Sát sanh (giết chết mạng sống) là một vấn đề rất tinh tế. Về vấn đề nầy, chúng tôi rất nghiêm khắc đối với những người tu. Người tu không được sát sanh! Không kể là trường phái Phật hay Đạo hay Kỳ môn, không kể là môn nào hay phái nào miễn là tu luyện trong chánh pháp, tất cả đều đối xử vấn đề nầy một cách tuyệt đối. Không được giết chết mạng sống, điểm đó là nhất định. V́ kết quả của nó quá nghiêm trọng, chúng tôi phải nói với quí vị trong chi tiết. Vào thời Phật giáo nguyên thủy, sự sát sanh là nói đến giết chết một mạng người, đó là trường hợp nặng nhất. Về sau nầy, giết chết những sanh mạng to lớn, hoặc những con gia súc to lớn, hoặc những con vật tương đối to lớn, đều bị xem là quan trọng. Tại sao, trong giới tu luyện, người ta cho sự sát sanh là quan trọng như vậy? Trong quá khứ, Phật giáo nói rằng, nếu những sanh mạng lẽ ra không phải chết mà bị giết chết, chúng sẽ trở thành những hồn ma cô đơn trôi nổi. Ngày xưa người ta làm những buổi lễ cầu siêu, đó là làm cho những linh hồn của những người nầy. Nếu không có những buổi lễ cầu siêu nầy, các linh hồn nầy sẽ bị đói khát và sẽ trong một t́nh trạng rất khốn khổ. Điều nầy đă được Phật giáo nói trước kia.
Chúng tôi nói rằng khi một người làm một điều ǵ không tốt đối với một người khác, họ phải trả cho người nầy một khối khá lớn Đức của họ để đền bù. Những điều không tốt mà chúng tôi nói ở đây, nói chung, là như sự chiếm đoạt những thứ thuộc về của người khác, v.v. Nhưng nếu một mạng sống th́nh ĺnh bị cắt đứt, dù đó là một động vật hay là một sanh vật cũng vậy, nó sẽ tạo nên một cái nghiệp lực khá lớn. Sự sát sanh trước kia chủ yếu là nói về thứ nhất là giết người, điều nầy sẽ tạo nên một cái nghiệp lực to lớn nhất. Nhưng sát sanh những sanh mạng khác cũng là một tội không nhỏ, nó trực tiếp tạo nên một cái nghiệp lực rất to. Nhất là đối với một người tu, một số khổ nạn đă được an bài nơi mỗi giai đoạn của con đường tu của họ. Tất cả những thứ đó đều là do nơi nghiệp lực của chính quí vị và là những khổ nạn của chính quí vị, chúng được an bài lại ở những cấp khác nhau để cho quí vị tự thăng tiến. Quí vị chỉ cần chịu nâng cao Tâm tính của ḿnh lên là quí vị có thể vượt qua chúng. Nhưng nếu th́nh ĺnh quí vị bị có thêm một khối nghiệp lực lớn như vậy, làm sao quí vị có thể vượt qua nổi? Với tŕnh độ Tâm tính của quí vị, quí vị sẽ không thể nào vượt qua được và chúng sẽ làm cho quí vị không c̣n có thể tu luyện được nữa.
Chúng tôi đă thấy rằng khi một con người được sanh ra, nơi không gian vũ trụ nầy trong một giới hạn nhất định, có nhiều con người của họ đồng thời được sanh ra. Chúng cũng có h́nh dáng y như họ, cũng có cùng tên và làm những việc tương tợ như họ. V́ vậy tất cả có thể được xem như là thành phần của cái tổng thể của họ. Điều đó đưa đến vấn đề như sau: Nếu một con người (đối với những con vật lớn cũng vậy) bị giết chết đi th́nh ĺnh, trong khi những phần tử khác của họ ở rải rác trong những không gian khác chưa đi hết con đường đời đă được ấn định cho họ và họ c̣n được nhiều năm sống, vậy th́ người chết đó sẽ bị lâm vào một t́nh trạng là không nơi qui trú, họ sẽ bị trôi nổi trong ṿng không gian vũ trụ. Trước kia người ta diễn tả những hồn ma cô đơn không nơi trú ngụ, đói khát và rất đau khổ, có thể đó là những trường hợp như vậy. Chúng tôi quả thật nh́n thấy t́nh trạng khốn khổ vô cùng của họ v́ họ phải chờ đợi, chờ đợi cho đến khi nào tất cả các thành phần khác của họ rải rác ở các cơi không gian khác cuối cùng đều hoàn tất con đường đời của chúng, để có thể cùng nhau t́m được nơi qui trú. Thời gian càng kéo dài, họ càng phải chịu đau khổ. Và họ càng chịu đau khổ th́ cái nghiệp đă tạo ra sự đau khổ đó của họ càng đè nặng lên người đă giết họ. Xin hăy suy nghĩ, bao nhiêu là khối nghiệp lực quí vị bị tăng thêm. Đó là điều mà chúng tôi đă nh́n thấy bằng huyền năng Gong.
Chúng tôi cũng nh́n thấy một điều như thế nầy: Vào lúc một con người chào đời, nơi một cơi không gian nhất định đă thấy xuất hiện trọn vẹn con đường đời của họ. Nói một cách khác, trọn cuộc đời của họ đă ở nơi đó, họ sẽ sống ra sao và họ sẽ làm những ǵ. Ai đă an bài ḍng đời của người đó? Dĩ nhiên, đó là có các đấng bề trên đặc trách về công việc đó. Ví dụ, sau khi sanh ra đời, người đó sẽ thuộc về một gia đ́nh đó, một trường học đó và một sở làm đó sau khi anh ta trưởng thành trong xă hội người thường. Qua công ăn việc làm, anh ta sẽ có những liên hệ với xă hội trong mọi địa hạt. Đó có nghĩa là toàn thể xă hội đă được qui định trước bằng cách như vậy. Nhưng, v́ người nầy bị chết đi th́nh ĺnh, trái ngược với những sự đă qui định và mọi sự phải thay đổi. Vậy người đă tạo ra sự rắc rối nầy sẽ không được bề trên tha thứ. Vậy xin quí vị hăy suy nghĩ. Là người tu, chúng ta muốn tu luyện để lên cao tầng. Nhưng nếu các đấng bề trên không tha thứ cho kẻ giết người, quí vị nghĩ xem, người đó c̣n có thể tu luyện được nữa không? Có những người có một vị thầy mà tŕnh độ thấp hơn tŕnh độ của các bậc bề trên đă làm ra sự qui định đó, vậy th́ cả vị thầy của họ cũng sẽ phải gánh lấy hậu quả và sẽ bị xuống cấp. Xin quí vị hăy suy nghĩ, phải chăng đó là một vấn đề tầm thường? Như vậy, một người thật rất khó tu luyện một khi họ đă làm ra chuyện như vậy.
Trong những người tu Pháp Luân Đại Pháp, có lẽ có người đă tham gia đánh trận trong những năm giặc giă. Những giặc giă đó sự thật là một t́nh trạng gây nên bởi sự thay đổi lớn của toàn thể thiên tượng, và quí vị chỉ là một phần tử trong t́nh trạng đó. Nếu không có sự tham gia của con người trong lúc thiên tượng thay đổi th́ sẽ không có sự thay đổi trong xă hội con người, như vậy th́ không c̣n được gọi là thiên tượng thay đổi. Những sự việc như vậy đă biến chuyển theo những thay đổi lớn của thiên tượng và không phải hoàn toàn là lỗi của quí vị. Điều mà chúng tôi nói ở đây là cái nghiệp lực gây nên bởi những việc làm xấu v́ quyền lợi cá nhân hoặc v́ những điều thuộc về cá nhân, người ta bị thúc đẩy phải làm với bất cứ giá nào để tránh bị thiệt tḥi. Không phải lỗi của quí vị những ǵ thuộc về toàn thể không gian vũ trụ thay đổi và về những phát triển lớn của xă hội.
Giết chết sanh mạng là đưa đến một cái nghiệp lực lớn lao. Có người nghĩ như thế nầy: Chúng ta không được phép sát sanh, nhưng tôi làm bếp cho cả gia đ́nh, nếu tôi không làm như vậy th́ mọi người sẽ ăn ǵ? Tôi không lo đến vấn đề thực tế đó. Tôi có mặt nơi đây không phải là để nói với quí vị làm sao sống một đời sống người thường. Tôi có mặt nơi đây là để dạy Pháp cho những người tu. Quí vị phải làm sao để giải quyết các vấn đề thực tế? Phải đo lường chúng với Đại Pháp. Quí vị chỉ cần hành động theo cách mà quí vị cho là đúng nhất. Những người thường hành động tùy ư của họ, đó là vấn đề của người thường. Không thể nào mà mọi người đều chân thành tu luyện. Tuy nhiên, là người tu, người ta phải nghiêm khắc đối với chính ḿnh theo những tiêu chuẩn cao. Đây là một trong những điều kiện mà chúng tôi bắt buộc nơi người tu.
Hơn nữa, không riêng chỉ có con người và con thú, các cây cối cũng đều có sự sống. Mọi vật chất đều chứng tỏ có sự sống nơi các không gian khác. Khi Thiên nhăn của quí vị đạt đến tŕnh độ Pháp nhăn, quí vị sẽ thấy rằng mọi vật kể cả đá và tường đều có thể nói chuyện và chào mừng quí vị. Có người có thể nghĩ rằng: Nếu như vậy, phải chăng các loại lúa gạo và rau cải mà chúng ta ăn cũng đều có sự sống, và hơn nữa, chúng ta phải làm sao đối với những con ruồi muỗi trong nhà? Mùa hè, muỗi chích cũng khá đau. Phải chăng chúng ta phải để cho chúng chích mà không phản ứng, hoặc nh́n những con ruồi bu đậu trên đồ ăn mà không thể đập chúng? Tôi xin nói với quí vị rằng chúng ta không thể tùy tiện vô cớ giết chết những sanh mạng, nhưng chúng ta cũng không thể như những người cẩn thận thái quá, luôn luôn chú ư đến những tiểu tiết, sợ đạp chết kiến trong khi bước đi nên vừa đi vừa nhảy nhót. Tôi phải nói với quí vị rằng như vậy quí vị sống một cuộc đời quá nhọc nhằn, vả lại đó phải chăng cũng là một sự ràng buộc? Quí vị vừa đi vừa nhảy nhót, có thể là quí vị không đạp chết kiến, nhưng quí vị lại làm chết vô số con vi trùng. Nh́n ở khía cạnh vi tế, có rất nhiều những sinh vật nhỏ nhít, kể cả những con vi trùng và siêu vi trùng, có thể quí vị đă đạp chết một số rất lớn. Như vậy th́ chúng ta không c̣n có thể sống được. Chúng ta không nên sống một cách như vậy, nếu không chúng ta sẽ không thể tu luyện. Chúng ta phải nh́n các sự việc dưới một khía cạnh rộng lớn và tu luyện một cách đường đường chánh chánh.
Là con người, chúng ta cần phải duy tŕ quyền sống con người của chúng ta. Như vậy, hoàn cảnh sinh sống cũng phải đáp ứng với nhu cầu đời sống của con người. Chúng ta không nên cố t́nh làm hại hoặc giết những vật sống, nhưng chúng ta cũng không thể bận tâm quá nhiều với những sự nhỏ nhặt đó. Ví dụ, rau cải và lúa đậu mà chúng ta trồng cấy đều có sự sống. Chúng ta không thể v́ lư do đó mà không ăn không uống, nếu vậy làm sao chúng ta có thể tu luyện được? Làm người phải nhắm một cái ǵ rộng lớn. Ví dụ, trong khi quí vị bước đi, có những con kiến và con bọ có thể chạy dưới chân quí vị và bị đạp chết. Như vậy chúng có thể đă tới số chết rồi v́ quí vị không cố t́nh làm hại chúng. Trong thế giới của sinh vật hoặc của vi trùng, cũng có vấn đề là sự quân b́nh trong thiên nhiên. Một giống có quá nhiều, sẽ trở thành một tai họa. V́ vậy chúng ta phải tu luyện một cách đường đường chánh chánh. Khi có những con ruồi muỗi trong nhà, chúng ta phải đuổi chúng đi và đặt các màng lưới nơi cửa sổ để cản không cho chúng vào. Nhưng nếu không thể làm cho chúng ra khỏi nhà th́ mặc kệ nếu chúng ta phải giết chúng. Trong không gian mà con người sanh sống, chúng muốn chích và làm hại con người, nếu đuổi được th́ đuổi chúng đi, và nếu không được, chúng ta cũng không thể ngồi yên mà nh́n chúng chích người. Quí vị là một người tu, quí vị không sợ chúng v́ quí vị có sự miễn dịch, nhưng những người khác trong gia đ́nh của quí vị không tu luyện, họ là những người thường hoặc không tu, đối với họ có vấn đề bệnh truyền nhiễm. Chúng ta không thể đứng nh́n những con muỗi chích lên mặt trẻ con mà không làm ǵ.
Chúng ta hăy lấy một ví dụ. Đây là một câu chuyện được kể lại những năm đầu của đức Thích Ca Mâu Ni. Một ngày kia, đức Thích Ca Mâu Ni muốn đi tắm trong rừng, Ngài bèn nói với một đệ tử đi rửa bồn tắm cho Ngài. Người đệ tử đi đến nơi, thấy bồn tắm đầy những con bọ. Nếu y rửa bồn tắm th́ phải giết chết chúng. Y bèn trở về và nói với đức Thích Ca Mâu Ni: Thưa Ngài, bồn tắm đầy những con bọ. Đức Thích Ca Mâu Ni chỉ nói một câu mà không nh́n y: Tṛ hăy đi rửa bồn tắm đi. Người đệ tử trở lại nơi bồn tắm, y không biết bắt đầu từ đâu, làm cách nào th́ các con bọ cũng phải chết. Y lại quay trở lại và thưa hỏi đức Thích Ca Mâu Ni: Thưa đức Thầy, bồn tắm đầy những con bọ, làm cách nào người ta cũng phải làm chết chúng. Đức Thích Ca liếc nh́n y một cái và nói rằng: Điều mà ta hỏi tṛ đó là đi rửa bồn tắm. Người đệ tử bỗng nhiên thức giác và y đi rửa bồn tắm ngay. Câu chuyện nầy nói rơ một vấn đề. Không phải v́ có những con bọ mà chúng ta không thể đi tắm nữa; không phải v́ có những con mưỗi mà chúng ta phải đi kiếm một nơi ở khác; không phải v́ những rau đậu đều có sự sống mà chúng ta phải thắt cổ và nhịn ăn nhịn uống. Không thể trở thành như vậy được. Chúng ta phải giải quyết liên quan nầy một cách thẳng thắn và tu luyện một cách đường đường chánh chánh. Chỉ cần là chúng ta đừng nên làm hại các sinh vật một cách cố t́nh. Đồng thời con người cũng cần phải có một không gian để sống và những điều kiện để sanh sống, những điều đó phải được duy tŕ. Con người vẫn c̣n cần duy tŕ sự sống của họ và đường lối sống b́nh thường của họ.
Trước kia có những thầy khí công giả nói rằng: Những ngày mùng một và ngày rằm người ta có thể sát sanh. Có người khác c̣n nói rằng: Có thể giết những con vật hai chân. Họ xem như những con vật nầy không phải là sinh vật. Ngày mùng một và ngày rằm, sát sanh không có nghĩa là sát sanh sao? có nghĩa là đào đất sao? Những thầy khí công giả mạo rất dễ phân biệt qua những lời nói và hành động của họ, qua những ǵ họ nói và họ t́m cầu. Những thầy khí công mà có những luận điệu đó thường là những người bị ma quỉ hoặc con thú nhập. Hăy nh́n cách ăn một con gà của một thầy khí công bị nhập bởi con chồn. Y ngốn ngáo nuốt trửng con gà mà không chịu nhả cả xương ra.
Sự sát sanh không những chỉ mang đến rất nhiều nghiệp mà nó c̣n liên quan đến vấn đề ḷng từ bi. Là người tu, phải chăng chúng ta phải có ḷng từ bi? Khi ḷng từ bi của chúng ta được xuất hiện, chúng ta có lẽ nh́n thấy tất cả chúng sanh đều đau khổ, mọi người đều đau khổ. Vấn đề nầy có thể xuất hiện.
Vấn đề ăn thịt
Ăn thịt cũng là một vấn đề rất tinh tế, nhưng ăn thịt không phải là sát sanh. Cho dù quí vị học Pháp một thời gian lâu, chúng tôi cũng không đ̣i hỏi mọi người ngưng ăn thịt. Có nhiều thầy khí công đă nói khi quí vị vừa bước vào pḥng học: Từ bây giờ, quí vị không được ăn thịt nữa. Quí vị có thể nghĩ rằng: Th́nh ĺnh không được ăn thịt nữa, tôi có thể chưa được chuẩn bị tâm lư. Có thể ngày hôm nay trong nhà quí vị, người ta đang nấu thịt gà chiên cá, mùi vị rất ngon, nhưng quí vị không được ăn chúng. Sự tu luyện trong các tôn giáo cũng bắt buộc cấm ăn thịt cá. Những pháp môn thường của trường phái Phật và một số trường phái đạo Lăo cũng nói như vậy và cấm ăn thịt. Nơi đây chúng tôi không đ̣i hỏi quí vị làm như vậy, nhưng chúng tôi cũng có nói về nó. Vậy chúng tôi nói như thế nào? V́ đường lối tu luyện của chúng ta là Pháp luyện người. Đường lối tu luyện Pháp luyện người có nghĩa là nhiều trạng thái sẽ xuất hiện do nơi Gong và Pháp. Trong lúc tu luyện, nhiều trạng thái sẽ xuất hiện ở mỗi cấp khác nhau. Vậy th́ một ngày nào đó hay ngay ngày hôm nay, sau buổi thuyết giảng của tôi, có người trong quí vị sẽ ở trong trạng thái không thể ăn thịt nữa. Mùi vị của thịt rất là tanh. Nếu ăn nó vào, quí vị sẽ bị buồn nôn ngay. Không phải là người ta cấm quí vị một cách giả tạo hoặc là quí vị tự cấm ḿnh không được ăn chúng, nhưng đó là một sự phát xuất từ nơi trong tâm ra. Khi đến cấp đó, từ trong Gong phản ảnh ra khiến không thể ăn thịt được nữa. Trong trường hợp đó chắc chắn quí vị sẽ nôn ngay nếu quí vị cố nuốt nó vào bụng.
Những đệ tử lâu ngày của chúng tôi đều biết là t́nh trạng nầy sẽ xảy ra trong sự tu luyện Pháp Luân Đại Pháp. Mỗi cấp phát hiện những trạng thái khác nhau. Có những người học viên có một sự ham thích, một sự ràng buộc rất mạnh về ăn thịt, b́nh thường họ ăn rất nhiều thịt. Trong khi những người khác ngửi mùi thịt thấy rất là tanh, th́ họ không thấy như vậy và vẫn có thể ăn được. Phải làm sao để họ buông bỏ sự ràng buộc đó? Những người như vậy sẽ bị đau bụng nếu họ ăn thịt vào, họ không đau nếu họ ngừng ăn. T́nh trạng như vậy sẽ xảy ra, đó có nghĩa là họ không nên ăn thịt nữa. Điều nầy phải chăng có nghĩa là việc ăn thịt từ nay không liên quan ǵ đến đường lối tu luyện của chúng ta? Không phải vậy. Vậy chúng ta phải xem vấn đề nầy như thế nào? Nếu như không thể ăn thịt nữa, đó là từ nơi tâm ư của chính ḿnh thật sự không muốn ăn nữa. Mục đích của nó là ǵ? Sự giới cấm ép buộc người ta không ăn thịt trong chùa và sự không thể ăn thịt xuất hiện trong đường lối tu luyện của chúng ta, chúng có mục đích là tiêu trừ sự ham thích đó của con người và sự ràng buộc đó của họ trong việc ăn thịt.
Có người không có thể nào nuốt trôi chén cơm nếu không có thịt trong bữa cơm. Đó là một sự ràng buộc của người thường. Một buổi sáng, trong lúc tôi đi ngang qua cửa sau của Vườn Thắng Lợi ở Trường Xuân (Changchun), có ba người đi ra, họ bàn căi lớn tiếng. Một người trong họ nói rằng: Tập luyện Khí công thứ ǵ mà người ta không thể ăn thịt. Tôi thà là chết sớm mười năm hơn là bỏ ăn thịt. Thật là một sự ràng buộc quá mạnh mẽ. Chúng ta hăy suy nghĩ điều đó. Phải chăng một sự ràng buộc như vậy cần phải được buông bỏ? Chắc chắn là phải buông bỏ. Trên con đường tu luyện, con người cần phải buông bỏ đủ loại tham muốn và ràng buộc. Nói thẳng ra, nếu sự ham thích ăn thịt không buông bỏ được, phải chăng đó có nghĩa là sự ràng buộc đó chưa được buông bỏ? Làm sao người ta có thể được viên măn sự tu luyện? V́ vậy, khi đó là một sự ràng buộc, nó phải được buông bỏ. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là kể từ ngày hôm nay quí vị sẽ không bao giờ được ăn thịt nữa. Sự kiện không ăn thịt tự nó không phải là mục đích. Mục đích là buông bỏ cái tâm ràng buộc đó của quí vị. Nếu quí vị đạt được sự buông bỏ cái tâm ràng buộc đó trong lúc mà quí vị không thể ăn thịt, có lẽ quí vị sẽ có thể ăn lại được nó sau đó. Mùi thịt không c̣n tanh nữa hoặc ăn không vô nữa. Vậy lúc bấy giờ không có ǵ quan trọng nếu quí vị ăn nó.
Đến lúc quí vị có thể ăn thịt lại được, cái tâm ràng buộc cũng như sự ham thích ăn thịt của quí vị sẽ không c̣n nữa. Tuy nhiên có một sự thay đổi lớn sẽ xảy ra: Quí vị sẽ không cảm thấy mùi vị của nó thơm ngon như trước. Nếu nó được nấu ăn trong nhà, quí vị sẽ ăn nó với gia đ́nh; c̣n nếu người ta không nấu nó th́ quí vị cũng không cảm thấy thiếu. Nếu quí vị ăn nó, nó cũng không có mùi thơm ngon nữa, t́nh trạng như vậy có thể xảy ra. Nhưng sự tu luyện giữa người thường cũng khá phức tạp. Nếu gia đ́nh của quí vị luôn nấu thịt, quí vị lại cảm thấy nó ngon trở lại sau một thời gian. Có thể có sự đi đi lại lại như vậy nhiều lần trong suốt hành tŕnh tu luyện của quí vị. Quí vị có thể th́nh ĺnh không ăn được thịt nữa. Nếu là như vậy, quí vị không nên ăn nó nữa khi quí vị không thể ăn nó. Quí vị sẽ thật sự không thể ăn được nó v́ quí vị sẽ bị nôn ra nếu ăn vào. Hăy chờ đến khi nào quí vị có thể ăn nó lại được, hăy theo sự tự nhiên. Ăn hay không ăn thịt tự nó không phải là một mục đích. Cái then chốt là ở chỗ buông bỏ sự ràng buộc đó.
Đường lối tu luyện Pháp Luân Đại Pháp của chúng ta làm cho mỗi người tiến bộ tương đối khá nhanh. Miễn là quí vị nâng Tâm tính của ḿnh lên th́ mỗi giai đoạn sẽ vượt qua rất nhanh. Có người tự nhiên không có sự ràng buộc mạnh về ăn thịt và không để ư đến ăn hay không ăn thịt. Họ chỉ cần một vài tuần để buông bỏ sự ràng buộc nầy. Có người có thể cần một, hai, ba tháng hoặc có thể sáu tháng mới làm được. Trừ những trường hợp đặc biệt, một người sau không hơn một năm sẽ có thể ăn thịt trở lại v́ thịt đă trở thành một phần quan trọng trong bữa ăn của con người. Nhưng, những người tu chuyên trong chùa là không thể ăn thịt.
Chúng ta hăy nói qua về quan niệm ăn thịt trong Phật giáo. Phật giáo nguyên thủy, trong giai đoạn đầu, không có cấm ăn thịt. Lúc bấy giờ, khi đức Thích Ca Mâu Ni mang các đệ tử của Ngài đi tu luyện cần khổ trong rừng, không có cái luật là cấm ăn thịt. V́ sao? V́ cách nay hơn hai ngàn năm trăm năm, lúc đức Thích Ca Mâu Ni truyền Pháp, xă hội nhân loại c̣n thiếu mở mang. Nhiều vùng có canh nông, nhưng nhiều vùng khác lại không có. Diện tích đất canh tác rất hạn hẹp, khắp nơi đều là rừng hoang. Thóc đậu rất quí và hiếm. Con người vừa mới ra khỏi t́nh trạng xă hội phôi thai, họ sống nhất là bằng nghề săn bắn. Trong nhiều vùng, người ta tự nuôi sống phần nhiều bằng thịt. Đức Thích Ca Mâu Ni, để cho các đệ tử buông bỏ tối đa tâm ràng buộc, đă không cho phép họ có của cải và vật chất, v.v. Ngài đem những đệ tử của Ngài đi ăn xin. Họ ăn tất cả những ǵ người ta bố thí cho họ, vả lại, là người tu, họ không thể chọn thức ăn của họ, nên rất có thể là có thịt trong những ǵ người ta cho họ.
Tuy nhiên, trong Phật giáo thời nguyên thủy, việc cữ kiêng một số đồ gia vị (đồ ăn mặn, Hun) có nói đến. Sự ăn mặn thật sự có từ thời Phật giáo nguyên thủy, tuy nhiên ngày nay người ta cho thịt cá là đồ ăn mặn. Sự thật, lúc bấy giờ, đồ ăn cấm kỵ không phải là thịt cá, nhưng là những đồ như là hành, gừng, tỏi v.v. V́ sao người ta cho đó là đồ ăn mặn? Ngày nay nhiều thầy tăng không thể giải thích được nó v́ nhiều người không thật sự tu luyện. Phương pháp mà đức Thích Ca Mâu Ni truyền bá gọi là Giới, Định, Huệ. Giới là nói về buông bỏ tất cả những sự ràng buộc của người thường. Định nghĩa là một người tu thực hành sự tu luyện bằng cách ngồi nhập định, hoàn toàn tập trung. Tất cả những ǵ có thể làm phiền sự tập trung và sự tu luyện đều bị xem là quấy nhiễu nghiêm trọng. Nếu có người ăn hành, gừng, tỏi, họ sẽ thoát ra một mùi rất mạnh. Những thầy tăng, lúc bấy giờ, ngồi thành ṿng tṛn bảy hoặc tám người, ṿng này kế bên ṿng kia, trong rừng hoặc trong động đá. Nếu có người ăn những loại đồ đó, họ sẽ phát ra một mùi rất khó chịu và gây trở ngại cho những người ngồi tập trung tu luyện. V́ vậy nên có cái luật đó và những loại đồ ăn đó được xem như là đồ mặn (Hun) và bị cấm. Thân người tu luyện sẽ phát triển nhiều sanh mệnh, tất cả rất ghét những mùi hôi đó. Hành, gừng và tỏi cũng có thể kích thích sự ham muốn của con người. Người ta có thể trở thành ghiện chúng sau khi ăn quá nhiều. V́ vậy chúng bị xem là đồ mặn.
Trong quá khứ, sau khi tu luyện đạt đến những cấp rất cao trong trạng thái Khai Gong (Công lực) hoặc nửa Khai Gong, nhiều thầy tăng cũng hiểu rằng các luật lệ đó không thật sự quan trọng trong sự tu luyện. Nếu người ta có thể buông bỏ sự ràng buộc trong tâm th́ những vật chất bên ngoài tự chúng không có ảnh hưởng. Điều ǵ thật sự làm cản trở người tu chính là cái tâm của họ. Kết quả là trong quá khứ, những thầy tu đắc đạo cũng thấy rằng sự kiện mà một người ăn thịt không phải là một vấn đề quan trọng. Vấn đề then chốt là sự ràng buộc có thể buông bỏ hay không. Nếu một người không có một chút ràng buộc, họ có thể ăn thứ ǵ cũng được chỉ để làm đầy bao tử mà thôi. V́ người ta tu luyện cách như vậy trong chùa, nhiều người đă quen như thế. Hơn nữa, điều đó không c̣n là một vấn đề đơn sơ cấm kỵ mà đă trở thành một qui luật trong chùa là không ai được ăn thịt. Mọi người đă quen với đường lối tu luyện như vậy. Chúng ta hăy nói về thầy tăng Tế Công mà nhiều người đă được biết danh qua sách vở nghệ thuật. Một thầy tăng phải cấm ăn thịt nhưng vị nầy lại ăn, v́ vậy người ta thổi pḥng câu chuyện của ngài lên. Sự thật, sau khi bị đuổi ra khỏi chùa Linh Ẩn, Ngài Tế Công đă sống một nếp sống bấp bênh, v́ vậy bữa ăn đối với Ngài trở thành là một vấn đề. Để cho đầy bao tử, Ngài ăn tất cả những ǵ có thể có được, chỉ là để làm đầy bao tử và không có sự ràng buộc nơi một thứ thức ăn ǵ cũng đều không quan hệ. Tu luyện đến tŕnh độ đó, Ngài đă hiểu cái nguyên lư như vậy. Sự thật, đức Tế Công chỉ thỉnh thoảng ăn thịt có một hoặc hai lần mà thôi. Một khi nói tới chuyện một thầy tăng ăn thịt th́ những tác giả cảm thấy rất là hấp dẫn. Đề tài càng lạ kỳ, nó càng thúc đẩy người ta ham đọc. Một tác phẩm nghệ thuật phải lấy nguồn hứng trong đời sống hằng ngày và khoe khoang hơn đời sống hằng ngày. V́ vậy, đức Tế Công đă được làm nổi bật lên. Sự thật, khi sự ràng buộc đó đă được buông bỏ thật, người ta có thể dùng bất cứ thức ăn ǵ cũng không quan trọng để làm cho đầy bao tử.
Nơi miền Đông nam Á châu hoặc miền Nam Trung quốc như Quảng đông Quảng tây, nhiều Phật tử tại gia không nói họ là Phật tử, giống như từ ngữ nầy đă quá xưa. Họ nói rằng họ ăn đồ ăn của Phật tử hoặc nói là họ ăn chay. Đó có nghĩa là họ ăn chay để tu Phật. Họ cho sự tu luyện để thành Phật là một điều chỉ giản dị như vậy. Làm sao ăn chay mà có thể là tu Phật được? Quí vị đă hiểu sự ăn thịt chỉ là một ham thích, một ràng buộc giữa bao nhiêu sự ràng buộc. Người ăn chay chỉ là buông bỏ được sự ràng buộc đó. C̣n phải buông bỏ những ham muốn khác của con người, những ràng buộc như là tánh ganh tỵ, tánh ganh đua, tánh thích được khen, tánh khoe khoang và nhiều thứ ràng buộc khác của con người. Chỉ khi nào buông bỏ được hết con người mới viên măn sự tu luyện của ḿnh. Làm sao mà chỉ buông bỏ cái ràng buộc ăn thịt mà người ta có thể tu thành Phật được? Lời tuyên bố nầy là không đúng.
Về vấn đề đồ ăn, không phải chỉ có thịt, người ta c̣n phải không bị ràng buộc bởi bất cứ thức ăn ǵ, cũng như vậy đối với mọi thứ khác. Có người nói rằng họ chỉ thích một thứ đồ ăn đặc biệt ǵ đó. Điều đó cũng là một sự ràng buộc. Một người tu, sau khi đạt đến một tŕnh độ nào rồi, sẽ không c̣n có sự ràng buộc như vậy nữa. Dĩ nhiên, Pháp nầy của chúng tôi đă được giảng giải cho quí vị ở một cấp rất cao và kết hợp nhiều tầng cấp. Một người không thể ngay một lúc đạt một bước như vậy. Quí vị tuyên bố rằng quí vị chỉ thích ăn món đồ ăn đặc biệt đó. Khi sự tu luyện của quí vị đă thật sự đạt đến lúc phải buông bỏ sự ràng buộc đó, quí vị sẽ không thể ăn được nó nữa. Nếu quí vị ăn nó, quí vị sẽ thấy nó không có mùi vị ngon như trước và quí vị cũng không thể nói được mùi vị của nó như sao. Lúc xưa, khi tôi đi làm nơi một cơ sở nọ, quán cơm của sở luôn bị lỗ lă, cuối cùng đă đóng cửa. Lúc bấy giờ mọi người phải mang theo đồ ăn trưa đi làm. Buổi sáng phải gấp gáp chuẩn bị đồ ăn mang theo, thật là phiền phức. Đôi khi tôi mua hai cái bánh bao và một miếng tàu hủ ngâm trong nước tương. Theo lẽ th́ không có vấn đề ǵ đối với một bữa ăn nhẹ như vậy. Nhưng ăn như vậy măi cũng không được, cũng phải buông bỏ sự ràng buộc đó. Khi tôi vừa nh́n thấy miếng tàu hủ là một chất chua dâng lên cổ. Tôi không thể tiếp tục ăn nó được nữa, đó là để tránh trường hợp tôi phát triển một sự ràng buộc nơi đó. Dĩ nhiên, điều đó chỉ xuất hiện ở một cấp tu luyện nào đó, nó không phải như vậy ngay lúc đầu.
Trường phái Phật không cho phép uống rượu. Có khi nào quí vị nh́n thấy một vị Phật ôm một hũ rượu không? Không bao giờ. Tôi đă nói rằng quí vị không thể ăn thịt nhưng, sau khi đă buông bỏ sự ràng buộc trong sự tu luyện giữa những người thường, quí vị có thể ăn lại nó trong tương lai mà không có vấn đề ǵ. Nhưng, sau khi bỏ rượu, quí vị không thể uống nó lại được. Phải chăng cơ thể của người tu là có Công lực? Nhiều h́nh thức Gong và một số huyền năng Gong sẽ xuất hiện trên mặt cơ thể, tất cả chúng đều sạch trong. Khi quí vị uống rượu vào, tất cả đều rời bỏ cơ thể của quí vị ngay tức khắc. Trong nháy mắt, cơ thể của quí vị không c̣n ǵ nữa, v́ tất cả chúng đều rất sợ cái mùi đó. Thật là rất phiền nếu quí vị bị ghiền rượu. Rượu có thể làm cho con người ta mất lư trí. Tại sao có vài Đạo phái lớn tu luyện lại cần đến uống rượu? Đó là v́ họ không tu luyện Chủ-nguyên-thần của họ và dùng rượu để làm tê liệt Chủ-nguyên-thần.
Có người yêu rượu như mạng sống của ḿnh và buông trôi trong rượu. V́ uống quá nhiều họ trở thành ghiền rượu. Họ không thể ăn cơm ngon miệng nếu không có rượu. Họ không thể thiếu chúng. Là người tu, chúng ta không thể như vậy. Uống rượu nhất định trở thành ghiền. Đó là một ham thích và nó kích thích những giây thần kinh ghiền của con người. Người ta càng uống rượu, người ta càng say mê nó. Chúng ta phải suy nghĩ. Là người tu, phải chăng chúng ta cần buông bỏ một sự ràng buộc như vậy? Sự ràng buộc nầy cũng phải được buông bỏ. Có người có thể nghĩ như vầy: Điều đó không được v́ tôi giao tiếp nhiều, hoặc tôi cần đi gặp khách hàng, hoặc tôi bị đặc trách về tiếp tân thương măi, và tôi đi ra ngoài nhiều, người ta không dễ ǵ giải quyết sự buôn bán mà không uống rượu. Tôi nói rằng không cần thiết là như vậy. Trong sự giao tế thương măi thông thường, nhất là để buôn bán hoặc với người ngoại quốc, mỗi người tự chọn lấy thức uống. Có người uống nước ngọt, có người uống nước lọc, có người uống la-ve. Không ai ép quí vị uống rượu. Quí vị tự chọn lấy và uống bao nhiêu tùy thích. Nhất là trong giới trí thức, sự kiện nầy th́ gần như là không có. B́nh thường là như vậy.
Hút thuốc cũng là một ràng buộc. Có người nói rằng hút thuốc làm cho con người được thư giăn. Tôi nói đó là tự gạt ḿnh và gạt người. Đó là sau khi cảm thấy mệt v́ công việc làm hoặc viết lách, người ta muốn ngừng nghỉ một chút bằng cách hút thuốc. Họ cảm thấy khỏe khắn hơn sau khi hút xong điếu thuốc. Sự thật, không phải là như vậy. Đó là v́ họ đă ngừng nghỉ một lúc. Đầu óc của con người có cái khả năng là tạo cho ta một cảm giác sai lầm và một ảo tưởng, về sau nó trở thành cái quan niệm và sự tin tưởng sai lầm là hút thuốc làm lên tinh thần. Nhưng nhất định không thể nào là như vậy và nó cũng không thể có vai tṛ như vậy. Hút thuốc lá không có một chút ǵ tốt cho cơ thể con người. Một người đă hút lâu năm, khi bác sĩ mổ cơ thể ra, óng khí quản và hai lá phổi của họ đều đen thui.
Là người tu, phải chăng chúng ta muốn thanh lọc cơ thể của chúng ta? Chúng ta không ngừng thanh lọc cơ thể và không ngừng thăng tiến lên cao tầng. Nhưng nếu quí vị cứ tiếp tục làm dơ cơ thể của ḿnh, phải chăng đó là đi ngược lại điều mà chúng ta cần phải làm? Hơn nữa, nó cũng là một sự ràng buộc rất mạnh mẽ. Có người cũng biết điều đó không tốt nhưng họ không thể bỏ được. Sự thật, tôi xin nói với quí vị, nếu không có một tư tưởng thật ngay chánh hướng dẫn, quí vị muốn bỏ nó thật không phải dễ. Là người tu, quí vị hăy thử buông bỏ nó ngay ngày hôm nay như là một sự ràng buộc, quí vị sẽ xem có thể làm được hay không? Tôi xin khuyên mọi người là những ai muốn thật sự tu luyện, quí vị phải bỏ hút thuốc ngay từ ngày hôm nay, tôi bảo đảm quí vị có thể làm được. Nơi khóa học nầy, không ai nghĩ đến hút thuốc. Nếu quí vị muốn bỏ nó, tôi bảo đảm là quí vị có thể bỏ được. Khi quí vị cầm đến một điếu thưốc lá, nó sẽ không có mùi vị ngon nữa. Khi quí vị đọc đến bài học nầy trong sách, nó cũng có hiệu nghiệm như vậy. Dĩ nhiên, nếu quí vị không muốn tu luyện, chúng tôi sẽ không làm điều nầy cho quí vị. Tôi nghĩ rằng, là người tu, quí vị cần phải bỏ nó. Tôi thường hay nói ví dụ nầy: Có khi nào quí vị nh́n thấy một vị Phật hay một vị Tiên ngồi đó với một điếu thuốc lá trên môi không? Quí vị có thấy ở đâu như vậy không? Quí vị là người tu, mục đích của quí vị là ǵ? Phải chăng quí vị cần phải dứt bỏ nó? V́ vậy tôi nói rằng nếu quí vị muốn tu luyện, quí vị phải dứt bỏ nó. Cái đó làm hại cơ thể của quí vị và đồng thời là một sự ràng buộc, là điều đi ngược với đ̣i hỏi của chúng tôi nơi các người tu của chúng tôi.