MỤC THỨ
I - Thay
lời tựa
II - Địa-lý
Biển Đông với Hoàng-Sa và
Trường-Sa
1 - Biển
Đông Của Báu Nước Ta.
1.1 - Khái-quát
biển đảo Việt-Nam.
1.2 - Của báu
của một nước.
1.3 - Biển Đông, sự sống
còn của Việt-Nam.
1.4 - Tài-liệu
địa-dư, những yếu-tố chính-xác.
1 4.1 - Sự
chính-xác trong tài-liệu địa-lý.
1.4.2
- Yếu-tố
chính-xác dùng trong Luật Biển.
2 - Biển
Đông Xưa, Mai và Nay.
2.1 - Khai-sinh của Biển Đông
2.2 - Biển
Đông quá-khứ, cái nôi văn-hóa, trung-tâm phát
nguyên hàng-hải.
2.3 - Biển
Đông và Ấn-Độ-Dương.
2.4 - Biền
Đông tương-lai, lãnh-hải thành
lãnh-thổ.
2.5 - Biển
Đông, ngã tư thế-giới.
2.6
- Biển Đông,
hành-lang chiến-lược bận rộn của
Thế-giới.
2.7
- Với eo Kra, Biển
Đông sẽ càng thêm bận rộn.
2.8
- Công-trình xây
cất, sinh-hoạt biển & bờ.
2.8.1 - Công-trình mồ
hôi, nước mắt.
2.8.2
- Hệ-thống
hải-đăng Việt-Nam.
2.8.3 - Hệ-thống
cảng biển Việt-Nam.
2.8.4 - Sinh-hoạt
ngư-nghiệp.
2.8.5
- Công
nghệ đóng tàu, một điểm loé
sáng.
3 - Hải-sinh-vật
Biển-Đông.
3.1 - Chim chóc.
3.1.1 - Biển
Đông, vùng bay của di-điểu.
3.1.2 - Hải-âu,
Bạn thân-thiết của người đi biển.
3.1.3 - Chim
trên các đảo Hoàng-Sa và
Trường-Sa.
3.2 - Rùa và sinh-vật trên đảo
ngoài Biển Đông.
3.3 - Hải-sinh-vật ngoài biển.
3.4 - Biển Đông và môi-trường Sinh-vật-học
Việt-Nam.
3.4.1 - Vùng môi-sinh
Á-đông.
3.4.2 - Đường
Wallace – Huxley.
3.5
- Trữ-lượng
hải-sản Biển Đông.
3.6 - Bảo-vệ môi-trường biển.
3.7 - Hải-sinh-vật cần bảo-vệ.
4 - Khí-tượng Biển
Đông.
4.1 - Tình-trạng khí-tượng
tổng-quát.
4.2 - Mùa gió.
4.3 - Thủy-triều.
4.4 - Vùng nước xoáy.
4.5 - Nước biển, Nồng-độ muối.
4.6 - Hải-lưu.
4.7 - Nước, gió và nạn dầu loang.
5 - Thiên-tai và Ô-nhiễm
Biển Đông.
5.1 - Bão-tố.
5.2 - Những hiện-tượng thiên-nhiên
khác.
5.2.1 - Sóng thần.
5.2.2 - Vòi rồng.
5.2.3 - Thủy-triều
đỏ và Thủy-triều đen.
6 - Biển Đông, những sự
kỳ-diệu thiên-nhiên.
6.1 - Sự kỳ-diệu về từ-tính.
6.2 - Sự kỳ-diệu về
“địa-hình.
6.3 - Biển Đông, bà mẹ
thiên-nhiên chống ô-nhiễm.
6.3.1 - Nước
sạch-sẽ.
6.3.2 - Gió trong lành.
7 - Đảo và duyên-hải
Việt-Nam.
7.1 - Tổng-quát
về hải-đảo ven bờ Việt-Nam.
7.2 - Tổng-quát
về Hoàng-Sa và Trường-Sa.
7.3 - Sự quan-trọng của hải-đảo.
7.4 - Quan-điểm
khác nhau về quân-sự.
7.5 - Các đảo lớn Việt-Nam.
8 - Biển và đảo theo Luật
Biển quốc-tế.
8.1 - Quan-niệm cũ mới về lãnh-hải.
8.2 - Luật Biển LHQ., một ý-thức mới
về trật-tự trên biển.
8.3 - Lãnh-thổ, lãnh-hải và
hải-phận về kinh-tế.
8.4 - Thềm lục-địa và Hải-phận
Đặc-Quyền Kinh-Tế EEZ.
8.5 - Đường căn-bản duyên-hải và
nội-hải.
8.6 - Thềm
lục-địa kéo dài.
8.7 - Diện-tích thềm lục-địa
Việt-Nam.
8.8 - Các nước lớn và luật
biển.
8.8.1 - Hoa-kỳ.
8.8.2 - Trung-Cộng.
9 - Luật Biển LHQ. và Biển
Đông.
9.1 - Việt-Nam và Luật Biển.
9.2 - Trường-hợp các đảo
Hoàng-Sa và Trường-Sa.
9.3 - Những đường ranh Biển Đông.
9.3.1 - Đường
ranh biển với Kampuchea.
9.3.2 - Đường
ranh biển với Thái-lan.
9.3.3 - Đường
ranh biển với Indonesia.
9.3.4 - Đường
ranh biển nào ở Trường-Sa?
9.4 - Những hình
vẽ hải-phận theo giả-thuyết.
9.4.1 - Bản-đồ
tổng-quát Biền Đông.
9.4.2 - Hải-phận
kinh-tế EEZ của Việt-Nam.
9.4.3 - Hải-phận
kinh-tế EEZ của Trung-Cộng.
9.4.4 - Hải-phận
EEZ của các nước Việt-Nam, Trung-Cộng,
Đài-Loan, Phi-luật-tân, Mã-lai-á &
Brunei.
9.4.5 - Hải-phận
EEZ của Việt-Nam nếu Việt-Nam kiểm-soát đảo Tri-tôn.
10 - Đặc tính chung
của các đảo Hoàng-Sa và
Trường-Sa.
10.1 - Cấu
tạo địa-chất.
10.2 - Đất-đai
san-hô.
10.3 - Kích-thước
và tuổi-tác các đảo.
10.3.1 - Kích-thước của
đảo san-hô.
10.3.2 - Tuổi đảo: thật già và
thật trẻ.
10.4 - Hoàng-Sa
và Trường-Sa thuộc Việt-Nam về
phương-diện vị-trí.
10.5 - Hoàng-Sa
và Trường-Sa thuộc Việt-Nam về
phương-diện địa-hình
đáy biển.
10.6 - Hoàng-Sa
và Trường-Sa thuộc Viêt-Nam về
phương-diện địa-chất,
sinh-vật-học.
10.6.1 - Địa-chất.
10.6.2 - Thực-Sinh.
10.6.3 - Sinh Hóa.
11 - Thảo mộc
Hoàng-Sa và Trường-Sa.
11.1 - Tồng-quát
về thảo-mộc các đảo ngoài Biền
Đông.
11 2 - Tài
liệu của Giáo-sư Henry Fontaine.
11 3 - Tài
liệu của Giáo-sư Phạm-Hoàng-Hộ.
11.4 - Tài
liệu của Giáo-sư Sơn-Hồng-Đức.
11.5 - Báo-cáo
của Kỹ-sư Trịnh-tuấn-Anh.
12 - Tài-nguyên.
12.1 - Phosphate.
12.2 - Ngư-nghiệp.
12.3 - Hải-sản
Phụ.
12.3.1 - Ốc biển.
12.3.2 - Đỉa biển.
12.3.3 - Ruộng muối.
12.4 - Trữ-lượng
dầu khí Biển Đông.
12.5 - Dầu
khí trong hải-phận do Việt-Nam kiểm-soát.
12.6 - Những
tài-nguyên Biển Đông trong tương-lai.
13 - Các đảo
thuộc quần-đảo Hoàng-Sa.
13.1 - Tên
quần-đảo: Bãi Cát Vàng.
13.2 - Chiều
cao các đảo.
13.3
- Các
Bãi Ngầm Macclesfield và Scarborough.
13.4 - Nhóm
Trăng Khuyết.
13.4.1 - Đảo
Hoàng-Sa.
13.4.2 - Đảo Hữu-nhật.
13.4.3 - Đảo
Duy-mộng.
13.4.4 - Đảo Quang-ảnh.
13.4.5 - Đảo Quang-hòa.
13.4.6 - Đảo Bạch-quỷ.
13.4.7 - Đảo Tri-tôn.
13.4.8 - Các
bãi ngầm.
13.5 - Nhóm
đảo An-Yết.
13.5.1 - Đảo Phú-Lâm.
13.5.2 - Đảo Linh-côn.
13.5.3
- Các bãi ngầm chính.
14 - Các
đảo thuộc quần-đảo Trường-Sa.
14.1 - Địa-danh
và Địa-giới Quận Trường-Sa.
14.2 - Số
lượng đảo.
14.3 - Vùng
Việt-Hoa tranh-chấp.
14.3.1 - Địa-danh lịch-sử.
14.3.2 - Đảo Trường-Sa.
14.4 - Vùng
Việt và 5, 6 nước tranh-chấp.
14.5 - Vùng
Việt-Hoa-Phi tranh-chấp.
14.5.1 - Khu Nam.
14.5.2 - Khu Trung.
14.5.3 - Khu Bắc.
14.5.4 - Khu Đông.
15 - Kiến-thức
về Biển Đông và các cuộc
khảo-sát vùng Hoàng-Sa, Trường-Sa.
15.1 - Kiến-thức
Biển Đông từ những ngày xa xưa.
15.2 - Thời
Lê-Nguyễn.
15.3 - Thời
Pháp-thuộc.
15.4 - Thời
Việt-Nam Cộng-hòa.
15.4.1 - Các cuộc khảo-sát Biển Đông.
15.4.2 - Hình-ảnh
phòng thủ Trường-Sa.
15.5 - Trung-Cộng
lợi-dụng khảo-cứu để
xâm-lược.
15.6 - Chuyện
anh-hùng-ca.
15.7
- Chuyện
khảo-cứu tức cười!
16 - Tổ chức ra
biển.
17 - Kết-luận.
Tọa-độ
địa-lý các đảo Hoàng-Sa.
Tọa-độ
địa-lý các đảo Trường-Sa.
Sách báo tham-khảo.
Bảng liệt-kê
Hình-ảnh.
III- Lời Bạt
Cụ Nguyễn Khắc-Kham
(Dư-Phủ) và Giáo-Sư Hà
Mai-Phương.
IV- Phụ-bản
tiếng Anh.
THAY LỜI TỰA
Hiện
nay có tới năm quốc gia trong vùng đang
xâu xé, tranh giành chiếm đóng một
số đảo thuộc quần đảo Trường-Sa
của Việt Nam và đòi hỏi chủ
quyền toàn phần hay một phần của
quần đảo này. Đó là Trung
cộng, Đài loan, Phi luật tân, Mã Lai
Á và Brunei.
Quần
đảo Hoàng-Sa của Việt Nam đã
bị Trung cộng thôn tính nốt phần
phía Tây của quần đảo này là
Nguyệt Thiềm bằng quân sự vào tháng
1 năm 1974.
Ngoài
việc dùng biện pháp bạo lực để
chiếm một số đảo vào năm 1988, Trung cộng
có một loạt hành vi qui mô trong một
kế hoạch để xác nhận chủ quyền
trên vùng Trường-Sa: vào năm 1983,
quốc gia này vẽ lại bản đồ nới
rộng ranh giới Đông Hải mà chúng
đặt tên là Nam Hải. Với bản đồ
mới này, toàn vùng Biển Đông
thuộc chủ quyền của Trung cộng: phía
đông vùng này giáp bờ biển Phi
luật tân, phía tây giáp bờ biển
Việt Nam và phía nam giáp Mã Lai Á. Đến
tháng 2 năm 1992, chúng ban hành một
đạo luật nói rằng những tàu
quân sự và tàu khoa học (ám chỉ
các tàu khoan, dò tìm dầu hoả) đi
qua vùng biển này phải xin phép chúng.
Nếu không, chúng sẽ đánh chìm.
Rồi đến tháng 5 năm đó, chúng
nhượng cho một công ty dầu của Mỹ
là Crestone tìm dò dầu hoả trong khu vực
rộng 25,000 cây số vuông nằm về phía
tây quần đảo Trường-Sa, rất gần
Cù lao Phú-Quý của ta.
Cũng vào năm này, chúng cho tàu trawler
với 2 tầu quân sự hộ tống chở
một Mốc, đến đánh dấu chủ
quyền trên đảo Đá Lạc. Chúng
chiếm cả thảy 8 đảo của Việt nam.
Tháng 6 năm 2006, chúng phổ biến một
bảo đồ mới, vẽ lại ranh giới
vùng Biển Đông. Với Bản đồ
này, ranh giới được vẽ lại tiến
sát bờ bể Việt nam: cách huyện Tư
Nghỉa, Quảng Ngãi (phía dưới vĩ
tuyến 15) khoảng 70 hải lý, và cách Cam
Ranh khoảng 45 hải lý.
Chúng không để ý đến luật
biển 1982 qui định thềm lục-địa của quốc gia hải
cận và vùng đặc-quyền kinh-tế là 200 hải lý.
Để
yểm trợ cho công tác xác nhận chủ
quyền này, vào năm 1994 chúng cho một
số học giả Hoa lục sang Đài Loan họp
với học giả địa phương thiết
lập một cơ quan hỗn hợp Quốc Cộng
Trung Hoa tuyên bố rằng toàn vùng biển
kể trên thuộc Trung Hoa. Cơ quan hỗn hợp
này có nhiệm vụ sưu tầm, nghiên
cứu, phổ biến tài liệu ngõ hầu
chứng minh chủ quyền của Trung Hoa trên
toàn vùng Đông Hải. Ngoài việc
sử dụng trí thức vào công việc
trên, Trung cộng từ nhiều năm nay đã
chuẩn bị biện pháp quân sự để
bảo vệ “phần lãnh hải ấy”.
Vì hai vùng quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa ở
quá xa lãnh thổ của Trung Quốc, Trung
cộng đã và đang tăng cường
Hạm Đội Biển Xanh với mưu đồ
khống chế vùng này. Ba biện pháp
được áp dụng:
a) đặt
mua một hàng không Mẫu Hạm của Ukraine
trên đó có thể chứa được
18 phi cơ SU-27 và đồng thời cải biến
một tàu hàng khổng lồ thành một
hàng không Mẫu Hạm khác (việc mua
hàng không mẫu hạm Tbilisi, 60, 000 tấn hay
Varyag, 67,000 tấn của Ukraine trị giá 2 tỹ MK
từ 1992 cà cải biến tầu hàng này
được hoãn lại);
b) mua
kỹ thuật tiếp tế nhiên liệu trên
không của Iran để nới rộng tầm xa
của các chiến đấu cơ;
c) xây
dựng trên quần đảo Hoàng-Sa một căn cứ hải
quân với một phi trường cho phi cơ cất
cánh liền có thể lên xuống; chúng
xây cả hồ nước ngọt và hiện nay
có cả ngàn quân ra trấn đóng
trên căn cứ ấy.
Sức
mạnh hải quân Trung cộng cũng được
tăng cường với 24 máy bay SU-27 mới mua
của Nga-Sô. Loại máy bay này tương
đương với F.15 tối tân nhất của
Mỹ. Chúng đang tăng cường cả tàu
ngầm cho hạm đội ấy. Chúng đã
cho xây một căn cứ trên một vùng
đá ngầm mà Phi Luật Tân trước
đó cũng đã nhận có chủ
quyền. Khi Phi Luật Tân phản đối,
chúng đã phủ nhận, rồi lại
nhìn nhận đấy là nơi cho ngư dân
Trung cộng tá túc khi hành nghề. Phi
Luật Tân đã cho phá hủy căn cứ
ấy, dù hai bên bắt đầu thương
thuyết tại Bắc Kinh để giải quyết
tranh chấp.
Không
ai có thể chối cãi được hai
vùng quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa
là của Việt Nam. Không một ai có
quyền lợi dụng sự suy yếu và ươn
hèn hiện hữu của của Đảng Cộng
Sản đang nắm quyền tại Việt Nam,
để xâu xé và ngang nhiên chiếm
đóng lãnh thổ hay lãnh hải của
Việt Nam.
Đối
với ngoại bang, hai vùng quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa
về phương diện Địa Lý, Lịch
Sử, Pháp Chế cũng như về
Hành Xử Chủ Quyền đều thuộc về
Việt Nam.
Hồi
cuối tháng 7 năm 1994, trước lời công
bố trắng trợn của một thiểu số
học giả Trung cộng với sự đồng
loã của một thiểu số học giả
Đài Loan đòi hỏi chủ quyền trên
các vùng quần đảo này, trí thức
Việt Nam tại Hoa Kỳ, họp tại Đại
học Stanford, California có ra một Tuyên cáo
xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên
hai vùng quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa
ở Biển Đông.
Hưởng
ứng tuyên cáo đó, học giả Vũ
Hữu San đã sưu tầm, nghiên cứu
về đia lý để chứng minh chủ
quyền của Việt Nam trên các vùng
quần đảo này. Công trình nghiên
cứu ấy đã hoàn tất và
được ấn hành dưới nhan đề
ĐỊA LÝ BIỂN ĐÔNG VỚI HOÀNG-SA
VÀ TRƯỜNG SA.
Đây
là một công trình nghiên cứu hết
sức công phu với nhiều khám phá mới
lạ. Soạn giả đã tỏ ra có những
kiến thức vững chải và thông hiểu
về hải dương học, địa chất
học, sinh vật học, thảo mộc học, văn
minh học, nối kết các dữ kiện hiện
có trên hải đảo với đất
liền của Việt Nam để chứng minh tài
tình các vùng quần đảo này
là đất nối dài của Việt Nam.
Ngoài ra, là một Sĩ quan cao cấp của
Hải quân Việt Nam Cộng Hoà và
đã từng hành quân nhiều lần
tại vùng quần đảo này và tận
mắt quan sát các hải đảo ấy,
soạn giả đã mô tả các đảo
một cách đầy đủ chi tiết từ
hình dạng, kích thước, thảo mộc,
địa chất, tài nguyên,… đến
cả các vị trí chính xác từng
đảo so với các đảo khác, với
bờ biển Việt Nam và với bờ biển
của mỗi quốc gia đòi hỏi chủ quyền
như Trung cộng, Đài Loan, Phi luật tân,
Mã Lai Á, Brunei. Soạn giả cũng không
quên nói tới luật quốc tế về
biển cả có liên hệ tới hai vùng
quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa.
Ngay cả vấn đề lịch sử chủ quyền
của Việt Nam trên các quần đảo này
cũng được soạn giả đề cập
tới.
Các dữ kiện được
trình bày trong công trình nghiên cứu
chứng minh rõ ràng rằng Việt Nam có
chủ quyền trên vùng biển này.
Về
tài liệu tham chiếu, soạn giả Vũ Hữu
San đã viện dẫn rất nhiều tài
liệu do những học giả có uy tín
viết về vấn đề này. Cuối cùng,
cuốn ĐỊA LÝ BIỂN ĐÔNG VỚI HOÀNG-SA
VÀ TRƯỜNG SA có tới hai trăm bản
đồ và hình ảnh giúp cho người
đọc nhìn thấy ngay được vấn
đề.
Uỷ
Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ
Việt Nam, một tổ chức thoát thai từ
nhóm tri thức Việt Nam tại Hoa Kỳ hân
hạnh giới thiệu cuốn sách có giá
trị này của học giả Vũ Hữu San
với bạn đọc và mong muốn mỗi gia
đình Việt Nam có một cuốn làm
tài liệu khi cần phải nói cho mọi
người biết rõ về vấn đề
này và cũng nên có một cuốn
gửi biểu thư viện công cộng tại
địa phương nơi độc giả cư
ngụ. Việc này sẽ giúp cho những ai
muốn nghiên cứu vấn đề chủ quyền
Việt Nam trên Biển Đông, họ sẽ
có ngay những tài liệu cần thiết.
Cuốn
Địa Lý Biển Đông Với Hoàng-Sa và Trường-Sa
được in lại lần thứ III vào năm
2007 này với những bổ túc cho đầy
đủ hơn là để tưởng nhớ
và ghi ơn cố GS Nguyễn Khắc Kham, một
trí thức hàng đầu của dân tộc
Việt đã sản xuất ra nhiều thế
hệ trí thức trong ba phần tư thế kỷ
qua và những môn sinh ấy của Giáo sư
đã đóng góp vào việc xây
dựng, cũng cố và phát huy nền văn
hóa dân tộc vừa mới thoát khỏi
nền đô hộ của thực dân Pháp.
Đại học Stanford
ngày 10 tháng 5 năm 2007
Uỷ Ban Bảo Vệ
Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ Việt Nam
Đại-Diện: GS Nguyễn Văn Canh.
![]()

1- BIỂN ĐÔNG CỦA
BÁU NƯỚC TA
Nước Việt-Nam
nằm cạnh Biển Đông. Lãnh-thổ
và hải-phận Biển Đông là
tài-sản tiền-nhân để lại cho
dân-tộc ta.
1.1- KHÁI-QUÁT BIỂN
ĐẢO VIỆT-NAM
Tài-liệu
chính-thức từ giới-chức cầm-quyền
Việt-Nam viết như sau:
Nước ta
giáp với Biển Đông ở hai phía
Đông và Nam. Vùng biển Việt Nam là
một phần Biển Đông.
- Bờ
biển dài
3,260km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Như
vậy cứ l00 km2 thì có l km bờ
biển (trung bình của thế giới là 600km2
đất liền/1km bờ biển).
- Biển
có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc-quyền
kinh-tế và
thềm lục-địa với
diện tích trên 1 triệu km2 (gấp 3
diện tích đất liền, 330,000km2).
- Trong
đó có 2 quần đảo Hoàng-Sa, Trường-Sa và 2,577 đảo
lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng
tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm
chủ vùng biển.
- Có
vị trí chiến lược quan trọng: nối
liền Thái Bình Dương
với Ấn Độ Dương, châu Á với
châu Âu, châu Úc với Trung Đông. Giao
lưu quốc tế thuận lợi, phát triển
ngành biển.
- Có
khí hậu biển là vùng nhiệt
đới tạo điều kiện cho sinh vật
biển phát triển, tồn tại tốt.
- Có
tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong
phú, đa dạng, quý hiếm.
- 26
tỉnh, thành phố ven biển chiếm 42%
diện-tích và 45% số dân cả
nước. Khoảng 15.5 triệu người sống
ở đới bờ, 16 vạn người ở
đảo.
* Vùng biển
và hải đảo nước ta có vị
trí chiến lược hết sức to lớn,
có ảnh hưởng trực tiếp đến
sự nghiệp bảo vệ nền độc lập
dân tộc và xây dựng chủ nghĩa
xã hội, có liên quan trực tiếp
đến sự phồn vinh của đất
nước, đến văn minh và hạnh phúc
của nhân dân.[1]
1.2- CỦA BÁU CỦA
MỘT NƯỚC
"Của
báu của một nước, không gì
quý bằng đất đai: nhân-dân và
của cải đều do đấy mà sinh ra".
Đó là câu sử-gia Phan-Huy-Chú dùng
mở đầu cho "Quyển 1 - Địa-dư-Chí".
Toàn tập sách có nhiều quyển,
được hoàn-thành năm 1820 mang tên
là "Lịch-Triều Hiến-chương
Loại-chí".[2]
Ngày nay, danh-từ được nói một
cách tổng-quát là "đất
đai" như vậy cần kể thêm cả
vùng trời và nhất là vùng biển
bao la rộng lớn vây quanh nữa.
Hoàng-Sa mất,
Trường-Sa đang bị xâm-lăng.
Năm 1974,
quần-đảo Hoàng-Sa lọt
hoàn-toàn vào tay Trung-Cộng.
Năm 1988, tức
là sau đó 14 năm, nhiều vùng của
Trường-Sa đã bị ngoại-lai xua quân
xâm-lấn trắng trợn, đánh chìm tàu
Việt-Nam, chiếm cứ hàng loạt
hải-đảo của ta.
Năm 1994,
Trung-Cộng ngang ngược ngăn-chặn cả
việc khai-thác dầu khí ngay trên thềm
lục-địa Việt-Nam,
chèn ép phái-đoàn Việt-Nam cũng
như các nước vùng Đông-Nam-Á (ĐNÁ)
khác vào những thỏa-ước song-phương có lợi
cho chúng.
Sang
thiên-niên-kỷ mới 2000, Trung-Cộng
thành-công khi áp-lực được CHXHCN
Việt-Nam chấp-nhận một đường
biên-giới mới trong Vịnh Bắc-Việt, thiệt-hại cho nước ta. “Hiệp
định giữa nước Cộng hoà Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam và nước
Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về phần
định lãnh hải, vùng đặc-quyền
kinh-tế và
thềm lục-địa của hai
nước trong Vịnh Bắc Bộ" đã
được Quốc hội nước CNXHCN Việt Nam
khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày
15-6-2004.
Từ 2005,
Việt-Nam và Phi-Luật-Tân đã bị
buộc phải hợp tác để Trung-Cộng
được ngang-nhiên thám-sát
tài-nguyên một vùng rộng lớn 143,000 km2,
sâu xuống tận cùng khu-vực cực nam
của hải-phận ta.
Năm nay
2007, Trung-Cộng vẫn tuyên-bố 80% Biển
Đông hình Lưỡi Rồng (U shape hay 9
gạch) là của họ.
Nguy-cơ
Việt-Nam mất thêm đảo và
hải-phận Biển Đông cũng còn
nguyên đó!

Hình 1. Biển Đông
với Hoàng-Sa, Trường-Sa và một
số địa-danh quan-trọng.
Vì nước
nào có địa-phận nước ấy,
người dân có bổn-phận giữ gìn
lãnh-thổ cho được nguyên vẹn. Bờ
cõi nước ta xưa nay bao gồm hai
quần-đảo Hoàng-Sa và
Trường-Sa. Chính-quyền nào của
Việt-Nam cũng phải dồn nỗ-lực cho
công-tác bảo-vệ di-sản của
tiền-nhân. Ngoài việc phòng-thủ
những đảo còn lại, quốc-sách
cần bao gồm các kế-hoạch tái-lập
chủ-quyền quốc-gia
trên các đảo đã mất. Phần
chính kế-hoạch này được
bảo-mật nhưng phần chuẩn-bị cho
kế-hoạch như huấn-luyện, điều-hành,
tiếp-vận, tâm-lý-chiến, tình-báo,
vận-động ngoại-giao v.v... phải
phổ-biến đến mọi lực-lượng
quân-sự, dân-sự, các cơ-sở
ngoại-giao, hành-chánh... liên-hệ để
tất cả sẵn sàng phối-hợp thi-hành
ngay khi có biến-cố hay khi có cơ-hội
thuận-tiện.
Dù sao chăng
nữa, đi trước tất cả những
kế-sách đó, mọi người Việt-Nam
chúng ta cần được "trang-bị" ngay
những kiến-thức địa-dư căn-bản
về hai quần-đảo trên. Ý-nghĩ
sắp-xếp công việc ưu-tiên như vậy
cũng là ý của người xưa. Sử-gia
Phan-huy-Chú đã quyết-định ấn-hành
chương "Dư-địa-chí" trước
9 chương khác là Nhân-vật-chí,
Quan-chức-chí, Lễ-nghi-chí,
Khoa-mục-chí, Quốc-dụng-chí,
Hình-luật-chí, Binh-chế-chí,
Văn-tịch-chí và Bang-giao-chí. Ông
viết một câu xác-đáng như sau:
"...Vậy trước hết phải khảo-cứu
những điều cốt yếu về bờ cõi
lúc chia lúc hợp, núi sông chỗ
hiểm, chỗ bằng, làm ra
Dư-địa-chí chép lên đầu".
Cùng trong
nhận-thức như vậy, nhiều học-giả
Việt-Nam trước đây đã từng
nói là "chính-quyền nên đem ngay
vấn-đề Hoàng-Sa Trường-Sa vào trong chương-trình
giáo-dục học-đường, hành-chánh
và quân-sự"[3]
Điều đề-nghị hợp-lý này
đã được đưa ra từ hơn 20
năm về trước, xem ra chính-quyền lúc
đó và cả chính-quyền ngày nay
nữa cũng không mấy lưu-tâm.
Người
Việt-Nam không muốn bị ngoại-bang bắt
nạt, xâm-lấn. Dân ta chỉ tiến-bộ
và nước ta chỉ phú-cường với
một nền giáo-dục khai-phóng. Có lẽ
vì thiếu tài-liệu để đọc,
không mấy người dân trong nước
nắm vững được những diễn-biến
quân-sự ngoài Hoàng-Sa Trường-Sa.
Tình-trạng còn mất, hiểm-nguy ngoài
Biển Đông nếu bị bưng bít, chỉ
có hại cho tiền-đồ Tổ-Quốc mà
thôi.
Khi viết
sách này, không những chúng tôi
đã đi ra ngoài khuôn-khổ giáo-khoa
mà còn muốn lạm-bàn thêm nhiều
chuyện diễn-biến cận-đại. Lại
nhằm lúc không-khí chiến-tranh còn
vất-vưởng, đe doạ bao trùm
Biển-Đông, nên dù bài viết mang
nhan-đề "Địa-lý Biển
Đông với Hoàng-Sa và
Trường-Sa nhưng nhân cơ-hội, chúng
tôi đã ghi thêm vào vài nét
"chấm-phá" về địa-lý
quân-sự. Sách viết cũng không nhằm
việc tranh-cãi chủ-quyền lãnh-thổ trên
trường quốc-tế nhưng vì sự
tranh-chấp lãnh-hải hiện
đang trong hồi quyết-liệt, chúng tôi
cũng ước-lượng một số
đường ranh giới về hải-phận theo
với luật-pháp quốc-tế hiện-hành.
Trong vài
trường-hợp ý-kiến chúng tôi đi
hơi quá xa. Có thể những quan-niệm
riêng rẽ của cá-nhân như vậy sẽ
không được dùng khi mang ra tranh-tụng
trên bàn thương-thảo quốc-tế. Tuy
vậy các bản-đồ về ranh-giới hải-phận không
phải hoàn-toàn giả-tưởng, ít
nhiều chi-tiết sẽ là những mấu chốt
suy-luận trợ giúp cho việc giải-đáp
một số câu hỏi rắc rối về
pháp-lý sau này.
1.2 – BIỂN ĐÔNG,
SỰ SỐNG CÒN VIỆT-NAM
Viện
trưởng Viện Chiến lược Phát
triển, PGS. TS Ngô Doãn Vịnh cho rằng
chúng ta phải “xây dựng chiến
lược kinh tế biển cho đất nước,
không thể nói khác, không thể chậm
trễ hơn!” Trong bài viết bài
“Chiến lược phát triển, Nhìn
từ góc độ lý luận và thực
tiễn” đề ngày 16/7/2004, nhiều câu
rất xác-đáng như sau:
Việt Nam có
hơn 3200km bờ biển, nước ta là một
quốc gia ven biển, chịu tác động mạnh
mẽ, trực tiếp từ các chiến lược
khai thác biển của các nước trên
thế giới và nhất là của các
nước trong khu vực. Trong thế
kỷ 21 người ta cho là thế kỷ của
Biển. Các dân tộc đua nhau ra biển,
giành giật lợi ích từ biển. Các quốc
gia có biển đều xây dựng chiến
lược khai thác biển cho mình. Các
chiến lược gia cho rằng nếu nền kinh
tế thế giới tăng trưởng với mức
6%/năm, dân số tăng khoảng 2%/năm và
với trình độ công nghệ như hiện
nay thì chỉ khoảng 20 năm nữa trên
đất liền các nguồn tài nguyên
sẽ bị cạn kiệt; với trình độ
công nghệ như hiện thời thì không
thể giải quyết được vấn đề
đói nghèo, ô nhiễm môi trường, thất
nghiệp… Vì thế nhân loại sẽ
phải chuyển sang bốn hướng công nghệ
mũi nhọn và một trong số đó là
công nghệ đại dương. Trong bối cảnh đó ai ra biển
trước người đó đỡ thiệt
thòi hơn và có thể thu được
lợi nhiều hơn từ biển. Đối với
Việt Nam, trong khi công tác điều tra cơ
bản về biển và ven bờ còn nhiều
hạn chế, hiểu biết của chúng ta về
các nước trong lĩnh vực khai thác
biển cũng chưa thật nhiều, tiềm lực
kinh tế cũng như khoa học công nghệ về
biển chưa có gì đáng kể, thậm
chí có thể nói là yếu mà
chúng ta phải xây dựng chiến lược
kinh tế biển cho đất nước, không
thể nói khác, không thể chậm trễ
hơn! vậy thì chúng ta phải làm sao
đây? và làm như thế nào?
Theo
các tác-giả cuốn sách “Việt Nam - môi
trường và
cuộc sống”[4]
cũng như hội-viên của “Hội Bảo
Vệ Thiên Nhiên và Môi Trường
Việt Nam”,[5]
Biển Đông liên-hệ đến sự
sống còn của
dân ta. Các nguồn tài nguyên và
môi trường biển
và vùng bờ của đất nước
có tầm quan trọng trực tiếp đối
với hàng chục triệu người dân
nông thôn, đặc biệt đối với
hơn 17 triệu dân sống ở các huyện ven
biển và các đảo ven bờ. Cho nên,
Việt Nam đã có nhiều nỗ lực
bảo vệ và quản lý vùng bờ theo
hướng hiệu quả và bền vững, với
quan điểm là "nguồn lợi biển và
tài nguyên bờ phải được sử
dụng dài lâu, vừa thoả mãn
được nhu cầu kinh tế trước mắt
trong sức chống chịu của các hệ sinh
thái, vừa duy trì được nguồn
tài nguyên cho các thế hệ mai sau.
Cuốn
sách kết-luận: “Thế kỷ XX con
người đi lên trời và vẫn tiếp
tục thám hiểm vũ trụ, còn thế
kỷ XXI con người sẽ đi ra biển. Thế
kỷ XXI là kỷ nguyên của biển và
đại dương, biển sẽ là cứu tinh
của cả thế giới. Vì biển là
nơi dự trữ cuối cùng của loài
người về lương thực, thực phẩm,
nhiên nguyên liệu.”
…Nhận
diện "Việt Nam biển" cũng chính
là bắt đầu một cách nhìn mới
và đầy đủ về chân dung kinh tế
Việt Nam. Đó là một Việt Nam mang
sóng biển Đông hòa vào bể lớn
của thương trường quốc tế theo
cách tiếp cận phát triển bền vững.
Người
Tàu quan-niệm Biển Đông là
“không-gian sinh-tồn” của dân-tộc
họ, nên quyết-liệt giành giựt. Với
chúng ta, sự quan-trọng “sinh tử tồn
vong”, liên-hệ sống & chết giữa
Biển Đông và dải đất hẹp Việt-Nam
còn phải đặt cao hơn thế nữa mới
đúng!
1.3 –
TÀI-LIỆU ĐỊA-DƯ, NHỮNG YẾU-TỐ
CHÍNH-XÁC
Tài-liệu địa-lý cũng như
các tài-liệu khoa-học khác, cần
chính-xác.
1.3.1
– SỰ CHÍNH-XÁC TRONG TÀI-LIỆU
ĐỊA-LÝ
Những tài-liệu về địa-lý
kể cả hoạt-động quân-sự dùng
nơi bài viết này đã được
chúng tôi lấy từ các thư-viện
công-cộng vùng Bắc California, ai muốn
đọc đều được. Dù sao chúng
tôi cũng rất tự-chế mà không
bàn đến các yếu-tố chiến-lược,
chiến-thuật nếu xét rằng các
yếu-tố này có thể nguy-hại đến
an-ninh lãnh-thổ, nhân-mạng Việt-Nam...
Cho dù đã cố gắng sưu-tầm
tài-liệu, chúng tôi không tránh
khỏi khuyết-điểm và nhầm lẫn khi
trình-bày những kiến-thức
tương-đối mới lạ này, xin quý-vị
lượng-thứ. Và... nhân-tiện đây
cũng xin kêu gọi tất cả người
Việt chúng ta cùng giúp nhau cẩn-trọng
trong vài vấn-đề như sau:
- Địa-danh. Về
phương-diện này, học-giả
Võ-Long-Tê đã đặt vấn-đề
từ hai thập-niên trước đây.[6]
Những địa-danh như Tây-Sa, Nam-Sa,
Vĩnh-Lạc v.v... của Trung-Hoa nên được
sử-dụng một cách thận-trọng khi
đề-cập đến chủ-quyền Việt-Nam. Như lời
ao-ước của ông Võ-long-Tê, chúng
tôi cũng đã thấy các địa-danh
trong Biển Đông nên gọi theo các
"đặc-danh thuần Việt". Được biết
Tiến sĩ Địa mạo, chuyên sâu:
Địa mạo biển Nguyễn-Hoàn đã
chủ trì đề tài "Địa danh hai
quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa"
thuộc chương trình Biển Đông - Hải
đảo, mã số BĐ - HĐ - 01, các năm
1997-1999.
Nếu giới
hữu-quyền Việt-Nam lại tôn-trọng Luật
Biển quốc-tế và các
quy-ước quốc-tế khác mà vẽ
được các bản-đồ hải-phận,
xác-định được đảo ra
Đảo, đá ra Đá, bãi nông,
bãi ngầm v.v...
thì thật là ích quốc lợi dân
lắm vậy!
Những
bản-đồ hay hải-đồ Biển Đông
đầy đủ địa-danh Việt-Nam như
vậy, đi kèm với những chi-tiết
cần-thiết cũng làm chúng ta
hãnh-diện với người nước ngoài
và nhiều ít đóng góp thêm
tài-liệu pháp-lý trong sự tuyên-bố
chủ-quyền của
dân ta trên biển.
Qua các
tài-liệu trước đây, vì chúng
tôi nhận ra những con số sai-lạc nên
đã tự-ý dùng các hải-đồ
khả-dụng ngày nay để
ước-lượng cùng sửa chữa lại cho
gần với thực-tế hơn. Tuy vậy, vài con
số mà chúng tôi đưa ra trong
tài-liệu này chỉ là những
ước-lượng (một cách
phỏng-định) do cá-nhân chúng tôi
đơn-độc làm lấy nên có thể
còn lầm-lẫn. Mong rằng các cơ-quan
thẩm-quyền về đo đạc đưa ra những
con số chính-xác làm tiêu-chuẩn sau
này. Chỉ bằng cách công-bố những
dữ-kiện, yếu-tố thật đúng
đắn; những tập tài-liệu của
chúng ta mới tạo được uy-tín cho
Việt-Nam trên bàn tranh cãi quốc-tế.
Đơn-cử sau
đây là những "con số"
điển-hình mà chúng tôi đã
ước-lượng, có thể cũng chưa
hẳn chính-xác:
- Khoảng
cách gần nhất từ quần-đảo
Hoàng-Sa và
đất liền Việt-Nam:
a- Đến
Cù-lao Ré 123
hải-lý (hl.).
b- Đến
đất liền Quảng-Ngãi 135 hải-lý.
Các
tài-liệu Việt-ngữ đều cho những
khoảng cách này xa hơn nhiều. Thường
khoảng cách quần-đảo / đất liền
hay được tính từ Hoàng-Sa tới
Đà-Nẵng: là trên 200 hải-lý.
- Chiều
dài bờ biển Việt-Nam thường
được ghi là 2,500km, hay có khi
giản-tiện là 2 ngàn cây-số. Những
độ dài này quá ngắn so với sự
thực. Chính-quyền hiện nay công-bố
là Việt Nam có 3,260km bờ biển từ
Móng Cái đến Hà Tiên, đôi khi
ghi thêm phụ chú: trải qua 13 vĩ độ,
từ 8o23' bắc đến 21o39' bắc.
Chúng tôi ước-lượng lại bằng
cách dùng các hải-đồ tỷ-lệ
lớn và lấy thước đo kéo dài
vòng theo duyên-hải và thấy con
số đạt được lớn hơn. Luật-gia
Mark J. Valencia của East-West Center, Honolulu,
khi tham-khảo tài-liệu, đã đưa ra
một con số “đáng kinh-ngạc”: 2,828
hải-lý tức 5,237km đường ven biển.[7]
- Vị-trí biển
Trường-Sa thường lúc xưa chỉ kể
tới vĩ-độ 8o00' Bắc (N, Nord),
chúng tôi đề-nghị ghi theo một số
các tài-liệu quốc-tế cho rộng xuống
phía Nam ít nhất 240 hải-lý nữa,
tới vĩ-độ 4o00' Bắc. Trung-Cộng
đã vẽ bản-đồ với vùng
biển mà họ tự cho là có
chủ-quyền xuống đến
vĩ độ 3o20' Bắc. Tin tức năm 1993
cũng loan-tin họ thăm-dò dầu-hoả trên
bãi cạn James Shoal (vĩ-độ 3o58'
Bắc, kinh-độ 112o15' Đông).[8]
- Diện-tích và
chiều cao của các đảo. Sự sai
biệt có lẽ quá lớn ở những
trị-số này. Các đảo thuộc
Hoàng-Sa/Trường-Sa thường được ghi
diện-tích tới nhiều cây số vuông.
Sự thực, các đảo ngoài khơi
Biển Đông rất nhỏ và riêng ở
vùng Trường-Sa không có đảo
nào lớn tới nửa cây số vuông.
Về cao-độ, các đảo cũng hay
được ghi quá cao như đảo Nam-Yết
tới 20m (hay 61ft) chẳng hạn.
Tuy Nam-Yết đúng là một trong những đảo
cao nhất quần đảo Trường-Sa nhưng
đỉnh của đảo cũng chỉ vượt
lên khỏi mặt biển chừng 5m mà thôi!
Có thể một vài cây nhàu, cây
bàng biển vươn lên trên mặt
đảo khoảng 5, 7 thước nữa, nhưng
thật ra không thể làm cao-độ của
đảo tăng lên nhiều quá đến
như vậy. Tàu bè phải tới thật
gần mới nhận ra được những hòn
đảo ngoài Biển Đông.
- Tổng-số các
đảo. Tổng-số các đảo (island),
đụn (dune), cồn (cay), đá (rock), bãi
cạn, bãi ngầm (bank, shoal, reef)...
thuộc Hoàng-Sa, nếu không đúng hệt như sách
cổ Việt-Nam đã ghi là 130 thì cũng
phải kể đến con số hàng trăm.
Không thể vì lý-do không liệt-kê
được hết các địa-danh mà
người ta ghi một số lượng quá
nhỏ. Chẳng hạn như nói "Tây-Sa 7
đảo, 9 đảo", kiểu như danh-từ
"Thất-châu", "Cửu-châu" của
Tàu dùng để gọi quần-đảo
Hoàng-Sa trước đây. Trường-hợp
ở quần-đảo Trường-Sa, số
lượng đơn-vị đất đá như
vậy còn lớn hơn nhiều. Những
tài-liệu địa-chất viết:
"quần-đảo Trường-Sa gồm có 9
đảo"[9]
đã đưa ra một con số quá
khiêm-tốn.
Chúng tôi xin nghiêng về sự
ước-lượng "một cách
tỉ-mỉ" với những con số lớn lao hợp-lý hơn,
thay cho các số nhỏ bé vẫn dùng trong
các tài-liệu địa-lý Việt-ngữ,
Hoa-ngữ xưa nay.
Đơn-vị đất (land masses) đã
được một số học-giả như Michael
Bennett sử-dụng. Con số ước-lượng
có tới 500 "đất" cho hai
quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa.[10] Trong số đó, khoảng 100 đơn-vị
đã được đặt tên.
1.3.2-
YẾU-TỐ CHÍNH-XÁC DÙNG TRONG LUẬT
BIỂN.
Tổng-số đảo hay đá,
diện-tích và chiều cao của đảo hay
đá cũng như chu-vi đảo, diện-tích
lãnh-thổ, chiều dài bờ biển,
tỷ-lệ bờ biển/ đất liền v.v...
là những con số dùng để
tính-toán trong việc quy-định các loại
hải-phận theo Luật Biển LHQ. ngày nay.
Trong tương-lai cận kề, mọi
quốc-gia dù chống đối hay đồng-ý
việc thi-hành Luật Biển Liên-Hiệp-Quốc
(Liên hợp-quốc – LHQ.) cũng đều
sẽ chịu ảnh-hưởng chi-phối
trực-tiếp hay gián-tiếp của những
điều-luật này. Trong các sách viết
về Luật Biển, thường là rất
dầy, có những điều khoản
ấn-định ranh giới hải-phận dựa
trên vị-trí và
tình-trạng các đảo, cồn, đụn,
đá...; nghĩa là những đơn-vị
đất đá "land masse" phù-hợp theo
một số điều-kiện quy-định.
Số lượng nhiều ít "land masses"
là một chuyện, quốc-gia chủ-quyền sẽ phải
xác-định những đơn-vị nào
đủ điều-kiện như một "hòn
đảo" và "hòn đá",
nghĩa là "thường-trực nổi lên
mặt biển (permanently above sea level) ngay cả khi
thủy-triều dâng lên tối đa. Đảo
được kể theo pháp-lý như
đất liền, kể cả hải-phận kinh-tế 200hl.
Đá chỉ có lãnh-hải 12hl. mà thôi.
Đá giống đảo là nổi lên
mặt biển thường-trực nhưng nhỏ
bé và cằn cỗi, con người không
thể sinh sống được. Điều-kiện
này rất khó xác-định nên
đã gây ra nhiều tranh-luận.
Tổng-số đảo hay đá, vị-trí, diện-tích và chiều cao của đảo
hay đá cũng như chu-vi đảo,
diện-tích lãnh-thổ, chiều dài bờ
biển, tỷ-lệ đất/biển v.v... là
những con số ảnh-hưởng nhiều ít dùng
để tính-toán và quy-định
hải-phận theo Luật Biển LHQ. ngày nay.
Tại vùng quần-đảo Trường-Sa,
các "đơn-vị đất"
được ước-lượng trong khoảng
từ 300 đến 400. Dựa vào những
tài-liệu địa-lý hiện-hữu, Viện
Nghiên-Cứu Đông-Tây ở Hawaii cho rằng
chỉ có 33 đơn-vị thường-trực
nổi lên mặt biển, gồm có 26 đảo
và 7 đá.
Bản-đồ Hoàng-Sa Trường-Sa với
địa-danh cùng một số chi-tiết khác
nữa xin được trình-bày trong những
phần sau.
thường-trực cao hơn mặt
biển
|
Tên ghi trên hải
đồ |
Tên Việt-ngữ |
Tọa độ |
Quốc-gia cđ |
Độ cao |
|
TÊN
ĐẢO (26) |
|
|
|
|
|
ALICIA ANNIE REEF |
Đá Suối Ngọc |
09 25 N 115 25 E |
|
C- 1.2m |
|
AMBOYNA CAY ISL |
Đảo An Bang |
07 51 N 112 55 E |
VN cđ |
C- 2m |
|
COMMODORE REEF |
Đá Công Đo |
08 20 N 115 25 E |
Phi cđ (Rizal) |
C- .3m |
|
FLAT ISLAND |
Đảo Bình Nguyên |
10 48 N 115 50 E |
Phi cđ (Patag) |
I- |
|
GAVEN REEF |
Đá Ga Ven |
10 12 N 114 14 E |
TC cđ (Nam Xun Jia) |
D- 2m |
|
GRIERSON REEF |
Đá Grierson |
09 53 N 114 35 E |
VN cđ (cạnhSh-Tôn Đ) |
C- |
|
IRVING REEF |
Đảo Cá Nhám |
10 55 N 114 56 E |
|
C- |
|
ITU ABA ISLAND |
Đảo Ba Bình |
10 23 N 114 21 E |
Đài-Loan cđ |
I- 4.8m |
|
LANKIAM CAY |
Đảo “Lankiam” |
10 43 N 114 31 E |
Phi cđ (Panata) |
C- |
|
LEN DAO (Lansdown Reef) |
Đảo Len |
09 46 N 114 22 E |
VN cđ |
D- |
|
LOAITA CAY (Losita Nan) |
Đá Loại Ta |
10 41 N 114 25 E |
(cạnh đ.
Loại-ta) |
C- |
|
LOAITA ISLAND |
Đảo Loại Ta |
10 41 N 114 25 E |
Phi cđ (Kota) |
I- 2m |
|
MARIVELES REEF |
Đá Kỳ Vân |
07 59 N 113 50 E |
Malesia cđ |
C- 1.5m |
|
NAMYIT ISLAND |
Đảo Nam Yết |
10 11 N 114 22 E |
VN cđ |
I- 5m |
|
NANSHAN ISLAND |
Đảo Vĩnh Viễn |
10 43 N 115 49 E |
Phi cđ (Lawak) |
I- 2.5m |
|
NORTH EAST CAY |
Đảo Song Tử Đông |
11 27 N 114 21 E |
Phi cđ (Parola) |
C- 3m |
|
PEARSON REEF NE |
Hòn Síp (Hòn Sáp?) |
08 58 N 113 40 E |
VN cđ |
C- 2m |
|
PEARSON REEF SW |
Hòn Sáp (Hòn Síp?) |
08 55 N 113 35 E |
VN cđ |
C- 1m |
|
SAND CAY |
Đảo Sơn Ca |
10 23 N 114 28 E |
VN cđ |
C- 3m |
|
SANDY CAY |
Đảo “Sandy” |
11 03 N 114 13 E |
|
C- |
|
SIN COWE ISLAND |
Đảo Sinh Tồn |
09 51 N 114 22 E |
VN cđ |
I- 2.5m |
|
SOUTHWEST CAY |
Đảo Song Tử Tây |
11 26 N 114 19 E |
VN cđ |
C- |
|
SPRATLY ISLAND |
Đảo Trường-Sa |
08 38 N 111 55 E |
VN cđ |
I- 2.5m |
|
THI-TU ISLAND |
Đảo Thị Tứ |
11 03 N 114 17 E |
Phi cđ (Pagasa) |
I- |
|
WEST REEF-Thuộc LondonRfs |
Đá Tây |
08 51 N 112 12 E |
VN cđ |
C- .6m |
|
WEST YORK ISLAND |
Đảo Bến Lộc |
11 05 N 115 01 E |
Phi cđ (Licas) |
I- |
|
TÊN
ĐÁ (7) |
|
|
|
|
|
BARQUE CANADA SHOAL |
Bãi Thuyền Chài |
03 12 N 113 19 E |
VN cđ |
R- 4.5m |
|
DISCOVERY GREAT REEF |
Đá Lớn |
10 01 N 113 51 E |
VN cđ |
R- |
|
EAST REEF-Thuộc LondonRfs |
Đá Đông |
08 49 N 112 33 E |
VN cđ |
R- .6m |
|
FIERY CROSS REEF |
Đá Chữ Thập |
09 38 N 112 57 E |
TC cđ (Yung Shu Jiao) |
R- |
|
LOUISA REEF |
Đá Louisa |
06 00 N 113 16 E |
|
R- 1.0m |
|
ROYAL CHARLOTTE REEF |
Đá Sắc Lốt |
07 00 N 113 35 E |
|
R- .6m |
|
SWALLOW REEF |
Đá Hoa Lau |
07 22 N 113 49 E |
Malaysia cđ |
R- 1.5m |
|
|
||||
|
*Chữ viết tắt; cđ=chiếm
đóng (có quân trú-phòng),
VN=Việt-Nam, TC-Trung-Cộng. |
||||
|
*Đảo được tính
chủ-quyền hải-phận và
vùng kinh-tế EEZ (200 hl). Đá chỉ tính
lãnh-hải 12
hl. |
||||
|
*Tài-liệu lấy trong Ocean Yearbook 10, 1993 liệt-kê
thành 3 loại: (9) Island, (15) Cay, (2) Dune, (7) Rock;
viết tắt là I, C, D, R |
||||
Hình 2. Bảng
liệt-kê các đảo và đá
thuộc quần-đảo Trường-Sa.
2 –
BIỂN ĐÔNG XƯA, MAI
VÀ NAY.
Biển Đông đã thay hình đổi
dạng nhiều lần trong quá-khứ.
2.1 - KHAI-SINH CỦA BIỂN ÐÔNG
Theo các nhà
địa-chất, lúc xưa trái đất chỉ lớn
bằng 4/5 thể-tích mà ta thấy ngày nay.
Các lục-địa dính chùm vào
với nhau thành khối đại lục-địa
Pangea. Cách nay 340 triệu năm, ở khu-vực
phía Ðông gần xích-đạo (sau này
thành vùng Ðông-Nam-Á) xuất-hiện
một cái hồ chứa nước hình
tam-giác đều mỗi cạnh chừng vài
trăm cây số.
Vào khoảng 240 triệu
năm trước, khi Pangea bắt đầu
bành-trướng, các lục-địa tách
rời nhau và trái đất lớn dần.
Kích-thước “hồ nước”
tam-giác đủ lớn và đủ sâu
để làm cho lớp vỏ trái đất
dưới đáy của nó mỏng dần
và giãn nở theo với đà bành-trướng
của các lục-địa. Nhiều yếu-tố
thiên-nhiên phối-hợp với nhau, làm thay
đổi cấu-trúc địa-chất của lớp vỏ
trái đất chỗ đó, vỏ
đại-dương thành hình: “Hồ
nước” đã trở thành Biển
Ðông.
Lúc mới thành-hình,
biển này nằm ở phía Bắc khu
đất hình chữ “S nằm ngang”, sau
này thành ra lãnh-thổ của nước
Việt-Nam ta.
Theo Bản-đồ
Thành-Hệ Kiến-Trúc-Việt-Nam[11],
chúng ta hình-dung sự diễn-tiến
hình-thành của Biển Ðông như sau:
- Cách
nay 240 triệu năm, từ hình tam-giác
đều, hồ nước biến hình-thành
một lá cờ đuôi nheo dài hàng
ngàn cây-số. Phía cán cờ nối
thẳng từ Đài-Loan tới Hoàng-Sa. Cạnh đuôi nheo chạy rất gần bờ
biển Miền Trung Việt-Nam kéo dài tới khu
Cù-lao Thu (ngoài khơi Phan
Rang, Phan Thiết ngày nay…
- Khoảng
220 triệu năm đến 80 triệu năm
trước, hình-dạng cờ đuôi nheo
biến-dạng thật nhanh. Biển Ðông
đã kéo dài khoảng ba ngàn
cây-số, xuống tận ngoài khơi Singapore.
Trong khi đó biển Malacca cũng hiện-hữu song song
và độc-lập với Biển Đông, chạy
từ Bangkok đến Singapore ngày nay.
- Vịnh Thái-Lan, trong đó
có Vịnh Phú-Quốc nhỏ bé của Việt-Nam
như vậy đã hình-thành từ lâu,
trước vịnh Bắc-Việt. Không giống Biển Đông, lớp vỏ
trái đất dưới đáy biển Malacca không giãn mỏng
và vùng biển này tiếp-tục nông cạn.
Nhiều lần trong quá-khứ vào những
thời Băng Đá, Vịnh Thái-Lan trở
thành một cái đồng-bằng trũng rộng lớn, bao
trùm bởi các cánh rừng
nhiệt-đới um-tùm.

Hình 3. Biển Đông
lúc mới thành hình.
- Cách
nay 37 triệu năm, Biển Ðông
bành-trướng khá mạnh. Diện-tích
vào khoảng chừng 70% diện-tích
hiện-thời. Sau đó mấy chục ngàn năm,
Biển Ðông đã thu-hút luôn cả
Biển Malacca để nhập
vào một Biển lớn. Vẫn chưa thấy
xuất-hiện hình-dạng của Vịnh
Bắc-Việt vì đáy
biển ở đó
chưa giãn mỏng và nước chưa
tràn vào.
- Ngày
khai-sinh của Vịnh Bắc-Việt được Viện
Ðịa-Chất và Khoáng-Sản (thuộc Cục
Ðịa-Chất Việt-Nam) ước-lượng
chỉ vào khoảng 11 triệu năm trước
đây. Khi đáy biển bị giãn mỏng,
chìm xuống, Vịnh thành hình. Thường
thì Vịnh ngập nước, nhưng đôi khi
cũng khô cạn, tuỳ theo với mực
nước thấp của Thái-Bình-Dương
trong thời-đại Băng Đá.
- Hiện
thời cả Biển Ðông và Vịnh
Bắc-Việt xem ra vẫn còn
đang tiếp-tục bành-trướng.

Hình 4. Hình-ảnh Biển
Đông 220 triệu năm trước.

Hình 5. Hình-ảnh Biển
Đông 140 triệu năm trước.
Tiểu
lục-địa Ấn-Ðộ, rồi tiểu
lục-địa Úc-Ðại-Lợi sau khi tách
ra, trôi về hướng Ðông-Bắc. Khi
tiểu lục-địa Ấn-Ðộ đụng
vào lục-địa Á-Âu tạo ra dãy
núi “trẻ” Hi-Mã-Lạp-Sơn, nó
cũng làm vùng đất Việt-Nam xoay
chuyển dần sang hướng Bắc-Nam (chữ S
đứng thẳng). Biển lúc này chuyển
từ từ sang phía Ðông của Việt-Nam.
2.2 – BIỂN
ĐÔNG QUÁ-KHỨ, CÁI NÔI VĂN-HÓA,
TRUNG-TÂM PHÁT-NGUYÊN HÀNG-HẢI.
Ngày nay nhìn vào bản-đồ
Đông-Nam-Á, chúng ta thấy Biển Đông là một
vùng biển gần như nội-địa,
diện-tích bằng 4 phần 5 của
Địa-trung-Hải. Trong quá-khứ cách nay
vài chục ngàn năm cho tới vài trăm
ngàn năm là thời-gian mà khoa-học
có nhiều dữ-kiện tương-đối
chính-xác, hình-dạng Biển Đông
hoàn-toàn khác hẳn và thông
thường nó nhỏ bé hơn bây giờ
khá nhiều. Một số nhà nghiên-cứu
cho rằng sự thay đổi về địa-lý
Biển Đông không những chỉ làm thay
đổi môi-trường sinh-sống của sinh,
thực-vật trên đất,
dưới biển trong vùng mà còn
tạo-dựng lên cả một cuộc
biến-đổi lớn làm phát-sinh những
nền văn-minh quan-trọng về
nông-ngư-nghiệp cùng
hàng-hải có thể gọi
là tiền-tiến vào bậc nhất của
nhân-loại.
Đã có nhiều nhà khoa-học cố
gắng giải-thích sự hình-thành nền
văn-hóa hàng-hải của dân Việt
nói riêng và của dân
Đông-Nam-Á nói chung. Những
sắc-thái đặc-thù này
khác-biệt hẳn với sắc-thái
văn-hóa hoàn-toàn lục-địa của
Trung-Hoa. Một số lý-thuyết được
tóm tắt như sau:
Trong lịch-sử trái đất, mực
nước biển đã dâng lên hạ
xuống nhiều lần, sự sai-biệt có tới
150m. Cách nay chừng 18,000 năm, diện-tích
Biển Đông chỉ bằng phân
nửa hiện nay. Khi băng đá hai cực
địa-cầu tan rã thì nước biển
dâng lên nhanh. Dân-cư vùng duyên-hải vốn sống bằng
cách thu-lượm tôm cá, sò ốc
phải dồn về những vùng cao hơn. Cho
đến khoảng 4,000 năm trước
Tây-lịch (TTL), hàng trăm ngàn dặm
vuông lục-địa đã bị ngập
dưới Biển Đông. Vì diện-tích
đất đai bị suy-giảm nên
mật-độ dân-số gia-tăng. Nhiều sự
tiếp-xúc, trao đổi, va chạm giữa
những giống người khác nhau đã xảy
ra. Lúc xưa dân-cư sống rải rác
khắp nơi trong vùng đất thấp rộng
lớn Sunda, nay cùng gặp nhau trong một
môi-trường sinh-hoạt mới vùng
đồi núi. Tiến-bộ khởi-sự từ
đó.
- Chester Norman cho rằng nền
Văn-minh Hòa-Bình được tạo-dựng
trong thời-gian thềm lục-địa Sunda bị ngập
nước. Khi đó vịnh Bắc-phần và
vịnh Thái-Lan mà lúc trước là hai
vùng đồng-bằng trũng, nay cũng
thành-hình.
Từ nhiều ngàn năm trước,
người dân thuộc nền văn-hóa
Hoà-Bình ở miền Tây Biển Đông
chỉ sống bằng cách săn-bắn,
hái-lượm và trồng trọt ruộng
khô trong những vùng thung-lũng. Bỗng nhiên
mật-độ dân-cư tăng lên nhanh, con
người phải có phương-pháp mới
để sản-xuất thêm thực-phẩm.
Loài trâu, loài heo được
gia-súc-hóa.
Người ta di-chuyển từ thung-lũng xuống
khai-phá đồng-bằng. Yếu-tố
quan-trọng nhất của đà phát-triển
là sự ra đời của các giống cây
cho hạt. Những loại ngũ-cốc thuần-hóa
sau này thích-hợp cho ruộng nước. Khoảng
5,500 năm trước, cây lúa đã
được trồng trọt.[12]

Hình 6. Hình-thể
Biển Đông cuối thời Băng-giá,
Hoàng-Sa Trường-Sa
dính liền vào đất Việt-Nam. Khi
nước dâng cao, dân-cư từ vùng Sunda
chạy lên các vùng cao. (The Southeast Asian World,
Keith Buchanan, New York, 1967, trang 45)
Lý-thuyết Norman cho rằng một số lớn
dân Đông-Nam-Á khởi-sự trước
hết bằng cuộc sống ở duyên-hải, sau này hội-nhập với dân-cư
vùng cao-nguyên nhưng rồi trở về lại
vùng đồng-bằng gần biển, sau nữa
phát-triển về hàng-hải.
- Buckminster Fuller, một nhà Toán-học và
Ðịa-Lý, tác giả nhiều tấm
bản-đồ “đồng-nhất
tỷ-lệ” Dymaxion World Maps, tin rằng có thể
tìm ra nguồn-gốc các nền văn-minh
vì sự liên-hệ đồng-thuận giữa
trình-độ văn-hóa, di-dân và
mật-độ nhân-số. Ông khảo-sát
địa-lý thế-giới và đưa ra
giả-thuyết là vùng duyên-hải Ðông và
Nam-Á với dân-số đậm đặc
đã khởi-nguyên những nền văn-minh
đầu-tiên của nhân-loại.

Hình 7. Thuyết Buckminster Fuller về Hải-lộ
phân-tán dân-cư. Khi nước biển
dâng cao, từ Biển Đông di-dân đi ra
khắp nơi theo các giai-đoạn phát-minh
thuyền bè, buồm, xiếm.
- Wilheim G. Solheim cho rằng 6,000 năm trước,
dân Đông-Nam-Á đã
mạo-hiểm ra khơi vì nhu-cầu di-chuyển. Gió
bão và hải-lưu của
Biển Đông và Thái-bình-Dương đã
cuốn trôi một số người tới
Nhật-Bản, trong khi các nhóm khác bị
quét sang Phi-luật-Tân (Philippines), Nam-Dương
(Indonesia) và Melanesia. Tiếp theo, những toán dân-chúng
di-chuyển tới các đảo ngoài khơi
Thái-bình-Dương và sang Madagascar.
Bàn rộng
hơn thế nữa, cũng theo Solheim, Biển
Đông của Đông-Nam-Á thời
cổ còn là nơi phát-sinh những
đường hàng-hải giao-tiếp
với các nơi ở dọc biển Á-châu,
Âu-châu, Phi-châu, Đại-dương-châu
và cả Mỹ-châu. Solheim lý-luận rằng
chỉ có sự kiện Đông-Nam-Á giữ
vai-trò trung-tâm phân-tán như trục
một cái bánh xe tỏa nan-hoa ra khắp nơi
mới giải-thích được
hiện-tượng lịch-sử là tại sao
các chủng-tộc khác-biệt của loài
người sống xa cách nhau trên khắp
thế-giới lại có nhiều sự
tương-đồng về sinh-hoạt văn-hóa như
vậy![13]
Cùng
nhận-định như Solheim nhưng đi trước
ông tới 40 năm, nhà
ngữ-học Pháp Paul Rivet đã làm
nhiều cuộc nghiên-cứu và kết-luận
rằng: "Từ vùng Đông-Nam Á-châu,
một thứ ngôn-ngữ đã được
truyền-bá đi bằng đường
hàng-hải đến
Nhật-Bản, Tasmania, Địa-trung-hải, Phi-châu
và Mỹ-châu".[14]

Hình 8. Quan-niệm
truyền-bá ngôn-ngữ ĐNÁ đi khắp
thế-giới theo đường hàng-hải, khởi-sự
từ Biển Đông (Paul Rivet, 1929).
Địa-đàng Phương Đông,
rồi Heo và
đường biển từ Việt Nam
Người Anh
mở nhiều cuộc nghiên-cứu, khám khá
những sự kiện rất mới về Biển
Đông.
- Trong cuốn sách
“Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia East”[15]
Bác-Sĩ Stephen Oppenheimer, đã dựa trên
những kiến-thức cập nhật mới đây
của các ngành khoa-học như di truyền
học, nhân chủng học, thần thoại, văn học
dân gian, ngôn ngữ học, hải dương học,
khảo cổ học... mà kết-luận nhiều
gốc rễ văn-minh nhân-loại đã
khởi-sự từ khu vực quanh Biển Đông. Theo
Ông Nguyễn Văn Tuấn, có
người còn cho rằng đây là một
quyển sách quan trọng vào bậc nhất trong
ngành Đông-Nam-Á học![16]
Tác-giả Oppenheimer
đã viết trong cuốn sách “Ðịa-đàng
Phương Đông” trên: "Lý
thuyết mà tôi trình bày trong cuốn
sách này lần đầu tiên, đặt
Đông-Nam-Á vào trung
tâm của các nguồn gốc văn hóa
và văn minh. Tôi cho rằng nhiều người
đã phải di tản khỏi vùng duyên
hải của họ ở phương Đông vì
lụt lội. Những người tỵ nạn này
từ đó vun đắp những nền văn minh
vĩ đại ở phương Tây."
- Rồi mới
đây nhất theo tin Luân Ðôn 3/21/2007, các nhà khoa
học thuộc Ðại học Durham và Oxford của
Anh quốc, khi nghiên cứu DNA của heo rừng
và heo nhà ở vùng nam Thái Bình Dương,
đã nêu giả thuyết mới về nguồn
gốc cư dân các đảo ở vùng
này là từ Việt-Nam. Trong bài báo
của Hàn Lâm Viện Khoa Học số mới
nhất, nhóm nhà khoa học trên, đứng
đầu là tiến sĩ Keith Dobney thuộc khoa
khảo cổ Ðại học Durham cho biết việc
nghiên cứu các loại gene ít bị biến
đổi trên 781 con heo ngày nay và gene heo
sống từ thời xa xưa lấy được
từ các viện bảo tàng. Do có mối
liên quan gene rõ ràng giữa heo hiện nay
ở Việt Nam và heo ở các đảo Sumatra,
Java, New Guinea, New Oceania cùng nhiều đảo nam
Thái Bình Dương, nên họ cho rằng
phần lớn các cư dân sống trên
các đảo này có nguồn gốc từ
Việt Nam. Tiến sĩ Greger Larson, nhà nghiên
cứu chính của nhóm, nhận xét heo
phải được người di cư chuyên chở
đến đó. Theo ông, tổ tiên của
các cư dân trên các hòn đảo xa
xôi đã rời Việt Nam cách đây
vào khoảng 3,600 năm, và họ đã
đi qua nhiều hòn đảo trước khi
đến các đảo nam Thái Bình
Dương.[17]
- William Meacham
khi nghiên-cứu bản-đồ địa-hình
đáy biển, cho biết lúc xưa bờ Biển
Đông tương-đối bằng phẳng.
Khoảng 14,000 năm trước đây, bè tre
đã xuất-hiện. Rồi nước biển
cứ cao dần. Khi mực nước biển gần
đạt đến mức-độ như hiện nay,
chừng 25m, bờ biển đã lùi sâu
vào lục-địa, gặp đúng chỗ
địa-thế lởm chởm, lồi lõm.
Nhiều nhóm người sống trên các
hải-đảo. Sự liên lạc, di-chuyển bằng
thuyền bè trở nên càng ngày càng
cần-thiết hơn. Các trở ngại, khó
khăn trên biển đã thúc-đẩy con
người phải phát-minh ra những cánh
buồm, những bánh lái, những loại
thuyền nhiều thân và những cơ-phận
điều-khiển khác để việc
hải-hành được an-toàn hơn,
tránh bị thổi ra ngoài khơi.[18]
Meacham tin rằng
6,000 - 4,000 năm trước Tây-lịch, những
nền văn-minh vùng châu-thổ sông Hồng
bắt đầu nảy nở. Đồ gốm
đã được nặn trên bàn xoay
ở Đậu-Dương. Khoa khảo-cổ cũng
tìm thấy dây câu, lưới bắt cá
và thuyền độc-mộc. Nhiều dân-cư
sống bằng ngư-nghiệp. (4,000 năm TTL.).

Hình
9. Bờ biển lúc xưa phẳng-phiu, nay
lởm chởm lồi lõm.
- Carl Sauer duyệt-xét
những biến-chuyển về địa-lý
Biển Đông trong thời-khoảng mười
mấy ngàn năm trước đây, đưa
ra kết-luận về tinh-thần tiến-bộ của
cư-dân người Việt (Yueh) thời cổ
như sau: "Mực nước Biển Đông
dâng cao làm tăng thêm nhịp
bồi-đắp phù-sa lên những khu
thung-lũng duyên-hà trong khi các vùng
đất thấp tiếp-tục bị lụt.
Dân-cư khi xưa sống rải rác thì
lúc này thu lại thành các vùng
cư-trú dọc theo nguồn nước... Một
thế-giới mới đã thành-hình,
sự thay đổi môi-trường vật-lý
địa-dư đã trở thành cơ-hội
thuận-tiện tối đa cho những dân thích
phiêu-lưu và mong tiến-bộ... Người
dân bỏ sự nhàn rỗi và nhờ trí-óc
tò-mò để tìm thử-nghiệm, một
cộng-đồng như vậy chỉ cần một
thời-gian ngắn để chuyển-tiếp từ ngư-nghiệp sang thẳng
nông-nghiệp.[19]
Cùng với
Meacham, Sauer ý-thức tầm quan-trọng của
ngư-nghiệp và
hàng-hải trong
tiến-trình văn-minh Đông-Á thời
cổ. Khác biệt hẳn với các nơi
khác trên thế giới, Biển Đông
và vùng đất chung-quanh có tới hai
vụ gió mùa trong một
năm, nên hoàn-cảnh rất thuận-lợi cho
sự phát-triển các ngành
nông-nghiệp, ngư-nghiệp và
hàng-hải.[20]
Vì Biển
Đông có hai vụ gió mùa nên việc
hải-hành viễn-duyên khi đi cũng như khi
về rất tiện-lợi. Hàng-hải
phát-triển kéo theo sự bành-trướng
thương-mại. Sự trao đổi hàng-hóa
nâng cao kỹ-thuật chế-tạo phẩm-vật.
- Charles F. Keyes viết trong
sách "The Golden Peninsula" rằng Việt-Nam
là nơi phát-khởi nền văn-minh
Hoà-Bình trải rộng khắp
Đông-Nam-Á.[21]
Keyes đã xác-định hai điểm sau:
* Quá-trình văn-hóa
thời tiền-sử của toàn vùng
Đông-Nam-Á thường
được chia ra làm những giai-đoạn
mà chỉ-danh từng giai-đoạn lấy từ
địa-danh các vị-trí khảo-cổ tiêu-biểu
nhất như Hòa-Bình, Bắc-Sơn,
Đông-Sơn; tất cả đều nằm trong
Bắc-phần Việt-Nam (trang 182).
* Thời-đại Đồ
Đồng xuất hiện vào khoảng 3,000
đến 2,500 năm TTL. ở Đông-Nam-Á, nghĩa là khởi-sự sớm hơn
Trung-Hoa và Ấn-Độ. Biểu-tượng
chính của nền văn-minh này là những
Trống Đồng tìm thấy ở nhiều nơi
xa xăm như Sulawesi thuộc Nam-Dương
quần-đảo. Những trống đồng như
vậy đều được đúc tại vùng
đất Đông-Sơn nhỏ
hẹp của Việt-Nam, từ đó trống
được phân-phối đi khắp
Đông-Nam-Á theo đường
hải-thương.

Hình 10. Trống
Đồng ghi-dấu khắp nơi ở
Đông-Nam-Á (Trống Đông-Sơn, Viện Khảo
Cổ Học, Hà Nội 1987, trang 131). Lưu-ý
vị-trí Đông-Sơn với
Hoàng-Sa và
Trường-Sa. (trong hai vòng tròn).
2.3 - BIỂN ĐÔNG
THUỘC ẤN-ÐỘDƯƠNG?
Vào thời
Thượng-cổ sang thời Trung-cổ, không
có một vùng biển nào của
Á-Ðông nổi tiếng trong giới
thượng-lưu cũng như thương-mại
Âu-Châu bằng Vịnh Bắc-Việt. Người giàu có
hãnh-diện mỗi khi mua được những
món hàng quý-giá mang về từ
Ðông-phương.
Một
thế-kỷ sau Tây-lịch, học-giả uy-thế
Ptolemy vẽ
bản-đồ thế-giới, ghi-nhận những
địa-danh của "bán-đảo Vàng" Mã-lai/Đông-Dương, Biển Đông với
Vịnh Bắc-Việt tận
cùng về phía Đông của
Ấn-Ðộ, Ông chú-giải chi-tiết và
vẽ hải-đồ hàng-hải giao-thương với một
Hải-cảng thuộc
Giao-Chỉ, được ghi rõ rệt là
Cattigara (hoặc
Cattigara, Kattigara, hay Katigara) tọa-độ 177 độ
Đông kinh-tuyến, 8 độ 30' Nam vĩ-tuyến.
Một chuyện
hạn-hữu mang tính-chất lịch-sử
đã xảy ra. Ðó là chuyện những
bản-đồ Ptolemy được các
học-giả Ả-Rập sử-dụng và
nỗ-lực phổ-biến khắp nơi suốt
thời-gian hơn 1,200 năm. Người ta
tin-tưởng vào công-trình của Ptolemy
đến độ một số sai-lầm trong
tác-phẩm của Ông còn tồn-tại cho
đến cuối thế-kỷ thứ 18. Trong những
sai lầm đó, quan-trọng nhất là những
yếu-tố địa-lý căn-bản của
Vịnh Bắc-Việt bị
nhiều nhà hàng-hải và
cả một sổ nhà địa-lý lừng danh
lập lại một cách lệch lạc đến
1,700 năm sau.

Hình 11. Biển
Đông với hải-cảng chính Cattigara vẽ theo bản-đồ
Ptolemy. "Ancient History
Atlas" Michael Grant, Cartograph by Arthur Bank, Mcmillan Publishing Co., Inc.,
New York, 1971: 75.
Theo Ptolemy, Vịnh Biển
Lớn (Signus Magnus - chỉ Vịnh Bắc-Việt hay rất
có thể là cả Biển Đông) là
một phần của biển Ấn-Ðộ.
Hải-cảng chính
của Vịnh này là Cattigara nằm
bên bờ phía Ðông của
Ấn-Ðộ-Dương cạnh hai con sông lớn.
Tài-liệu của Trường Viễn-Ðông
Bác-Cổ phỏng-định vị-trí hải-cảng Cattigara nằm
trong khu-vực Quảng-Yên, Hồng-Gai.[22]

Hình 12. Họa-đồ Pháp phân-giải sự
nhầm-lẫn về vị-trí và hình-thể
Vịnh Bắc-Việt của các
bản-đồ cổ Ptolemy.
2.4 – BIỂN
ĐÔNG TƯƠNG-LAI, LÃNH-HẢI THÀNH
LÃNH-THỔ
Xem xét qua
các lý-thuyết như vậy, những nhận
xét sau đây đáng được nêu ra:
- Biển
Đông và Việt-Nam không những chỉ
có liên-hệ trong thời hữu-sử mà
sự liên-hệ mật-thiết còn phải
kể từ thuở xa xưa hơn vào thời
tiền-sử.
- Nước
Biển Đông khi lên khi xuống, tuy đôi
lúc làm giông-bão cuồng-loạn thổi
trôi người vật, nhà cửa ra biển
nhưng luôn luôn là cái nôi hiền
dịu, thai-nghén và ấp-ủ văn-minh
nông-nghiệp và
hàng-hải của
dân Việt.
Hình 13. Mực nước
biển lên xuống trong quá-khứ. Nếu
không có gì thay đổi, nước Biển
Đông sắp bắt đầu khô cạn
trở lại.
- Nước
Biển Đông đã lên đến mức
tối-đa. Khoảng chừng ngàn năm trở
lại đây, nhiều nơi tại vùng
châu-thổ sông Hồng-Hà và
Cửu-Long-giang từng bị ngập nước.
Đôi khi mực nước biển có thể
đã dâng cao hơn hiện thời.
Trong một
vài thế-kỷ tới, mực nước có
thể tăng giảm, nhưng có tăng lên
cũng một vài thước là cùng.
Các vùng đất thấp đông
dân-cư đáng lo ngại bị ngập lụt
nhiều nhất là khu châu-thổ các cửa
sông Mae Nam và
thủ-đô Vọng-Các của Thái-Lan. Sau
đó, nước sẽ phải rút xuống.
Trong vòng
dăm ba ngàn năm tới, cả vịnh
Bắc-Việt và
Thái-Lan sẽ trở thành khô-cạn,
người Việt chúng ta không còn có
dịp theo mẹ lên núi nữa mà lại
khởi-sự theo cha tiếp-tục tiến xuống
Biển Đông.
- Thềm
lục-địa chúng ta bảo-vệ hôm nay
sẽ là lãnh-thổ để lại cho con
cháu chúng ta sau này. Thời-gian tuy có
thể nói là xa, nhưng cũng cần
tiên-liệu bây giờ.
- Trong
vòng dăm ba ngàn năm tới, khi nước
rút xuống 20m, eo biển Malacca trở
thành khô cạn. Biển Đông thực
sự biến thành một cái biển
nội-địa. Sự phồn-thịnh của các
thương-cảng tại Tân-gia-Ba và Mã-lai-Á chìm vào quá-khứ.
Nước biển sẽ không còn thoát ra
Ấn-độ-Dương. Biển Đông chỉ còn thông
được với Thái-bình-Dương qua eo biển
Đài-Loan và có lẽ mấy rãnh
nhỏ xuyên qua ngả Phi-luật-Tân mà
thôi.
Tại vịnh
Thái-Lan, hải-cảng Vọng-Các lùi
dần vào đất liền, trở nên một
giang-cảng. Khmer giống như Ai-Lao sẽ biến
thành một quốc-gia nội-địa. Thái-Lan
chỉ còn khu phía Tây thông ra
được biển Andaman và
Ấn-độ-Dương. Các hải-cảng Hải-phòng, Sài-Gòn mất dần
tầm-mức quan-trọng. Tuy vậy nhờ nằm
cạnh vùng biển sâu, Cam Ranh và các
cảng miền Trung-Việt sẽ còn tiếp-tục
hoạt-động và phát-triển mạnh.
Tất cả khu-vực nội-địa rộng lớn
từ Vân-Nam và Thái-Lan sang Ai-Lao, qua Khmer,
tới Việt-Nam chỉ còn trông cậy vào
sự thông-thương ra biển qua các cửa
ngõ này mà thôi.

Hình 14.