1- BIỂN ĐÔNG CỦA BÁU NƯỚC TA

Nước Việt-Nam nằm cạnh Biển Đông. Lãnh-thổ và hải-phận Biển Đông là tài-sản tiền-nhân để lại cho dân-tộc ta.

 

1.1- KHÁI-QUÁT BIỂN ĐẢO VIỆT-NAM

Tài-liệu chính-thức từ giới-chức cầm-quyền Việt-Nam viết như sau:

Nước ta giáp với Biển Đông ở hai phía Đông và Nam. Vùng biển Việt Nam là một phần Biển Đông.

-        Bờ biển dài 3,260km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Như vậy cứ l00 km2 thì có l km bờ biển (trung bình của thế giới là 600km2 đất liền/1km bờ biển).

-        Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc-quyền kinh-tế và thềm lục-địa với diện tích trên 1 triệu km2 (gấp 3 diện tích đất liền, 330,000km2).

-        Trong đó có 2 quần đảo Hoàng-Sa, Trường-Sa và 2,577 đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển.

-        Có vị trí chiến lược quan trọng: nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung Đông. Giao lưu quốc tế thuận lợi, phát triển ngành biển.

-        Có khí hậu biển là vùng nhiệt đới tạo điều kiện cho sinh vật biển phát triển, tồn tại tốt.

-        Có tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú, đa dạng, quý hiếm.

-        26 tỉnh, thành phố ven biển chiếm 42% diện-tích và 45% số dân cả nước. Khoảng 15.5 triệu người sống ở đới bờ, 16 vạn người ở đảo.

* Vùng biển và hải đảo nước ta có vị trí chiến lược hết sức to lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, có liên quan trực tiếp đến sự phồn vinh của đất nước, đến văn minh và hạnh phúc của nhân dân.[1]

 

1.2- CỦA BÁU CỦA MỘT NƯỚC

"Của báu của một nước, không gì quý bằng đất đai: nhân-dân và của cải đều do đấy mà sinh ra". Đó là câu sử-gia Phan-Huy-Chú dùng mở đầu cho "Quyển 1 - Địa-dư-Chí". Toàn tập sách có nhiều quyển, được hoàn-thành năm 1820 mang tên là "Lịch-Triều Hiến-chương Loại-chí".[2] Ngày nay, danh-từ được nói một cách tổng-quát là "đất đai" như vậy cần kể thêm cả vùng trời và nhất là vùng biển bao la rộng lớn vây quanh nữa.

Hoàng-Sa mất, Trường-Sa đang bị xâm-lăng.

Năm 1974, quần-đảo Hoàng-Sa lọt hoàn-toàn vào tay Trung-Cộng.

Năm 1988, tức là sau đó 14 năm, nhiều vùng của Trường-Sa đã bị ngoại-lai xua quân xâm-lấn trắng trợn, đánh chìm tàu Việt-Nam, chiếm cứ hàng loạt hải-đảo của ta.

Năm 1994, Trung-Cộng ngang ngược ngăn-chặn cả việc khai-thác dầu khí ngay trên thềm lục-địa Việt-Nam, chèn ép phái-đoàn Việt-Nam cũng như các nước vùng Đông-Nam-Á (ĐNÁ) khác vào những thỏa-ước song-phương có lợi cho chúng.

Sang thiên-niên-kỷ mới 2000, Trung-Cộng thành-công khi áp-lực được CHXHCN Việt-Nam chấp-nhận một đường biên-giới mới trong Vịnh Bắc-Việt, thiệt-hại cho nước ta. “Hiệp định giữa nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về phần định lãnh hải, vùng đặc-quyền kinh-tế và thềm lục-địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ" đã được Quốc hội nước CNXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15-6-2004.

          Từ 2005, Việt-Nam và Phi-Luật-Tân đã bị buộc phải hợp tác để Trung-Cộng được ngang-nhiên thám-sát tài-nguyên một vùng rộng lớn 143,000 km2, sâu xuống tận cùng khu-vực cực nam của hải-phận ta.

          Năm nay 2007, Trung-Cộng vẫn tuyên-bố 80% Biển Đông hình Lưỡi Rồng (U shape hay 9 gạch) là của họ.

Nguy-cơ Việt-Nam mất thêm đảo và hải-phận Biển Đông cũng còn nguyên đó!

 

Hình 1. Biển Đông với Hoàng-Sa, Trường-Sa và một số địa-danh quan-trọng.

 

Vì nước nào có địa-phận nước ấy, người dân có bổn-phận giữ gìn lãnh-thổ cho được nguyên vẹn. Bờ cõi nước ta xưa nay bao gồm hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa. Chính-quyền nào của Việt-Nam cũng phải dồn nỗ-lực cho công-tác bảo-vệ di-sản của tiền-nhân. Ngoài việc phòng-thủ những đảo còn lại, quốc-sách cần bao gồm các kế-hoạch tái-lập chủ-quyền quốc-gia trên các đảo đã mất. Phần chính kế-hoạch này được bảo-mật nhưng phần chuẩn-bị cho kế-hoạch như huấn-luyện, điều-hành, tiếp-vận, tâm-lý-chiến, tình-báo, vận-động ngoại-giao v.v... phải phổ-biến đến mọi lực-lượng quân-sự, dân-sự, các cơ-sở ngoại-giao, hành-chánh... liên-hệ để tất cả sẵn sàng phối-hợp thi-hành ngay khi có biến-cố hay khi có cơ-hội thuận-tiện.

Dù sao chăng nữa, đi trước tất cả những kế-sách đó, mọi người Việt-Nam chúng ta cần được "trang-bị" ngay những kiến-thức địa-dư căn-bản về hai quần-đảo trên. Ý-nghĩ sắp-xếp công việc ưu-tiên như vậy cũng là ý của người xưa. Sử-gia Phan-huy-Chú đã quyết-định ấn-hành chương "Dư-địa-chí" trước 9 chương khác là Nhân-vật-chí, Quan-chức-chí, Lễ-nghi-chí, Khoa-mục-chí, Quốc-dụng-chí, Hình-luật-chí, Binh-chế-chí, Văn-tịch-chí và Bang-giao-chí. Ông viết một câu xác-đáng như sau: "...Vậy trước hết phải khảo-cứu những điều cốt yếu về bờ cõi lúc chia lúc hợp, núi sông chỗ hiểm, chỗ bằng, làm ra Dư-địa-chí chép lên đầu".

Cùng trong nhận-thức như vậy, nhiều học-giả Việt-Nam trước đây đã từng nói là "chính-quyền nên đem ngay vấn-đề Hoàng-Sa Trường-Sa vào trong chương-trình giáo-dục học-đường, hành-chánh và quân-sự"[3] Điều đề-nghị hợp-lý này đã được đưa ra từ hơn 20 năm về trước, xem ra chính-quyền lúc đó và cả chính-quyền ngày nay nữa cũng không mấy lưu-tâm.

Người Việt-Nam không muốn bị ngoại-bang bắt nạt, xâm-lấn. Dân ta chỉ tiến-bộ và nước ta chỉ phú-cường với một nền giáo-dục khai-phóng. Có lẽ vì thiếu tài-liệu để đọc, không mấy người dân trong nước nắm vững được những diễn-biến quân-sự ngoài Hoàng-Sa Trường-Sa. Tình-trạng còn mất, hiểm-nguy ngoài Biển Đông nếu bị bưng bít, chỉ có hại cho tiền-đồ Tổ-Quốc mà thôi.

Khi viết sách này, không những chúng tôi đã đi ra ngoài khuôn-khổ giáo-khoa mà còn muốn lạm-bàn thêm nhiều chuyện diễn-biến cận-đại. Lại nhằm lúc không-khí chiến-tranh còn vất-vưởng, đe doạ bao trùm Biển-Đông, nên dù bài viết mang nhan-đề "Địa-lý Biển Đông với Hoàng-Sa và Trường-Sa nhưng nhân cơ-hội, chúng tôi đã ghi thêm vào vài nét "chấm-phá" về địa-lý quân-sự. Sách viết cũng không nhằm việc tranh-cãi chủ-quyền lãnh-thổ trên trường quốc-tế nhưng vì sự tranh-chấp lãnh-hải hiện đang trong hồi quyết-liệt, chúng tôi cũng ước-lượng một số đường ranh giới về hải-phận theo với luật-pháp quốc-tế hiện-hành.

Trong vài trường-hợp ý-kiến chúng tôi đi hơi quá xa. Có thể những quan-niệm riêng rẽ của cá-nhân như vậy sẽ không được dùng khi mang ra tranh-tụng trên bàn thương-thảo quốc-tế. Tuy vậy các bản-đồ về ranh-giới hải-phận không phải hoàn-toàn giả-tưởng, ít nhiều chi-tiết sẽ là những mấu chốt suy-luận trợ giúp cho việc giải-đáp một số câu hỏi rắc rối về pháp-lý sau này.

 

1.2 – BIỂN ĐÔNG, SỰ SỐNG CÒN VIỆT-NAM

Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển, PGS. TS Ngô Doãn Vịnh cho rằng chúng ta phải “xây dựng chiến lược kinh tế biển cho đất nước, không thể nói khác, không thể chậm trễ hơn!” Trong bài viết bài “Chiến lược phát triển, Nhìn từ góc độ lý luận và thực tiễn” đề ngày 16/7/2004, nhiều câu rất xác-đáng như sau:

Việt Nam có hơn 3200km bờ biển, nước ta là một quốc gia ven biển, chịu tác động mạnh mẽ, trực tiếp từ các chiến lược khai thác biển của các nước trên thế giới và nhất là của các nước trong khu vực. Trong thế kỷ 21 người ta cho là thế kỷ của Biển. Các dân tộc đua nhau ra biển, giành giật lợi ích từ biển. Các quốc gia có biển đều xây dựng chiến lược khai thác biển cho mình. Các chiến lược gia cho rằng nếu nền kinh tế thế giới tăng trưởng với mức 6%/năm, dân số tăng khoảng 2%/năm và với trình độ công nghệ như hiện nay thì chỉ khoảng 20 năm nữa trên đất liền các nguồn tài nguyên sẽ bị cạn kiệt; với trình độ công nghệ như hiện thời thì không thể giải quyết được vấn đề đói nghèo, ô nhiễm môi trường, thất nghiệp… Vì thế nhân loại sẽ phải chuyển sang bốn hướng công nghệ mũi nhọn và một trong số đó là công nghệ đại dương. Trong bối cảnh đó ai ra biển trước người đó đỡ thiệt thòi hơn và có thể thu được lợi nhiều hơn từ biển. Đối với Việt Nam, trong khi công tác điều tra cơ bản về biển và ven bờ còn nhiều hạn chế, hiểu biết của chúng ta về các nước trong lĩnh vực khai thác biển cũng chưa thật nhiều, tiềm lực kinh tế cũng như khoa học công nghệ về biển chưa có gì đáng kể, thậm chí có thể nói là yếu mà chúng ta phải xây dựng chiến lược kinh tế biển cho đất nước, không thể nói khác, không thể chậm trễ hơn! vậy thì chúng ta phải làm sao đây? và làm như thế nào?

          Theo các tác-giả cuốn sách “Việt Nam - môi trường và cuộc sống”[4] cũng như hội-viên của “Hội Bảo Vệ Thiên Nhiên và Môi Trường Việt Nam”,[5] Biển Đông liên-hệ đến sự sống còn của dân ta. Các nguồn tài nguyên và môi trường biển và vùng bờ của đất nước có tầm quan trọng trực tiếp đối với hàng chục triệu người dân nông thôn, đặc biệt đối với hơn 17 triệu dân sống ở các huyện ven biển và các đảo ven bờ. Cho nên, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực bảo vệ và quản lý vùng bờ theo hướng hiệu quả và bền vững, với quan điểm là "nguồn lợi biển và tài nguyên bờ phải được sử dụng dài lâu, vừa thoả mãn được nhu cầu kinh tế trước mắt trong sức chống chịu của các hệ sinh thái, vừa duy trì được nguồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau.

          Cuốn sách kết-luận: “Thế kỷ XX con người đi lên trời và vẫn tiếp tục thám hiểm vũ trụ, còn thế kỷ XXI con người sẽ đi ra biển. Thế kỷ XXI là kỷ nguyên của biển và đại dương, biển sẽ là cứu tinh của cả thế giới. Vì biển là nơi dự trữ cuối cùng của loài người về lương thực, thực phẩm, nhiên nguyên liệu.”

          …Nhận diện "Việt Nam biển" cũng chính là bắt đầu một cách nhìn mới và đầy đủ về chân dung kinh tế Việt Nam. Đó là một Việt Nam mang sóng biển Đông hòa vào bể lớn của thương trường quốc tế theo cách tiếp cận phát triển bền vững.

          Người Tàu quan-niệm Biển Đông là “không-gian sinh-tồn” của dân-tộc họ, nên quyết-liệt giành giựt. Với chúng ta, sự quan-trọng “sinh tử tồn vong”, liên-hệ sống & chết giữa Biển Đông và dải đất hẹp Việt-Nam còn phải đặt cao hơn thế nữa mới đúng!

 

1.3 – TÀI-LIỆU ĐỊA-DƯ, NHỮNG YẾU-TỐ CHÍNH-XÁC

Tài-liệu địa-lý cũng như các tài-liệu khoa-học khác, cần chính-xác.

 

1.3.1 – SỰ CHÍNH-XÁC TRONG TÀI-LIỆU ĐỊA-LÝ

Những tài-liệu về địa-lý kể cả hoạt-động quân-sự dùng nơi bài viết này đã được chúng tôi lấy từ các thư-viện công-cộng vùng Bắc California, ai muốn đọc đều được. Dù sao chúng tôi cũng rất tự-chế mà không bàn đến các yếu-tố chiến-lược, chiến-thuật nếu xét rằng các yếu-tố này có thể nguy-hại đến an-ninh lãnh-thổ, nhân-mạng Việt-Nam...

Cho dù đã cố gắng sưu-tầm tài-liệu, chúng tôi không tránh khỏi khuyết-điểm và nhầm lẫn khi trình-bày những kiến-thức tương-đối mới lạ này, xin quý-vị lượng-thứ. Và... nhân-tiện đây cũng xin kêu gọi tất cả người Việt chúng ta cùng giúp nhau cẩn-trọng trong vài vấn-đề như sau:

- Địa-danh. Về phương-diện này, học-giả Võ-Long-Tê đã đặt vấn-đề từ hai thập-niên trước đây.[6] Những địa-danh như Tây-Sa, Nam-Sa, Vĩnh-Lạc v.v... của Trung-Hoa nên được sử-dụng một cách thận-trọng khi đề-cập đến chủ-quyền Việt-Nam. Như lời ao-ước của ông Võ-long-Tê, chúng tôi cũng đã thấy các địa-danh trong Biển Đông nên gọi theo các "đặc-danh thuần Việt". Được biết Tiến sĩ Địa mạo, chuyên sâu: Địa mạo biển Nguyễn-Hoàn đã chủ trì đề tài "Địa danh hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa" thuộc chương trình Biển Đông - Hải đảo, mã số BĐ - HĐ - 01, các năm 1997-1999.

Nếu giới hữu-quyền Việt-Nam lại tôn-trọng Luật Biển quốc-tế và các quy-ước quốc-tế khác mà vẽ được các bản-đồ hải-phận, xác-định được đảo ra Đảo, đá ra Đá, bãi nông, bãi ngầm v.v... thì thật là ích quốc lợi dân lắm vậy!

Những bản-đồ hay hải-đồ Biển Đông đầy đủ địa-danh Việt-Nam như vậy, đi kèm với những chi-tiết cần-thiết cũng làm chúng ta hãnh-diện với người nước ngoài và nhiều ít đóng góp thêm tài-liệu pháp-lý trong sự tuyên-bố chủ-quyền của dân ta trên biển.

Qua các tài-liệu trước đây, vì chúng tôi nhận ra những con số sai-lạc nên đã tự-ý dùng các hải-đồ khả-dụng ngày nay để ước-lượng cùng sửa chữa lại cho gần với thực-tế hơn. Tuy vậy, vài con số mà chúng tôi đưa ra trong tài-liệu này chỉ là những ước-lượng (một cách phỏng-định) do cá-nhân chúng tôi đơn-độc làm lấy nên có thể còn lầm-lẫn. Mong rằng các cơ-quan thẩm-quyền về đo đạc đưa ra những con số chính-xác làm tiêu-chuẩn sau này. Chỉ bằng cách công-bố những dữ-kiện, yếu-tố thật đúng đắn; những tập tài-liệu của chúng ta mới tạo được uy-tín cho Việt-Nam trên bàn tranh cãi quốc-tế.

Đơn-cử sau đây là những "con số" điển-hình mà chúng tôi đã ước-lượng, có thể cũng chưa hẳn chính-xác:

- Khoảng cách gần nhất từ quần-đảo Hoàng-Sa và đất liền Việt-Nam:

a- Đến Cù-lao Ré 123 hải-lý (hl.).

b- Đến đất liền Quảng-Ngãi 135 hải-lý.

Các tài-liệu Việt-ngữ đều cho những khoảng cách này xa hơn nhiều. Thường khoảng cách quần-đảo / đất liền hay được tính từ Hoàng-Sa tới Đà-Nẵng: là trên 200 hải-lý.

- Chiều dài bờ biển Việt-Nam thường được ghi là 2,500km, hay có khi giản-tiện là 2 ngàn cây-số. Những độ dài này quá ngắn so với sự thực. Chính-quyền hiện nay công-bố là Việt Nam có 3,260km bờ biển từ Móng Cái đến Hà Tiên, đôi khi ghi thêm phụ chú: trải qua 13 vĩ độ, từ 8o23' bắc đến 21o39' bắc.

Chúng tôi ước-lượng lại bằng cách dùng các hải-đồ tỷ-lệ lớn và lấy thước đo kéo dài vòng theo duyên-hải và thấy con số đạt được lớn hơn. Luật-gia Mark J. Valencia của East-West Center, Honolulu, khi tham-khảo tài-liệu, đã đưa ra một con số “đáng kinh-ngạc”: 2,828 hải-lý tức 5,237km đường ven biển.[7]

- Vị-trí biển Trường-Sa thường lúc xưa chỉ kể tới vĩ-độ 8o00' Bắc (N, Nord), chúng tôi đề-nghị ghi theo một số các tài-liệu quốc-tế cho rộng xuống phía Nam ít nhất 240 hải-lý nữa, tới vĩ-độ 4o00' Bắc. Trung-Cộng đã vẽ bản-đồ với vùng biển mà họ tự cho là có chủ-quyền xuống đến vĩ độ 3o20' Bắc. Tin tức năm 1993 cũng loan-tin họ thăm-dò dầu-hoả trên bãi cạn James Shoal (vĩ-độ 3o58' Bắc, kinh-độ 112o15' Đông).[8]

- Diện-tích và chiều cao của các đảo. Sự sai biệt có lẽ quá lớn ở những trị-số này. Các đảo thuộc Hoàng-Sa/Trường-Sa thường được ghi diện-tích tới nhiều cây số vuông. Sự thực, các đảo ngoài khơi Biển Đông rất nhỏ và riêng ở vùng Trường-Sa không có đảo nào lớn tới nửa cây số vuông. Về cao-độ, các đảo cũng hay được ghi quá cao như đảo Nam-Yết tới 20m (hay 61ft) chẳng hạn.

Tuy Nam-Yết đúng là một trong những đảo cao nhất quần đảo Trường-Sa nhưng đỉnh của đảo cũng chỉ vượt lên khỏi mặt biển chừng 5m mà thôi! Có thể một vài cây nhàu, cây bàng biển vươn lên trên mặt đảo khoảng 5, 7 thước nữa, nhưng thật ra không thể làm cao-độ của đảo tăng lên nhiều quá đến như vậy. Tàu bè phải tới thật gần mới nhận ra được những hòn đảo ngoài Biển Đông.

- Tổng-số các đảo. Tổng-số các đảo (island), đụn (dune), cồn (cay), đá (rock), bãi cạn, bãi ngầm (bank, shoal, reef)... thuộc Hoàng-Sa, nếu không đúng hệt như sách cổ Việt-Nam đã ghi là 130 thì cũng phải kể đến con số hàng trăm. Không thể vì lý-do không liệt-kê được hết các địa-danh mà người ta ghi một số lượng quá nhỏ. Chẳng hạn như nói "Tây-Sa 7 đảo, 9 đảo", kiểu như danh-từ "Thất-châu", "Cửu-châu" của Tàu dùng để gọi quần-đảo Hoàng-Sa trước đây. Trường-hợp ở quần-đảo Trường-Sa, số lượng đơn-vị đất đá như vậy còn lớn hơn nhiều. Những tài-liệu địa-chất viết: "quần-đảo Trường-Sa gồm có 9 đảo"[9] đã đưa ra một con số quá khiêm-tốn.

Chúng tôi xin nghiêng về sự ước-lượng "một cách tỉ-mỉ" với những con số lớn lao hợp-lý hơn, thay cho các số nhỏ bé vẫn dùng trong các tài-liệu địa-lý Việt-ngữ, Hoa-ngữ xưa nay.

Đơn-vị đất (land masses) đã được một số học-giả như Michael Bennett sử-dụng. Con số ước-lượng có tới 500 "đất" cho hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa.[10] Trong số đó, khoảng 100 đơn-vị đã được đặt tên.

 

1.3.2- YẾU-TỐ CHÍNH-XÁC DÙNG TRONG LUẬT BIỂN.

Tổng-số đảo hay đá, diện-tích và chiều cao của đảo hay đá cũng như chu-vi đảo, diện-tích lãnh-thổ, chiều dài bờ biển, tỷ-lệ bờ biển/ đất liền v.v... là những con số dùng để tính-toán trong việc quy-định các loại hải-phận theo Luật Biển LHQ. ngày nay.

Trong tương-lai cận kề, mọi quốc-gia dù chống đối hay đồng-ý việc thi-hành Luật Biển Liên-Hiệp-Quốc (Liên hợp-quốc – LHQ.) cũng đều sẽ chịu ảnh-hưởng chi-phối trực-tiếp hay gián-tiếp của những điều-luật này. Trong các sách viết về Luật Biển, thường là rất dầy, có những điều khoản ấn-định ranh giới hải-phận dựa trên vị-trí và tình-trạng các đảo, cồn, đụn, đá...; nghĩa là những đơn-vị đất đá "land masse" phù-hợp theo một số điều-kiện quy-định.

Số lượng nhiều ít "land masses" là một chuyện, quốc-gia chủ-quyền sẽ phải xác-định những đơn-vị nào đủ điều-kiện như một "hòn đảo" và "hòn đá", nghĩa là "thường-trực nổi lên mặt biển (permanently above sea level) ngay cả khi thủy-triều dâng lên tối đa. Đảo được kể theo pháp-lý như đất liền, kể cả hải-phận kinh-tế 200hl.

Đá chỉ có lãnh-hải 12hl. mà thôi. Đá giống đảo là nổi lên mặt biển thường-trực nhưng nhỏ bé và cằn cỗi, con người không thể sinh sống được. Điều-kiện này rất khó xác-định nên đã gây ra nhiều tranh-luận.

Tổng-số đảo hay đá, vị-trí, diện-tích và chiều cao của đảo hay đá cũng như chu-vi đảo, diện-tích lãnh-thổ, chiều dài bờ biển, tỷ-lệ đất/biển v.v... là những con số ảnh-hưởng nhiều ít dùng để tính-toán và quy-định hải-phận theo Luật Biển LHQ. ngày nay.

Tại vùng quần-đảo Trường-Sa, các "đơn-vị đất" được ước-lượng trong khoảng từ 300 đến 400. Dựa vào những tài-liệu địa-lý hiện-hữu, Viện Nghiên-Cứu Đông-Tây ở Hawaii cho rằng chỉ có 33 đơn-vị thường-trực nổi lên mặt biển, gồm có 26 đảo và 7 đá.

Bản-đồ Hoàng-Sa Trường-Sa với địa-danh cùng một số chi-tiết khác nữa xin được trình-bày trong những phần sau.

 

DANH-SÁCH CÁC ĐẢO VÀ ĐÁ TRƯỜNG-SA

thường-trực cao hơn mặt biển

Tên ghi trên hải đồ

Tên Việt-ngữ

Tọa độ

Quốc-gia cđ

Độ cao

TÊN ĐẢO (26)

 

 

 

 

ALICIA ANNIE REEF

Đá Suối Ngọc

09 25 N  115 25 E

 

C- 1.2m

AMBOYNA CAY ISL

Đảo An Bang

07 51 N  112 55 E

VN cđ

C- 2m

COMMODORE REEF

Đá Công Đo

08 20 N  115 25 E

Phi cđ (Rizal)

C-  .3m

FLAT ISLAND

Đảo Bình Nguyên

10 48 N  115 50 E

Phi cđ (Patag)

I-

GAVEN REEF

Đá Ga Ven

10 12 N  114 14 E

TC cđ (Nam Xun Jia)

D- 2m

GRIERSON REEF

Đá Grierson

09 53 N  114 35 E

VN cđ (cạnhSh-Tôn Đ)

C-

IRVING REEF

Đảo Cá Nhám

10 55 N  114 56 E

 

C-

ITU ABA ISLAND

Đảo Ba Bình

10 23 N  114 21 E

Đài-Loan cđ

I- 4.8m

LANKIAM CAY

Đảo “Lankiam”

10 43 N  114 31 E

Phi cđ (Panata)

C-

LEN DAO (Lansdown Reef)

Đảo Len

09 46 N  114 22 E

VN cđ

D-

LOAITA CAY (Losita Nan)

Đá Loại Ta

10 41 N  114 25 E

(cạnh đ. Loại-ta)

C-

LOAITA ISLAND

Đảo Loại Ta

10 41 N  114 25 E

Phi cđ  (Kota)

I- 2m

MARIVELES REEF

Đá Kỳ Vân

07 59 N  113 50 E

Malesia cđ

C- 1.5m

NAMYIT ISLAND

Đảo Nam Yết

10 11 N  114 22 E

VN cđ

I- 5m

NANSHAN ISLAND

Đảo Vĩnh Viễn

10 43 N  115 49 E

Phi cđ  (Lawak)

I- 2.5m

NORTH EAST CAY

Đảo Song Tử Đông

11 27 N  114 21 E

Phi cđ (Parola)

C- 3m

PEARSON REEF NE

Hòn Síp (Hòn Sáp?)

08 58 N  113 40 E

VN cđ

C- 2m

PEARSON REEF SW

Hòn Sáp (Hòn Síp?)

08 55 N  113 35 E

VN cđ

C- 1m

SAND CAY

Đảo Sơn Ca

10 23 N  114 28 E

VN cđ

C- 3m

SANDY CAY

Đảo “Sandy”

11 03 N  114 13 E

 

C-

SIN COWE ISLAND

Đảo Sinh Tồn

09 51 N  114 22 E

VN cđ

I- 2.5m

SOUTHWEST CAY

Đảo Song Tử Tây

11 26 N  114 19 E

VN cđ

C-

SPRATLY ISLAND

Đảo Trường-Sa

08 38 N  111 55 E

VN cđ

I- 2.5m

THI-TU ISLAND

Đảo Thị Tứ

11 03 N  114 17 E

Phi cđ (Pagasa)

I-

WEST REEF-Thuộc LondonRfs

Đá Tây

08 51 N  112 12 E

VN cđ

C-  .6m

WEST YORK ISLAND

Đảo Bến Lộc

11 05 N  115 01 E

Phi cđ (Licas)

I-

TÊN ĐÁ (7)

 

 

 

 

BARQUE CANADA SHOAL

Bãi Thuyền Chài

03 12 N  113 19 E

VN cđ

R- 4.5m

DISCOVERY GREAT REEF

Đá Lớn

10 01 N  113 51 E

VN cđ

R-

EAST REEF-Thuộc LondonRfs

Đá Đông

08 49 N  112 33 E

VN cđ

R-  .6m

FIERY CROSS REEF

Đá Chữ Thập

09 38 N  112 57 E

TC cđ (Yung Shu Jiao)

R-

LOUISA REEF

Đá Louisa

06 00 N  113 16 E

 

R- 1.0m

ROYAL CHARLOTTE REEF

Đá Sắc Lốt

07 00 N  113 35 E

 

R-  .6m

SWALLOW REEF

Đá Hoa Lau

07 22 N  113 49 E

Malaysia cđ

R- 1.5m

 

*Chữ viết tắt; cđ=chiếm đóng (có quân trú-phòng), VN=Việt-Nam, TC-Trung-Cộng.

*Đảo được tính chủ-quyền hải-phận và vùng kinh-tế EEZ (200 hl).  Đá chỉ tính lãnh-hải 12 hl.

*Tài-liệu lấy trong Ocean  Yearbook 10, 1993 liệt-kê thành 3 loại: (9) Island, (15) Cay, (2) Dune, (7) Rock; viết tắt là I, C, D, R

Hình 2. Bảng liệt-kê các đảo và đá thuộc quần-đảo Trường-Sa.