳng hạn giữa Trung Quốc và Việt Nam, tôi hy vọng chúng tôi có thể b́nh thản hơn, dùng lư trí hơn để bàn bạc.

Hà Giang: Khi trở về Bắc Kinh, ông dự định sẽ đề nghị ǵ với các học giả khác, và với chính quyền Trung Quốc.

GS Su Hao: Thật ra tôi chưa sẵn sàng và chưa quyết định được là ḿnh sẽ đề nghị ǵ cả, v́ cần thời giờ để suy nghĩ thêm.

Hà Giang: Theo giáo sư th́ tranh chấp Biển Đông có triển vọng được giải quyết ổn thỏa không? Cụ thể hơn, ông có nghĩ là sau này Bắc Kinh sẽ hành xử sao cho bớt bị đánh giá là hung hăng đi không?

GS Su Hao: Vấn đề chủ quyền quốc gia rất nhậy cảm, rất phức tạp, đụng đến nó th́ không ai b́nh tĩnh được. Tuy thế tôi nghĩ là nếu mọi bên ngồi xuống một cách b́nh thản th́ có thể t́m cách giải quyết vấn đề được. Tôi không cho là Bắc Kinh hung hăn, mà phải nói là chính quyền Trung Quốc rất vừa phải, rất biết kiềm chế. Hy vọng là các nước láng giềng cũng sẽ biết kiềm chế.

Tôi có một nhận xét nữa là tuy Hoa Kỳ không là một quốc gia liên quan trong tranh chấp Biển Đông, nhưng cuộc hội thảo này lại được tổ chức trên đất Hoa Kỳ. Tôi đoán có lẽ v́ Hoa Kỳ là một cường quốc, cho nên quyền lợi của họ nằm ở khắp nơi. Hai nữa, tôi không hiểu tại sao tôi là diễn giả duy nhất từ Bắc Kinh được mời đến, trong khi đó Việt Nam được mời đến những ba diễn giả và nhiều viên chức của họ cũng đến tham dự. Điều này khá lư thú.

Hà Giang: Cám ơn ông đă dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

Người Việt