MỤC THỨ
I - Thay
lời tựa
II - Địa-lý
Biển Đông với Hoàng-Sa và
Trường-Sa
1 - Biển
Đông Của Báu Nước Ta.
1.1 - Khái-quát
biển đảo Việt-Nam.
1.2 - Của báu
của một nước.
1.3 - Biển Đông, sự sống
còn của Việt-Nam.
1.4 - Tài-liệu
địa-dư, những yếu-tố chính-xác.
1 4.1 - Sự
chính-xác trong tài-liệu địa-lý.
1.4.2
- Yếu-tố
chính-xác dùng trong Luật Biển.
2 - Biển
Đông Xưa, Mai và Nay.
2.1 - Khai-sinh của Biển Đông
2.2 - Biển
Đông quá-khứ, cái nôi văn-hóa, trung-tâm phát
nguyên hàng-hải.
2.3 - Biển
Đông và Ấn-Độ-Dương.
2.4 - Biền
Đông tương-lai, lãnh-hải thành
lãnh-thổ.
2.5 - Biển
Đông, ngã tư thế-giới.
2.6
- Biển Đông,
hành-lang chiến-lược bận rộn của
Thế-giới.
2.7
- Với eo Kra, Biển
Đông sẽ càng thêm bận rộn.
2.8
- Công-trình xây
cất, sinh-hoạt biển & bờ.
2.8.1 - Công-trình mồ
hôi, nước mắt.
2.8.2
- Hệ-thống
hải-đăng Việt-Nam.
2.8.3 - Hệ-thống
cảng biển Việt-Nam.
2.8.4 - Sinh-hoạt
ngư-nghiệp.
2.8.5
- Công
nghệ đóng tàu, một điểm loé
sáng.
3 - Hải-sinh-vật
Biển-Đông.
3.1 - Chim chóc.
3.1.1 - Biển
Đông, vùng bay của di-điểu.
3.1.2 - Hải-âu,
Bạn thân-thiết của người đi biển.
3.1.3 - Chim
trên các đảo Hoàng-Sa và
Trường-Sa.
3.2 - Rùa và sinh-vật trên đảo
ngoài Biển Đông.
3.3 - Hải-sinh-vật ngoài biển.
3.4 - Biển Đông và môi-trường Sinh-vật-học
Việt-Nam.
3.4.1 - Vùng môi-sinh
Á-đông.
3.4.2 - Đường
Wallace – Huxley.
3.5
- Trữ-lượng
hải-sản Biển Đông.
3.6 - Bảo-vệ môi-trường biển.
3.7 - Hải-sinh-vật cần bảo-vệ.
4 - Khí-tượng Biển
Đông.
4.1 - Tình-trạng khí-tượng
tổng-quát.
4.2 - Mùa gió.
4.3 - Thủy-triều.
4.4 - Vùng nước xoáy.
4.5 - Nước biển, Nồng-độ muối.
4.6 - Hải-lưu.
4.7 - Nước, gió và nạn dầu loang.
5 - Thiên-tai và Ô-nhiễm
Biển Đông.
5.1 - Bão-tố.
5.2 - Những hiện-tượng thiên-nhiên
khác.
5.2.1 - Sóng thần.
5.2.2 - Vòi rồng.
5.2.3 - Thủy-triều
đỏ và Thủy-triều đen.
6 - Biển Đông, những sự
kỳ-diệu thiên-nhiên.
6.1 - Sự kỳ-diệu về từ-tính.
6.2 - Sự kỳ-diệu về
“địa-hình.
6.3 - Biển Đông, bà mẹ
thiên-nhiên chống ô-nhiễm.
6.3.1 - Nước
sạch-sẽ.
6.3.2 - Gió trong lành.
7 - Đảo và duyên-hải
Việt-Nam.
7.1 - Tổng-quát
về hải-đảo ven bờ Việt-Nam.
7.2 - Tổng-quát
về Hoàng-Sa và Trường-Sa.
7.3 - Sự quan-trọng của hải-đảo.
7.4 - Quan-điểm
khác nhau về quân-sự.
7.5 - Các đảo lớn Việt-Nam.
8 - Biển và đảo theo Luật
Biển quốc-tế.
8.1 - Quan-niệm cũ mới về lãnh-hải.
8.2 - Luật Biển LHQ., một ý-thức mới
về trật-tự trên biển.
8.3 - Lãnh-thổ, lãnh-hải và
hải-phận về kinh-tế.
8.4 - Thềm lục-địa và Hải-phận
Đặc-Quyền Kinh-Tế EEZ.
8.5 - Đường căn-bản duyên-hải và
nội-hải.
8.6 - Thềm
lục-địa kéo dài.
8.7 - Diện-tích thềm lục-địa
Việt-Nam.
8.8 - Các nước lớn và luật
biển.
8.8.1 - Hoa-kỳ.
8.8.2 - Trung-Cộng.
9 - Luật Biển LHQ. và Biển
Đông.
9.1 - Việt-Nam và Luật Biển.
9.2 - Trường-hợp các đảo
Hoàng-Sa và Trường-Sa.
9.3 - Những đường ranh Biển Đông.
9.3.1 - Đường
ranh biển với Kampuchea.
9.3.2 - Đường
ranh biển với Thái-lan.
9.3.3 - Đường
ranh biển với Indonesia.
9.3.4 - Đường
ranh biển nào ở Trường-Sa?
9.4 - Những hình
vẽ hải-phận theo giả-thuyết.
9.4.1 - Bản-đồ
tổng-quát Biền Đông.
9.4.2 - Hải-phận
kinh-tế EEZ của Việt-Nam.
9.4.3 - Hải-phận
kinh-tế EEZ của Trung-Cộng.
9.4.4 - Hải-phận
EEZ của các nước Việt-Nam, Trung-Cộng,
Đài-Loan, Phi-luật-tân, Mã-lai-á &
Brunei.
9.4.5 - Hải-phận
EEZ của Việt-Nam nếu Việt-Nam kiểm-soát đảo Tri-tôn.
10 - Đặc tính chung
của các đảo Hoàng-Sa và
Trường-Sa.
10.1 - Cấu
tạo địa-chất.
10.2 - Đất-đai
san-hô.
10.3 - Kích-thước
và tuổi-tác các đảo.
10.3.1 - Kích-thước của
đảo san-hô.
10.3.2 - Tuổi đảo: thật già và
thật trẻ.
10.4 - Hoàng-Sa
và Trường-Sa thuộc Việt-Nam về
phương-diện vị-trí.
10.5 - Hoàng-Sa
và Trường-Sa thuộc Việt-Nam về
phương-diện địa-hình
đáy biển.
10.6 - Hoàng-Sa
và Trường-Sa thuộc Viêt-Nam về
phương-diện địa-chất,
sinh-vật-học.
10.6.1 - Địa-chất.
10.6.2 - Thực-Sinh.
10.6.3 - Sinh Hóa.
11 - Thảo mộc
Hoàng-Sa và Trường-Sa.
11.1 - Tồng-quát
về thảo-mộc các đảo ngoài Biền
Đông.
11 2 - Tài
liệu của Giáo-sư Henry Fontaine.
11 3 - Tài
liệu của Giáo-sư Phạm-Hoàng-Hộ.
11.4 - Tài
liệu của Giáo-sư Sơn-Hồng-Đức.
11.5 - Báo-cáo
của Kỹ-sư Trịnh-tuấn-Anh.
12 - Tài-nguyên.
12.1 - Phosphate.
12.2 - Ngư-nghiệp.
12.3 - Hải-sản
Phụ.
12.3.1 - Ốc biển.
12.3.2 - Đỉa biển.
12.3.3 - Ruộng muối.
12.4 - Trữ-lượng
dầu khí Biển Đông.
12.5 - Dầu
khí trong hải-phận do Việt-Nam kiểm-soát.
12.6 - Những
tài-nguyên Biển Đông trong tương-lai.
13 - Các đảo
thuộc quần-đảo Hoàng-Sa.
13.1 - Tên
quần-đảo: Bãi Cát Vàng.
13.2 - Chiều
cao các đảo.
13.3
- Các
Bãi Ngầm Macclesfield và Scarborough.
13.4 - Nhóm
Trăng Khuyết.
13.4.1 - Đảo
Hoàng-Sa.
13.4.2 - Đảo Hữu-nhật.
13.4.3 - Đảo
Duy-mộng.
13.4.4 - Đảo Quang-ảnh.
13.4.5 - Đảo Quang-hòa.
13.4.6 - Đảo Bạch-quỷ.
13.4.7 - Đảo Tri-tôn.
13.4.8 - Các
bãi ngầm.
13.5 - Nhóm
đảo An-Yết.
13.5.1 - Đảo Phú-Lâm.
13.5.2 - Đảo Linh-côn.
13.5.3
- Các bãi ngầm chính.
14 - Các
đảo thuộc quần-đảo Trường-Sa.
14.1 - Địa-danh
và Địa-giới Quận Trường-Sa.
14.2 - Số
lượng đảo.
14.3 - Vùng
Việt-Hoa tranh-chấp.
14.3.1 - Địa-danh lịch-sử.
14.3.2 - Đảo Trường-Sa.
14.4 - Vùng
Việt và 5, 6 nước tranh-chấp.
14.5 - Vùng
Việt-Hoa-Phi tranh-chấp.
14.5.1 - Khu Nam.
14.5.2 - Khu Trung.
14.5.3 - Khu Bắc.
14.5.4 - Khu Đông.
15 - Kiến-thức
về Biển Đông và các cuộc
khảo-sát vùng Hoàng-Sa, Trường-Sa.
15.1 - Kiến-thức
Biển Đông từ những ngày xa xưa.
15.2 - Thời
Lê-Nguyễn.
15.3 - Thời
Pháp-thuộc.
15.4 - Thời
Việt-Nam Cộng-hòa.
15.4.1 - Các cuộc khảo-sát Biển Đông.
15.4.2 - Hình-ảnh
phòng thủ Trường-Sa.
15.5 - Trung-Cộng
lợi-dụng khảo-cứu để
xâm-lược.
15.6 - Chuyện
anh-hùng-ca.
15.7
- Chuyện
khảo-cứu tức cười!
16 - Tổ chức ra
biển.
17 - Kết-luận.
Tọa-độ
địa-lý các đảo Hoàng-Sa.
Tọa-độ
địa-lý các đảo Trường-Sa.
Sách báo tham-khảo.
Bảng liệt-kê
Hình-ảnh.
III- Lời Bạt
Cụ Nguyễn Khắc-Kham
(Dư-Phủ) và Giáo-Sư Hà
Mai-Phương.
IV- Phụ-bản
tiếng Anh.
THAY LỜI TỰA
Hiện
nay có tới năm quốc gia trong vùng đang
xâu xé, tranh giành chiếm đóng một
số đảo thuộc quần đảo Trường-Sa
của Việt Nam và đòi hỏi chủ
quyền toàn phần hay một phần của
quần đảo này. Đó là Trung
cộng, Đài loan, Phi luật tân, Mã Lai
Á và Brunei.
Quần
đảo Hoàng-Sa của Việt Nam đã
bị Trung cộng thôn tính nốt phần
phía Tây của quần đảo này là
Nguyệt Thiềm bằng quân sự vào tháng
1 năm 1974.
Ngoài
việc dùng biện pháp bạo lực để
chiếm một số đảo vào năm 1988, Trung cộng
có một loạt hành vi qui mô trong một
kế hoạch để xác nhận chủ quyền
trên vùng Trường-Sa: vào năm 1983,
quốc gia này vẽ lại bản đồ nới
rộng ranh giới Đông Hải mà chúng
đặt tên là Nam Hải. Với bản đồ
mới này, toàn vùng Biển Đông
thuộc chủ quyền của Trung cộng: phía
đông vùng này giáp bờ biển Phi
luật tân, phía tây giáp bờ biển
Việt Nam và phía nam giáp Mã Lai Á. Đến
tháng 2 năm 1992, chúng ban hành một
đạo luật nói rằng những tàu
quân sự và tàu khoa học (ám chỉ
các tàu khoan, dò tìm dầu hoả) đi
qua vùng biển này phải xin phép chúng.
Nếu không, chúng sẽ đánh chìm.
Rồi đến tháng 5 năm đó, chúng
nhượng cho một công ty dầu của Mỹ
là Crestone tìm dò dầu hoả trong khu vực
rộng 25,000 cây số vuông nằm về phía
tây quần đảo Trường-Sa, rất gần
Cù lao Phú-Quý của ta.
Cũng vào năm này, chúng cho tàu trawler
với 2 tầu quân sự hộ tống chở
một Mốc, đến đánh dấu chủ
quyền trên đảo Đá Lạc. Chúng
chiếm cả thảy 8 đảo của Việt nam.
Tháng 6 năm 2006, chúng phổ biến một
bảo đồ mới, vẽ lại ranh giới
vùng Biển Đông. Với Bản đồ
này, ranh giới được vẽ lại tiến
sát bờ bể Việt nam: cách huyện Tư
Nghỉa, Quảng Ngãi (phía dưới vĩ
tuyến 15) khoảng 70 hải lý, và cách Cam
Ranh khoảng 45 hải lý.
Chúng không để ý đến luật
biển 1982 qui định thềm lục-địa của quốc gia hải
cận và vùng đặc-quyền kinh-tế là 200 hải lý.
Để
yểm trợ cho công tác xác nhận chủ
quyền này, vào năm 1994 chúng cho một
số học giả Hoa lục sang Đài Loan họp
với học giả địa phương thiết
lập một cơ quan hỗn hợp Quốc Cộng
Trung Hoa tuyên bố rằng toàn vùng biển
kể trên thuộc Trung Hoa. Cơ quan hỗn hợp
này có nhiệm vụ sưu tầm, nghiên
cứu, phổ biến tài liệu ngõ hầu
chứng minh chủ quyền của Trung Hoa trên
toàn vùng Đông Hải. Ngoài việc
sử dụng trí thức vào công việc
trên, Trung cộng từ nhiều năm nay đã
chuẩn bị biện pháp quân sự để
bảo vệ “phần lãnh hải ấy”.
Vì hai vùng quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa ở
quá xa lãnh thổ của Trung Quốc, Trung
cộng đã và đang tăng cường
Hạm Đội Biển Xanh với mưu đồ
khống chế vùng này. Ba biện pháp
được áp dụng:
a) đặt
mua một hàng không Mẫu Hạm của Ukraine
trên đó có thể chứa được
18 phi cơ SU-27 và đồng thời cải biến
một tàu hàng khổng lồ thành một
hàng không Mẫu Hạm khác (việc mua
hàng không mẫu hạm Tbilisi, 60, 000 tấn hay
Varyag, 67,000 tấn của Ukraine trị giá 2 tỹ MK
từ 1992 cà cải biến tầu hàng này
được hoãn lại);
b) mua
kỹ thuật tiếp tế nhiên liệu trên
không của Iran để nới rộng tầm xa
của các chiến đấu cơ;
c) xây
dựng trên quần đảo Hoàng-Sa một căn cứ hải
quân với một phi trường cho phi cơ cất
cánh liền có thể lên xuống; chúng
xây cả hồ nước ngọt và hiện nay
có cả ngàn quân ra trấn đóng
trên căn cứ ấy.
Sức
mạnh hải quân Trung cộng cũng được
tăng cường với 24 máy bay SU-27 mới mua
của Nga-Sô. Loại máy bay này tương
đương với F.15 tối tân nhất của
Mỹ. Chúng đang tăng cường cả tàu
ngầm cho hạm đội ấy. Chúng đã
cho xây một căn cứ trên một vùng
đá ngầm mà Phi Luật Tân trước
đó cũng đã nhận có chủ
quyền. Khi Phi Luật Tân phản đối,
chúng đã phủ nhận, rồi lại
nhìn nhận đấy là nơi cho ngư dân
Trung cộng tá túc khi hành nghề. Phi
Luật Tân đã cho phá hủy căn cứ
ấy, dù hai bên bắt đầu thương
thuyết tại Bắc Kinh để giải quyết
tranh chấp.
Không
ai có thể chối cãi được hai
vùng quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa
là của Việt Nam. Không một ai có
quyền lợi dụng sự suy yếu và ươn
hèn hiện hữu của của Đảng Cộng
Sản đang nắm quyền tại Việt Nam,
để xâu xé và ngang nhiên chiếm
đóng lãnh thổ hay lãnh hải của
Việt Nam.
Đối
với ngoại bang, hai vùng quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa
về phương diện Địa Lý, Lịch
Sử, Pháp Chế cũng như về
Hành Xử Chủ Quyền đều thuộc về
Việt Nam.
Hồi
cuối tháng 7 năm 1994, trước lời công
bố trắng trợn của một thiểu số
học giả Trung cộng với sự đồng
loã của một thiểu số học giả
Đài Loan đòi hỏi chủ quyền trên
các vùng quần đảo này, trí thức
Việt Nam tại Hoa Kỳ, họp tại Đại
học Stanford, California có ra một Tuyên cáo
xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên
hai vùng quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa
ở Biển Đông.
Hưởng
ứng tuyên cáo đó, học giả Vũ
Hữu San đã sưu tầm, nghiên cứu
về đia lý để chứng minh chủ
quyền của Việt Nam trên các vùng
quần đảo này. Công trình nghiên
cứu ấy đã hoàn tất và
được ấn hành dưới nhan đề
ĐỊA LÝ BIỂN ĐÔNG VỚI HOÀNG-SA
VÀ TRƯỜNG SA.
Đây
là một công trình nghiên cứu hết
sức công phu với nhiều khám phá mới
lạ. Soạn giả đã tỏ ra có những
kiến thức vững chải và thông hiểu
về hải dương học, địa chất
học, sinh vật học, thảo mộc học, văn
minh học, nối kết các dữ kiện hiện
có trên hải đảo với đất
liền của Việt Nam để chứng minh tài
tình các vùng quần đảo này
là đất nối dài của Việt Nam.
Ngoài ra, là một Sĩ quan cao cấp của
Hải quân Việt Nam Cộng Hoà và
đã từng hành quân nhiều lần
tại vùng quần đảo này và tận
mắt quan sát các hải đảo ấy,
soạn giả đã mô tả các đảo
một cách đầy đủ chi tiết từ
hình dạng, kích thước, thảo mộc,
địa chất, tài nguyên,… đến
cả các vị trí chính xác từng
đảo so với các đảo khác, với
bờ biển Việt Nam và với bờ biển
của mỗi quốc gia đòi hỏi chủ quyền
như Trung cộng, Đài Loan, Phi luật tân,
Mã Lai Á, Brunei. Soạn giả cũng không
quên nói tới luật quốc tế về
biển cả có liên hệ tới hai vùng
quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa.
Ngay cả vấn đề lịch sử chủ quyền
của Việt Nam trên các quần đảo này
cũng được soạn giả đề cập
tới.
Các dữ kiện được
trình bày trong công trình nghiên cứu
chứng minh rõ ràng rằng Việt Nam có
chủ quyền trên vùng biển này.
Về
tài liệu tham chiếu, soạn giả Vũ Hữu
San đã viện dẫn rất nhiều tài
liệu do những học giả có uy tín
viết về vấn đề này. Cuối cùng,
cuốn ĐỊA LÝ BIỂN ĐÔNG VỚI HOÀNG-SA
VÀ TRƯỜNG SA có tới hai trăm bản
đồ và hình ảnh giúp cho người
đọc nhìn thấy ngay được vấn
đề.
Uỷ
Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ
Việt Nam, một tổ chức thoát thai từ
nhóm tri thức Việt Nam tại Hoa Kỳ hân
hạnh giới thiệu cuốn sách có giá
trị này của học giả Vũ Hữu San
với bạn đọc và mong muốn mỗi gia
đình Việt Nam có một cuốn làm
tài liệu khi cần phải nói cho mọi
người biết rõ về vấn đề
này và cũng nên có một cuốn
gửi biểu thư viện công cộng tại
địa phương nơi độc giả cư
ngụ. Việc này sẽ giúp cho những ai
muốn nghiên cứu vấn đề chủ quyền
Việt Nam trên Biển Đông, họ sẽ
có ngay những tài liệu cần thiết.
Cuốn
Địa Lý Biển Đông Với Hoàng-Sa và Trường-Sa
được in lại lần thứ III vào năm
2007 này với những bổ túc cho đầy
đủ hơn là để tưởng nhớ
và ghi ơn cố GS Nguyễn Khắc Kham, một
trí thức hàng đầu của dân tộc
Việt đã sản xuất ra nhiều thế
hệ trí thức trong ba phần tư thế kỷ
qua và những môn sinh ấy của Giáo sư
đã đóng góp vào việc xây
dựng, cũng cố và phát huy nền văn
hóa dân tộc vừa mới thoát khỏi
nền đô hộ của thực dân Pháp.
Đại học Stanford
ngày 10 tháng 5 năm 2007
Uỷ Ban Bảo Vệ
Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ Việt Nam
Đại-Diện: GS Nguyễn Văn Canh.
![]()

1- BIỂN ĐÔNG CỦA
BÁU NƯỚC TA
Nước Việt-Nam
nằm cạnh Biển Đông. Lãnh-thổ
và hải-phận Biển Đông là
tài-sản tiền-nhân để lại cho
dân-tộc ta.
1.1- KHÁI-QUÁT BIỂN
ĐẢO VIỆT-NAM
Tài-liệu
chính-thức từ giới-chức cầm-quyền
Việt-Nam viết như sau:
Nước ta
giáp với Biển Đông ở hai phía
Đông và Nam. Vùng biển Việt Nam là
một phần Biển Đông.
- Bờ
biển dài
3,260km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Như
vậy cứ l00 km2 thì có l km bờ
biển (trung bình của thế giới là 600km2
đất liền/1km bờ biển).
- Biển
có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc-quyền
kinh-tế và
thềm lục-địa với
diện tích trên 1 triệu km2 (gấp 3
diện tích đất liền, 330,000km2).
- Trong
đó có 2 quần đảo Hoàng-Sa, Trường-Sa và 2,577 đảo
lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng
tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm
chủ vùng biển.
- Có
vị trí chiến lược quan trọng: nối
liền Thái Bình Dương
với Ấn Độ Dương, châu Á với
châu Âu, châu Úc với Trung Đông. Giao
lưu quốc tế thuận lợi, phát triển
ngành biển.
- Có
khí hậu biển là vùng nhiệt
đới tạo điều kiện cho sinh vật
biển phát triển, tồn tại tốt.
- Có
tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong
phú, đa dạng, quý hiếm.
- 26
tỉnh, thành phố ven biển chiếm 42%
diện-tích và 45% số dân cả
nước. Khoảng 15.5 triệu người sống
ở đới bờ, 16 vạn người ở
đảo.
* Vùng biển
và hải đảo nước ta có vị
trí chiến lược hết sức to lớn,
có ảnh hưởng trực tiếp đến
sự nghiệp bảo vệ nền độc lập
dân tộc và xây dựng chủ nghĩa
xã hội, có liên quan trực tiếp
đến sự phồn vinh của đất
nước, đến văn minh và hạnh phúc
của nhân dân.[1]
1.2- CỦA BÁU CỦA
MỘT NƯỚC
"Của
báu của một nước, không gì
quý bằng đất đai: nhân-dân và
của cải đều do đấy mà sinh ra".
Đó là câu sử-gia Phan-Huy-Chú dùng
mở đầu cho "Quyển 1 - Địa-dư-Chí".
Toàn tập sách có nhiều quyển,
được hoàn-thành năm 1820 mang tên
là "Lịch-Triều Hiến-chương
Loại-chí".[2]
Ngày nay, danh-từ được nói một
cách tổng-quát là "đất
đai" như vậy cần kể thêm cả
vùng trời và nhất là vùng biển
bao la rộng lớn vây quanh nữa.
Hoàng-Sa mất,
Trường-Sa đang bị xâm-lăng.
Năm 1974,
quần-đảo Hoàng-Sa lọt
hoàn-toàn vào tay Trung-Cộng.
Năm 1988, tức
là sau đó 14 năm, nhiều vùng của
Trường-Sa đã bị ngoại-lai xua quân
xâm-lấn trắng trợn, đánh chìm tàu
Việt-Nam, chiếm cứ hàng loạt
hải-đảo của ta.
Năm 1994,
Trung-Cộng ngang ngược ngăn-chặn cả
việc khai-thác dầu khí ngay trên thềm
lục-địa Việt-Nam,
chèn ép phái-đoàn Việt-Nam cũng
như các nước vùng Đông-Nam-Á (ĐNÁ)
khác vào những thỏa-ước song-phương có lợi
cho chúng.
Sang
thiên-niên-kỷ mới 2000, Trung-Cộng
thành-công khi áp-lực được CHXHCN
Việt-Nam chấp-nhận một đường
biên-giới mới trong Vịnh Bắc-Việt, thiệt-hại cho nước ta. “Hiệp
định giữa nước Cộng hoà Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam và nước
Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về phần
định lãnh hải, vùng đặc-quyền
kinh-tế và
thềm lục-địa của hai
nước trong Vịnh Bắc Bộ" đã
được Quốc hội nước CNXHCN Việt Nam
khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày
15-6-2004.
Từ 2005,
Việt-Nam và Phi-Luật-Tân đã bị
buộc phải hợp tác để Trung-Cộng
được ngang-nhiên thám-sát
tài-nguyên một vùng rộng lớn 143,000 km2,
sâu xuống tận cùng khu-vực cực nam
của hải-phận ta.
Năm nay
2007, Trung-Cộng vẫn tuyên-bố 80% Biển
Đông hình Lưỡi Rồng (U shape hay 9
gạch) là của họ.
Nguy-cơ
Việt-Nam mất thêm đảo và
hải-phận Biển Đông cũng còn
nguyên đó!

Hình 1. Biển Đông
với Hoàng-Sa, Trường-Sa và một
số địa-danh quan-trọng.
Vì nước
nào có địa-phận nước ấy,
người dân có bổn-phận giữ gìn
lãnh-thổ cho được nguyên vẹn. Bờ
cõi nước ta xưa nay bao gồm hai
quần-đảo Hoàng-Sa và
Trường-Sa. Chính-quyền nào của
Việt-Nam cũng phải dồn nỗ-lực cho
công-tác bảo-vệ di-sản của
tiền-nhân. Ngoài việc phòng-thủ
những đảo còn lại, quốc-sách
cần bao gồm các kế-hoạch tái-lập
chủ-quyền quốc-gia
trên các đảo đã mất. Phần
chính kế-hoạch này được
bảo-mật nhưng phần chuẩn-bị cho
kế-hoạch như huấn-luyện, điều-hành,
tiếp-vận, tâm-lý-chiến, tình-báo,
vận-động ngoại-giao v.v... phải
phổ-biến đến mọi lực-lượng
quân-sự, dân-sự, các cơ-sở
ngoại-giao, hành-chánh... liên-hệ để
tất cả sẵn sàng phối-hợp thi-hành
ngay khi có biến-cố hay khi có cơ-hội
thuận-tiện.
Dù sao chăng
nữa, đi trước tất cả những
kế-sách đó, mọi người Việt-Nam
chúng ta cần được "trang-bị" ngay
những kiến-thức địa-dư căn-bản
về hai quần-đảo trên. Ý-nghĩ
sắp-xếp công việc ưu-tiên như vậy
cũng là ý của người xưa. Sử-gia
Phan-huy-Chú đã quyết-định ấn-hành
chương "Dư-địa-chí" trước
9 chương khác là Nhân-vật-chí,
Quan-chức-chí, Lễ-nghi-chí,
Khoa-mục-chí, Quốc-dụng-chí,
Hình-luật-chí, Binh-chế-chí,
Văn-tịch-chí và Bang-giao-chí. Ông
viết một câu xác-đáng như sau:
"...Vậy trước hết phải khảo-cứu
những điều cốt yếu về bờ cõi
lúc chia lúc hợp, núi sông chỗ
hiểm, chỗ bằng, làm ra
Dư-địa-chí chép lên đầu".
Cùng trong
nhận-thức như vậy, nhiều học-giả
Việt-Nam trước đây đã từng
nói là "chính-quyền nên đem ngay
vấn-đề Hoàng-Sa Trường-Sa vào trong chương-trình
giáo-dục học-đường, hành-chánh
và quân-sự"[3]
Điều đề-nghị hợp-lý này
đã được đưa ra từ hơn 20
năm về trước, xem ra chính-quyền lúc
đó và cả chính-quyền ngày nay
nữa cũng không mấy lưu-tâm.
Người
Việt-Nam không muốn bị ngoại-bang bắt
nạt, xâm-lấn. Dân ta chỉ tiến-bộ
và nước ta chỉ phú-cường với
một nền giáo-dục khai-phóng. Có lẽ
vì thiếu tài-liệu để đọc,
không mấy người dân trong nước
nắm vững được những diễn-biến
quân-sự ngoài Hoàng-Sa Trường-Sa.
Tình-trạng còn mất, hiểm-nguy ngoài
Biển Đông nếu bị bưng bít, chỉ
có hại cho tiền-đồ Tổ-Quốc mà
thôi.
Khi viết
sách này, không những chúng tôi
đã đi ra ngoài khuôn-khổ giáo-khoa
mà còn muốn lạm-bàn thêm nhiều
chuyện diễn-biến cận-đại. Lại
nhằm lúc không-khí chiến-tranh còn
vất-vưởng, đe doạ bao trùm
Biển-Đông, nên dù bài viết mang
nhan-đề "Địa-lý Biển
Đông với Hoàng-Sa và
Trường-Sa nhưng nhân cơ-hội, chúng
tôi đã ghi thêm vào vài nét
"chấm-phá" về địa-lý
quân-sự. Sách viết cũng không nhằm
việc tranh-cãi chủ-quyền lãnh-thổ trên
trường quốc-tế nhưng vì sự
tranh-chấp lãnh-hải hiện
đang trong hồi quyết-liệt, chúng tôi
cũng ước-lượng một số
đường ranh giới về hải-phận theo
với luật-pháp quốc-tế hiện-hành.
Trong vài
trường-hợp ý-kiến chúng tôi đi
hơi quá xa. Có thể những quan-niệm
riêng rẽ của cá-nhân như vậy sẽ
không được dùng khi mang ra tranh-tụng
trên bàn thương-thảo quốc-tế. Tuy
vậy các bản-đồ về ranh-giới hải-phận không
phải hoàn-toàn giả-tưởng, ít
nhiều chi-tiết sẽ là những mấu chốt
suy-luận trợ giúp cho việc giải-đáp
một số câu hỏi rắc rối về
pháp-lý sau này.
1.2 – BIỂN ĐÔNG,
SỰ SỐNG CÒN VIỆT-NAM
Viện
trưởng Viện Chiến lược Phát
triển, PGS. TS Ngô Doãn Vịnh cho rằng
chúng ta phải “xây dựng chiến
lược kinh tế biển cho đất nước,
không thể nói khác, không thể chậm
trễ hơn!” Trong bài viết bài
“Chiến lược phát triển, Nhìn
từ góc độ lý luận và thực
tiễn” đề ngày 16/7/2004, nhiều câu
rất xác-đáng như sau:
Việt Nam có
hơn 3200km bờ biển, nước ta là một
quốc gia ven biển, chịu tác động mạnh
mẽ, trực tiếp từ các chiến lược
khai thác biển của các nước trên
thế giới và nhất là của các
nước trong khu vực. Trong thế
kỷ 21 người ta cho là thế kỷ của
Biển. Các dân tộc đua nhau ra biển,
giành giật lợi ích từ biển. Các quốc
gia có biển đều xây dựng chiến
lược khai thác biển cho mình. Các
chiến lược gia cho rằng nếu nền kinh
tế thế giới tăng trưởng với mức
6%/năm, dân số tăng khoảng 2%/năm và
với trình độ công nghệ như hiện
nay thì chỉ khoảng 20 năm nữa trên
đất liền các nguồn tài nguyên
sẽ bị cạn kiệt; với trình độ
công nghệ như hiện thời thì không
thể giải quyết được vấn đề
đói nghèo, ô nhiễm môi trường, thất
nghiệp… Vì thế nhân loại sẽ
phải chuyển sang bốn hướng công nghệ
mũi nhọn và một trong số đó là
công nghệ đại dương. Trong bối cảnh đó ai ra biển
trước người đó đỡ thiệt
thòi hơn và có thể thu được
lợi nhiều hơn từ biển. Đối với
Việt Nam, trong khi công tác điều tra cơ
bản về biển và ven bờ còn nhiều
hạn chế, hiểu biết của chúng ta về
các nước trong lĩnh vực khai thác
biển cũng chưa thật nhiều, tiềm lực
kinh tế cũng như khoa học công nghệ về
biển chưa có gì đáng kể, thậm
chí có thể nói là yếu mà
chúng ta phải xây dựng chiến lược
kinh tế biển cho đất nước, không
thể nói khác, không thể chậm trễ
hơn! vậy thì chúng ta phải làm sao
đây? và làm như thế nào?
Theo
các tác-giả cuốn sách “Việt Nam - môi
trường và
cuộc sống”[4]
cũng như hội-viên của “Hội Bảo
Vệ Thiên Nhiên và Môi Trường
Việt Nam”,[5]
Biển Đông liên-hệ đến sự
sống còn của
dân ta. Các nguồn tài nguyên và
môi trường biển
và vùng bờ của đất nước
có tầm quan trọng trực tiếp đối
với hàng chục triệu người dân
nông thôn, đặc biệt đối với
hơn 17 triệu dân sống ở các huyện ven
biển và các đảo ven bờ. Cho nên,
Việt Nam đã có nhiều nỗ lực
bảo vệ và quản lý vùng bờ theo
hướng hiệu quả và bền vững, với
quan điểm là "nguồn lợi biển và
tài nguyên bờ phải được sử
dụng dài lâu, vừa thoả mãn
được nhu cầu kinh tế trước mắt
trong sức chống chịu của các hệ sinh
thái, vừa duy trì được nguồn
tài nguyên cho các thế hệ mai sau.
Cuốn
sách kết-luận: “Thế kỷ XX con
người đi lên trời và vẫn tiếp
tục thám hiểm vũ trụ, còn thế
kỷ XXI con người sẽ đi ra biển. Thế
kỷ XXI là kỷ nguyên của biển và
đại dương, biển sẽ là cứu tinh
của cả thế giới. Vì biển là
nơi dự trữ cuối cùng của loài
người về lương thực, thực phẩm,
nhiên nguyên liệu.”
…Nhận
diện "Việt Nam biển" cũng chính
là bắt đầu một cách nhìn mới
và đầy đủ về chân dung kinh tế
Việt Nam. Đó là một Việt Nam mang
sóng biển Đông hòa vào bể lớn
của thương trường quốc tế theo
cách tiếp cận phát triển bền vững.
Người
Tàu quan-niệm Biển Đông là
“không-gian sinh-tồn” của dân-tộc
họ, nên quyết-liệt giành giựt. Với
chúng ta, sự quan-trọng “sinh tử tồn
vong”, liên-hệ sống & chết giữa
Biển Đông và dải đất hẹp Việt-Nam
còn phải đặt cao hơn thế nữa mới
đúng!
1.3 –
TÀI-LIỆU ĐỊA-DƯ, NHỮNG YẾU-TỐ
CHÍNH-XÁC
Tài-liệu địa-lý cũng như
các tài-liệu khoa-học khác, cần
chính-xác.
1.3.1
– SỰ CHÍNH-XÁC TRONG TÀI-LIỆU
ĐỊA-LÝ
Những tài-liệu về địa-lý
kể cả hoạt-động quân-sự dùng
nơi bài viết này đã được
chúng tôi lấy từ các thư-viện
công-cộng vùng Bắc California, ai muốn
đọc đều được. Dù sao chúng
tôi cũng rất tự-chế mà không
bàn đến các yếu-tố chiến-lược,
chiến-thuật nếu xét rằng các
yếu-tố này có thể nguy-hại đến
an-ninh lãnh-thổ, nhân-mạng Việt-Nam...
Cho dù đã cố gắng sưu-tầm
tài-liệu, chúng tôi không tránh
khỏi khuyết-điểm và nhầm lẫn khi
trình-bày những kiến-thức
tương-đối mới lạ này, xin quý-vị
lượng-thứ. Và... nhân-tiện đây
cũng xin kêu gọi tất cả người
Việt chúng ta cùng giúp nhau cẩn-trọng
trong vài vấn-đề như sau:
- Địa-danh. Về
phương-diện này, học-giả
Võ-Long-Tê đã đặt vấn-đề
từ hai thập-niên trước đây.[6]
Những địa-danh như Tây-Sa, Nam-Sa,
Vĩnh-Lạc v.v... của Trung-Hoa nên được
sử-dụng một cách thận-trọng khi
đề-cập đến chủ-quyền Việt-Nam. Như lời
ao-ước của ông Võ-long-Tê, chúng
tôi cũng đã thấy các địa-danh
trong Biển Đông nên gọi theo các
"đặc-danh thuần Việt". Được biết
Tiến sĩ Địa mạo, chuyên sâu:
Địa mạo biển Nguyễn-Hoàn đã
chủ trì đề tài "Địa danh hai
quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa"
thuộc chương trình Biển Đông - Hải
đảo, mã số BĐ - HĐ - 01, các năm
1997-1999.
Nếu giới
hữu-quyền Việt-Nam lại tôn-trọng Luật
Biển quốc-tế và các
quy-ước quốc-tế khác mà vẽ
được các bản-đồ hải-phận,
xác-định được đảo ra
Đảo, đá ra Đá, bãi nông,
bãi ngầm v.v...
thì thật là ích quốc lợi dân
lắm vậy!
Những
bản-đồ hay hải-đồ Biển Đông
đầy đủ địa-danh Việt-Nam như
vậy, đi kèm với những chi-tiết
cần-thiết cũng làm chúng ta
hãnh-diện với người nước ngoài
và nhiều ít đóng góp thêm
tài-liệu pháp-lý trong sự tuyên-bố
chủ-quyền của
dân ta trên biển.
Qua các
tài-liệu trước đây, vì chúng
tôi nhận ra những con số sai-lạc nên
đã tự-ý dùng các hải-đồ
khả-dụng ngày nay để
ước-lượng cùng sửa chữa lại cho
gần với thực-tế hơn. Tuy vậy, vài con
số mà chúng tôi đưa ra trong
tài-liệu này chỉ là những
ước-lượng (một cách
phỏng-định) do cá-nhân chúng tôi
đơn-độc làm lấy nên có thể
còn lầm-lẫn. Mong rằng các cơ-quan
thẩm-quyền về đo đạc đưa ra những
con số chính-xác làm tiêu-chuẩn sau
này. Chỉ bằng cách công-bố những
dữ-kiện, yếu-tố thật đúng
đắn; những tập tài-liệu của
chúng ta mới tạo được uy-tín cho
Việt-Nam trên bàn tranh cãi quốc-tế.
Đơn-cử sau
đây là những "con số"
điển-hình mà chúng tôi đã
ước-lượng, có thể cũng chưa
hẳn chính-xác:
- Khoảng
cách gần nhất từ quần-đảo
Hoàng-Sa và
đất liền Việt-Nam:
a- Đến
Cù-lao Ré 123
hải-lý (hl.).
b- Đến
đất liền Quảng-Ngãi 135 hải-lý.
Các
tài-liệu Việt-ngữ đều cho những
khoảng cách này xa hơn nhiều. Thường
khoảng cách quần-đảo / đất liền
hay được tính từ Hoàng-Sa tới
Đà-Nẵng: là trên 200 hải-lý.
- Chiều
dài bờ biển Việt-Nam thường
được ghi là 2,500km, hay có khi
giản-tiện là 2 ngàn cây-số. Những
độ dài này quá ngắn so với sự
thực. Chính-quyền hiện nay công-bố
là Việt Nam có 3,260km bờ biển từ
Móng Cái đến Hà Tiên, đôi khi
ghi thêm phụ chú: trải qua 13 vĩ độ,
từ 8o23' bắc đến 21o39' bắc.
Chúng tôi ước-lượng lại bằng
cách dùng các hải-đồ tỷ-lệ
lớn và lấy thước đo kéo dài
vòng theo duyên-hải và thấy con
số đạt được lớn hơn. Luật-gia
Mark J. Valencia của East-West Center, Honolulu,
khi tham-khảo tài-liệu, đã đưa ra
một con số “đáng kinh-ngạc”: 2,828
hải-lý tức 5,237km đường ven biển.[7]
- Vị-trí biển
Trường-Sa thường lúc xưa chỉ kể
tới vĩ-độ 8o00' Bắc (N, Nord),
chúng tôi đề-nghị ghi theo một số
các tài-liệu quốc-tế cho rộng xuống
phía Nam ít nhất 240 hải-lý nữa,
tới vĩ-độ 4o00' Bắc. Trung-Cộng
đã vẽ bản-đồ với vùng
biển mà họ tự cho là có
chủ-quyền xuống đến
vĩ độ 3o20' Bắc. Tin tức năm 1993
cũng loan-tin họ thăm-dò dầu-hoả trên
bãi cạn James Shoal (vĩ-độ 3o58'
Bắc, kinh-độ 112o15' Đông).[8]
- Diện-tích và
chiều cao của các đảo. Sự sai
biệt có lẽ quá lớn ở những
trị-số này. Các đảo thuộc
Hoàng-Sa/Trường-Sa thường được ghi
diện-tích tới nhiều cây số vuông.
Sự thực, các đảo ngoài khơi
Biển Đông rất nhỏ và riêng ở
vùng Trường-Sa không có đảo
nào lớn tới nửa cây số vuông.
Về cao-độ, các đảo cũng hay
được ghi quá cao như đảo Nam-Yết
tới 20m (hay 61ft) chẳng hạn.
Tuy Nam-Yết đúng là một trong những đảo
cao nhất quần đảo Trường-Sa nhưng
đỉnh của đảo cũng chỉ vượt
lên khỏi mặt biển chừng 5m mà thôi!
Có thể một vài cây nhàu, cây
bàng biển vươn lên trên mặt
đảo khoảng 5, 7 thước nữa, nhưng
thật ra không thể làm cao-độ của
đảo tăng lên nhiều quá đến
như vậy. Tàu bè phải tới thật
gần mới nhận ra được những hòn
đảo ngoài Biển Đông.
- Tổng-số các
đảo. Tổng-số các đảo (island),
đụn (dune), cồn (cay), đá (rock), bãi
cạn, bãi ngầm (bank, shoal, reef)...
thuộc Hoàng-Sa, nếu không đúng hệt như sách
cổ Việt-Nam đã ghi là 130 thì cũng
phải kể đến con số hàng trăm.
Không thể vì lý-do không liệt-kê
được hết các địa-danh mà
người ta ghi một số lượng quá
nhỏ. Chẳng hạn như nói "Tây-Sa 7
đảo, 9 đảo", kiểu như danh-từ
"Thất-châu", "Cửu-châu" của
Tàu dùng để gọi quần-đảo
Hoàng-Sa trước đây. Trường-hợp
ở quần-đảo Trường-Sa, số
lượng đơn-vị đất đá như
vậy còn lớn hơn nhiều. Những
tài-liệu địa-chất viết:
"quần-đảo Trường-Sa gồm có 9
đảo"[9]
đã đưa ra một con số quá
khiêm-tốn.
Chúng tôi xin nghiêng về sự
ước-lượng "một cách
tỉ-mỉ" với những con số lớn lao hợp-lý hơn,
thay cho các số nhỏ bé vẫn dùng trong
các tài-liệu địa-lý Việt-ngữ,
Hoa-ngữ xưa nay.
Đơn-vị đất (land masses) đã
được một số học-giả như Michael
Bennett sử-dụng. Con số ước-lượng
có tới 500 "đất" cho hai
quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa.[10] Trong số đó, khoảng 100 đơn-vị
đã được đặt tên.
1.3.2-
YẾU-TỐ CHÍNH-XÁC DÙNG TRONG LUẬT
BIỂN.
Tổng-số đảo hay đá,
diện-tích và chiều cao của đảo hay
đá cũng như chu-vi đảo, diện-tích
lãnh-thổ, chiều dài bờ biển,
tỷ-lệ bờ biển/ đất liền v.v...
là những con số dùng để
tính-toán trong việc quy-định các loại
hải-phận theo Luật Biển LHQ. ngày nay.
Trong tương-lai cận kề, mọi
quốc-gia dù chống đối hay đồng-ý
việc thi-hành Luật Biển Liên-Hiệp-Quốc
(Liên hợp-quốc – LHQ.) cũng đều
sẽ chịu ảnh-hưởng chi-phối
trực-tiếp hay gián-tiếp của những
điều-luật này. Trong các sách viết
về Luật Biển, thường là rất
dầy, có những điều khoản
ấn-định ranh giới hải-phận dựa
trên vị-trí và
tình-trạng các đảo, cồn, đụn,
đá...; nghĩa là những đơn-vị
đất đá "land masse" phù-hợp theo
một số điều-kiện quy-định.
Số lượng nhiều ít "land masses"
là một chuyện, quốc-gia chủ-quyền sẽ phải
xác-định những đơn-vị nào
đủ điều-kiện như một "hòn
đảo" và "hòn đá",
nghĩa là "thường-trực nổi lên
mặt biển (permanently above sea level) ngay cả khi
thủy-triều dâng lên tối đa. Đảo
được kể theo pháp-lý như
đất liền, kể cả hải-phận kinh-tế 200hl.
Đá chỉ có lãnh-hải 12hl. mà thôi.
Đá giống đảo là nổi lên
mặt biển thường-trực nhưng nhỏ
bé và cằn cỗi, con người không
thể sinh sống được. Điều-kiện
này rất khó xác-định nên
đã gây ra nhiều tranh-luận.
Tổng-số đảo hay đá, vị-trí, diện-tích và chiều cao của đảo
hay đá cũng như chu-vi đảo,
diện-tích lãnh-thổ, chiều dài bờ
biển, tỷ-lệ đất/biển v.v... là
những con số ảnh-hưởng nhiều ít dùng
để tính-toán và quy-định
hải-phận theo Luật Biển LHQ. ngày nay.
Tại vùng quần-đảo Trường-Sa,
các "đơn-vị đất"
được ước-lượng trong khoảng
từ 300 đến 400. Dựa vào những
tài-liệu địa-lý hiện-hữu, Viện
Nghiên-Cứu Đông-Tây ở Hawaii cho rằng
chỉ có 33 đơn-vị thường-trực
nổi lên mặt biển, gồm có 26 đảo
và 7 đá.
Bản-đồ Hoàng-Sa Trường-Sa với
địa-danh cùng một số chi-tiết khác
nữa xin được trình-bày trong những
phần sau.
thường-trực cao hơn mặt
biển
|
Tên ghi trên hải
đồ |
Tên Việt-ngữ |
Tọa độ |
Quốc-gia cđ |
Độ cao |
|
TÊN
ĐẢO (26) |
|
|
|
|
|
ALICIA ANNIE REEF |
Đá Suối Ngọc |
09 25 N 115 25 E |
|
C- 1.2m |
|
AMBOYNA CAY ISL |
Đảo An Bang |
07 51 N 112 55 E |
VN cđ |
C- 2m |
|
COMMODORE REEF |
Đá Công Đo |
08 20 N 115 25 E |
Phi cđ (Rizal) |
C- .3m |
|
FLAT ISLAND |
Đảo Bình Nguyên |
10 48 N 115 50 E |
Phi cđ (Patag) |
I- |
|
GAVEN REEF |
Đá Ga Ven |
10 12 N 114 14 E |
TC cđ (Nam Xun Jia) |
D- 2m |
|
GRIERSON REEF |
Đá Grierson |
09 53 N 114 35 E |
VN cđ (cạnhSh-Tôn Đ) |
C- |
|
IRVING REEF |
Đảo Cá Nhám |
10 55 N 114 56 E |
|
C- |
|
ITU ABA ISLAND |
Đảo Ba Bình |
10 23 N 114 21 E |
Đài-Loan cđ |
I- 4.8m |
|
LANKIAM CAY |
Đảo “Lankiam” |
10 43 N 114 31 E |
Phi cđ (Panata) |
C- |
|
LEN DAO (Lansdown Reef) |
Đảo Len |
09 46 N 114 22 E |
VN cđ |
D- |
|
LOAITA CAY (Losita Nan) |
Đá Loại Ta |
10 41 N 114 25 E |
(cạnh đ.
Loại-ta) |
C- |
|
LOAITA ISLAND |
Đảo Loại Ta |
10 41 N 114 25 E |
Phi cđ (Kota) |
I- 2m |
|
MARIVELES REEF |
Đá Kỳ Vân |
07 59 N 113 50 E |
Malesia cđ |
C- 1.5m |
|
NAMYIT ISLAND |
Đảo Nam Yết |
10 11 N 114 22 E |
VN cđ |
I- 5m |
|
NANSHAN ISLAND |
Đảo Vĩnh Viễn |
10 43 N 115 49 E |
Phi cđ (Lawak) |
I- 2.5m |
|
NORTH EAST CAY |
Đảo Song Tử Đông |
11 27 N 114 21 E |
Phi cđ (Parola) |
C- 3m |
|
PEARSON REEF NE |
Hòn Síp (Hòn Sáp?) |
08 58 N 113 40 E |
VN cđ |
C- 2m |
|
PEARSON REEF SW |
Hòn Sáp (Hòn Síp?) |
08 55 N 113 35 E |
VN cđ |
C- 1m |
|
SAND CAY |
Đảo Sơn Ca |
10 23 N 114 28 E |
VN cđ |
C- 3m |
|
SANDY CAY |
Đảo “Sandy” |
11 03 N 114 13 E |
|
C- |
|
SIN COWE ISLAND |
Đảo Sinh Tồn |
09 51 N 114 22 E |
VN cđ |
I- 2.5m |
|
SOUTHWEST CAY |
Đảo Song Tử Tây |
11 26 N 114 19 E |
VN cđ |
C- |
|
SPRATLY ISLAND |
Đảo Trường-Sa |
08 38 N 111 55 E |
VN cđ |
I- 2.5m |
|
THI-TU ISLAND |
Đảo Thị Tứ |
11 03 N 114 17 E |
Phi cđ (Pagasa) |
I- |
|
WEST REEF-Thuộc LondonRfs |
Đá Tây |
08 51 N 112 12 E |
VN cđ |
C- .6m |
|
WEST YORK ISLAND |
Đảo Bến Lộc |
11 05 N 115 01 E |
Phi cđ (Licas) |
I- |
|
TÊN
ĐÁ (7) |
|
|
|
|
|
BARQUE CANADA SHOAL |
Bãi Thuyền Chài |
03 12 N 113 19 E |
VN cđ |
R- 4.5m |
|
DISCOVERY GREAT REEF |
Đá Lớn |
10 01 N 113 51 E |
VN cđ |
R- |
|
EAST REEF-Thuộc LondonRfs |
Đá Đông |
08 49 N 112 33 E |
VN cđ |
R- .6m |
|
FIERY CROSS REEF |
Đá Chữ Thập |
09 38 N 112 57 E |
TC cđ (Yung Shu Jiao) |
R- |
|
LOUISA REEF |
Đá Louisa |
06 00 N 113 16 E |
|
R- 1.0m |
|
ROYAL CHARLOTTE REEF |
Đá Sắc Lốt |
07 00 N 113 35 E |
|
R- .6m |
|
SWALLOW REEF |
Đá Hoa Lau |
07 22 N 113 49 E |
Malaysia cđ |
R- 1.5m |
|
|
||||
|
*Chữ viết tắt; cđ=chiếm
đóng (có quân trú-phòng),
VN=Việt-Nam, TC-Trung-Cộng. |
||||
|
*Đảo được tính
chủ-quyền hải-phận và
vùng kinh-tế EEZ (200 hl). Đá chỉ tính
lãnh-hải 12
hl. |
||||
|
*Tài-liệu lấy trong Ocean Yearbook 10, 1993 liệt-kê
thành 3 loại: (9) Island, (15) Cay, (2) Dune, (7) Rock;
viết tắt là I, C, D, R |
||||
Hình 2. Bảng
liệt-kê các đảo và đá
thuộc quần-đảo Trường-Sa.
2 –
BIỂN ĐÔNG XƯA, MAI
VÀ NAY.
Biển Đông đã thay hình đổi
dạng nhiều lần trong quá-khứ.
2.1 - KHAI-SINH CỦA BIỂN ÐÔNG
Theo các nhà
địa-chất, lúc xưa trái đất chỉ lớn
bằng 4/5 thể-tích mà ta thấy ngày nay.
Các lục-địa dính chùm vào
với nhau thành khối đại lục-địa
Pangea. Cách nay 340 triệu năm, ở khu-vực
phía Ðông gần xích-đạo (sau này
thành vùng Ðông-Nam-Á) xuất-hiện
một cái hồ chứa nước hình
tam-giác đều mỗi cạnh chừng vài
trăm cây số.
Vào khoảng 240 triệu
năm trước, khi Pangea bắt đầu
bành-trướng, các lục-địa tách
rời nhau và trái đất lớn dần.
Kích-thước “hồ nước”
tam-giác đủ lớn và đủ sâu
để làm cho lớp vỏ trái đất
dưới đáy của nó mỏng dần
và giãn nở theo với đà bành-trướng
của các lục-địa. Nhiều yếu-tố
thiên-nhiên phối-hợp với nhau, làm thay
đổi cấu-trúc địa-chất của lớp vỏ
trái đất chỗ đó, vỏ
đại-dương thành hình: “Hồ
nước” đã trở thành Biển
Ðông.
Lúc mới thành-hình,
biển này nằm ở phía Bắc khu
đất hình chữ “S nằm ngang”, sau
này thành ra lãnh-thổ của nước
Việt-Nam ta.
Theo Bản-đồ
Thành-Hệ Kiến-Trúc-Việt-Nam[11],
chúng ta hình-dung sự diễn-tiến
hình-thành của Biển Ðông như sau:
- Cách
nay 240 triệu năm, từ hình tam-giác
đều, hồ nước biến hình-thành
một lá cờ đuôi nheo dài hàng
ngàn cây-số. Phía cán cờ nối
thẳng từ Đài-Loan tới Hoàng-Sa. Cạnh đuôi nheo chạy rất gần bờ
biển Miền Trung Việt-Nam kéo dài tới khu
Cù-lao Thu (ngoài khơi Phan
Rang, Phan Thiết ngày nay…
- Khoảng
220 triệu năm đến 80 triệu năm
trước, hình-dạng cờ đuôi nheo
biến-dạng thật nhanh. Biển Ðông
đã kéo dài khoảng ba ngàn
cây-số, xuống tận ngoài khơi Singapore.
Trong khi đó biển Malacca cũng hiện-hữu song song
và độc-lập với Biển Đông, chạy
từ Bangkok đến Singapore ngày nay.
- Vịnh Thái-Lan, trong đó
có Vịnh Phú-Quốc nhỏ bé của Việt-Nam
như vậy đã hình-thành từ lâu,
trước vịnh Bắc-Việt. Không giống Biển Đông, lớp vỏ
trái đất dưới đáy biển Malacca không giãn mỏng
và vùng biển này tiếp-tục nông cạn.
Nhiều lần trong quá-khứ vào những
thời Băng Đá, Vịnh Thái-Lan trở
thành một cái đồng-bằng trũng rộng lớn, bao
trùm bởi các cánh rừng
nhiệt-đới um-tùm.

Hình 3. Biển Đông
lúc mới thành hình.
- Cách
nay 37 triệu năm, Biển Ðông
bành-trướng khá mạnh. Diện-tích
vào khoảng chừng 70% diện-tích
hiện-thời. Sau đó mấy chục ngàn năm,
Biển Ðông đã thu-hút luôn cả
Biển Malacca để nhập
vào một Biển lớn. Vẫn chưa thấy
xuất-hiện hình-dạng của Vịnh
Bắc-Việt vì đáy
biển ở đó
chưa giãn mỏng và nước chưa
tràn vào.
- Ngày
khai-sinh của Vịnh Bắc-Việt được Viện
Ðịa-Chất và Khoáng-Sản (thuộc Cục
Ðịa-Chất Việt-Nam) ước-lượng
chỉ vào khoảng 11 triệu năm trước
đây. Khi đáy biển bị giãn mỏng,
chìm xuống, Vịnh thành hình. Thường
thì Vịnh ngập nước, nhưng đôi khi
cũng khô cạn, tuỳ theo với mực
nước thấp của Thái-Bình-Dương
trong thời-đại Băng Đá.
- Hiện
thời cả Biển Ðông và Vịnh
Bắc-Việt xem ra vẫn còn
đang tiếp-tục bành-trướng.

Hình 4. Hình-ảnh Biển
Đông 220 triệu năm trước.

Hình 5. Hình-ảnh Biển
Đông 140 triệu năm trước.
Tiểu
lục-địa Ấn-Ðộ, rồi tiểu
lục-địa Úc-Ðại-Lợi sau khi tách
ra, trôi về hướng Ðông-Bắc. Khi
tiểu lục-địa Ấn-Ðộ đụng
vào lục-địa Á-Âu tạo ra dãy
núi “trẻ” Hi-Mã-Lạp-Sơn, nó
cũng làm vùng đất Việt-Nam xoay
chuyển dần sang hướng Bắc-Nam (chữ S
đứng thẳng). Biển lúc này chuyển
từ từ sang phía Ðông của Việt-Nam.
2.2 – BIỂN
ĐÔNG QUÁ-KHỨ, CÁI NÔI VĂN-HÓA,
TRUNG-TÂM PHÁT-NGUYÊN HÀNG-HẢI.
Ngày nay nhìn vào bản-đồ
Đông-Nam-Á, chúng ta thấy Biển Đông là một
vùng biển gần như nội-địa,
diện-tích bằng 4 phần 5 của
Địa-trung-Hải. Trong quá-khứ cách nay
vài chục ngàn năm cho tới vài trăm
ngàn năm là thời-gian mà khoa-học
có nhiều dữ-kiện tương-đối
chính-xác, hình-dạng Biển Đông
hoàn-toàn khác hẳn và thông
thường nó nhỏ bé hơn bây giờ
khá nhiều. Một số nhà nghiên-cứu
cho rằng sự thay đổi về địa-lý
Biển Đông không những chỉ làm thay
đổi môi-trường sinh-sống của sinh,
thực-vật trên đất,
dưới biển trong vùng mà còn
tạo-dựng lên cả một cuộc
biến-đổi lớn làm phát-sinh những
nền văn-minh quan-trọng về
nông-ngư-nghiệp cùng
hàng-hải có thể gọi
là tiền-tiến vào bậc nhất của
nhân-loại.
Đã có nhiều nhà khoa-học cố
gắng giải-thích sự hình-thành nền
văn-hóa hàng-hải của dân Việt
nói riêng và của dân
Đông-Nam-Á nói chung. Những
sắc-thái đặc-thù này
khác-biệt hẳn với sắc-thái
văn-hóa hoàn-toàn lục-địa của
Trung-Hoa. Một số lý-thuyết được
tóm tắt như sau:
Trong lịch-sử trái đất, mực
nước biển đã dâng lên hạ
xuống nhiều lần, sự sai-biệt có tới
150m. Cách nay chừng 18,000 năm, diện-tích
Biển Đông chỉ bằng phân
nửa hiện nay. Khi băng đá hai cực
địa-cầu tan rã thì nước biển
dâng lên nhanh. Dân-cư vùng duyên-hải vốn sống bằng
cách thu-lượm tôm cá, sò ốc
phải dồn về những vùng cao hơn. Cho
đến khoảng 4,000 năm trước
Tây-lịch (TTL), hàng trăm ngàn dặm
vuông lục-địa đã bị ngập
dưới Biển Đông. Vì diện-tích
đất đai bị suy-giảm nên
mật-độ dân-số gia-tăng. Nhiều sự
tiếp-xúc, trao đổi, va chạm giữa
những giống người khác nhau đã xảy
ra. Lúc xưa dân-cư sống rải rác
khắp nơi trong vùng đất thấp rộng
lớn Sunda, nay cùng gặp nhau trong một
môi-trường sinh-hoạt mới vùng
đồi núi. Tiến-bộ khởi-sự từ
đó.
- Chester Norman cho rằng nền
Văn-minh Hòa-Bình được tạo-dựng
trong thời-gian thềm lục-địa Sunda bị ngập
nước. Khi đó vịnh Bắc-phần và
vịnh Thái-Lan mà lúc trước là hai
vùng đồng-bằng trũng, nay cũng
thành-hình.
Từ nhiều ngàn năm trước,
người dân thuộc nền văn-hóa
Hoà-Bình ở miền Tây Biển Đông
chỉ sống bằng cách săn-bắn,
hái-lượm và trồng trọt ruộng
khô trong những vùng thung-lũng. Bỗng nhiên
mật-độ dân-cư tăng lên nhanh, con
người phải có phương-pháp mới
để sản-xuất thêm thực-phẩm.
Loài trâu, loài heo được
gia-súc-hóa.
Người ta di-chuyển từ thung-lũng xuống
khai-phá đồng-bằng. Yếu-tố
quan-trọng nhất của đà phát-triển
là sự ra đời của các giống cây
cho hạt. Những loại ngũ-cốc thuần-hóa
sau này thích-hợp cho ruộng nước. Khoảng
5,500 năm trước, cây lúa đã
được trồng trọt.[12]

Hình 6. Hình-thể
Biển Đông cuối thời Băng-giá,
Hoàng-Sa Trường-Sa
dính liền vào đất Việt-Nam. Khi
nước dâng cao, dân-cư từ vùng Sunda
chạy lên các vùng cao. (The Southeast Asian World,
Keith Buchanan, New York, 1967, trang 45)
Lý-thuyết Norman cho rằng một số lớn
dân Đông-Nam-Á khởi-sự trước
hết bằng cuộc sống ở duyên-hải, sau này hội-nhập với dân-cư
vùng cao-nguyên nhưng rồi trở về lại
vùng đồng-bằng gần biển, sau nữa
phát-triển về hàng-hải.
- Buckminster Fuller, một nhà Toán-học và
Ðịa-Lý, tác giả nhiều tấm
bản-đồ “đồng-nhất
tỷ-lệ” Dymaxion World Maps, tin rằng có thể
tìm ra nguồn-gốc các nền văn-minh
vì sự liên-hệ đồng-thuận giữa
trình-độ văn-hóa, di-dân và
mật-độ nhân-số. Ông khảo-sát
địa-lý thế-giới và đưa ra
giả-thuyết là vùng duyên-hải Ðông và
Nam-Á với dân-số đậm đặc
đã khởi-nguyên những nền văn-minh
đầu-tiên của nhân-loại.

Hình 7. Thuyết Buckminster Fuller về Hải-lộ
phân-tán dân-cư. Khi nước biển
dâng cao, từ Biển Đông di-dân đi ra
khắp nơi theo các giai-đoạn phát-minh
thuyền bè, buồm, xiếm.
- Wilheim G. Solheim cho rằng 6,000 năm trước,
dân Đông-Nam-Á đã
mạo-hiểm ra khơi vì nhu-cầu di-chuyển. Gió
bão và hải-lưu của
Biển Đông và Thái-bình-Dương đã
cuốn trôi một số người tới
Nhật-Bản, trong khi các nhóm khác bị
quét sang Phi-luật-Tân (Philippines), Nam-Dương
(Indonesia) và Melanesia. Tiếp theo, những toán dân-chúng
di-chuyển tới các đảo ngoài khơi
Thái-bình-Dương và sang Madagascar.
Bàn rộng
hơn thế nữa, cũng theo Solheim, Biển
Đông của Đông-Nam-Á thời
cổ còn là nơi phát-sinh những
đường hàng-hải giao-tiếp
với các nơi ở dọc biển Á-châu,
Âu-châu, Phi-châu, Đại-dương-châu
và cả Mỹ-châu. Solheim lý-luận rằng
chỉ có sự kiện Đông-Nam-Á giữ
vai-trò trung-tâm phân-tán như trục
một cái bánh xe tỏa nan-hoa ra khắp nơi
mới giải-thích được
hiện-tượng lịch-sử là tại sao
các chủng-tộc khác-biệt của loài
người sống xa cách nhau trên khắp
thế-giới lại có nhiều sự
tương-đồng về sinh-hoạt văn-hóa như
vậy![13]
Cùng
nhận-định như Solheim nhưng đi trước
ông tới 40 năm, nhà
ngữ-học Pháp Paul Rivet đã làm
nhiều cuộc nghiên-cứu và kết-luận
rằng: "Từ vùng Đông-Nam Á-châu,
một thứ ngôn-ngữ đã được
truyền-bá đi bằng đường
hàng-hải đến
Nhật-Bản, Tasmania, Địa-trung-hải, Phi-châu
và Mỹ-châu".[14]

Hình 8. Quan-niệm
truyền-bá ngôn-ngữ ĐNÁ đi khắp
thế-giới theo đường hàng-hải, khởi-sự
từ Biển Đông (Paul Rivet, 1929).
Địa-đàng Phương Đông,
rồi Heo và
đường biển từ Việt Nam
Người Anh
mở nhiều cuộc nghiên-cứu, khám khá
những sự kiện rất mới về Biển
Đông.
- Trong cuốn sách
“Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia East”[15]
Bác-Sĩ Stephen Oppenheimer, đã dựa trên
những kiến-thức cập nhật mới đây
của các ngành khoa-học như di truyền
học, nhân chủng học, thần thoại, văn học
dân gian, ngôn ngữ học, hải dương học,
khảo cổ học... mà kết-luận nhiều
gốc rễ văn-minh nhân-loại đã
khởi-sự từ khu vực quanh Biển Đông. Theo
Ông Nguyễn Văn Tuấn, có
người còn cho rằng đây là một
quyển sách quan trọng vào bậc nhất trong
ngành Đông-Nam-Á học![16]
Tác-giả Oppenheimer
đã viết trong cuốn sách “Ðịa-đàng
Phương Đông” trên: "Lý
thuyết mà tôi trình bày trong cuốn
sách này lần đầu tiên, đặt
Đông-Nam-Á vào trung
tâm của các nguồn gốc văn hóa
và văn minh. Tôi cho rằng nhiều người
đã phải di tản khỏi vùng duyên
hải của họ ở phương Đông vì
lụt lội. Những người tỵ nạn này
từ đó vun đắp những nền văn minh
vĩ đại ở phương Tây."
- Rồi mới
đây nhất theo tin Luân Ðôn 3/21/2007, các nhà khoa
học thuộc Ðại học Durham và Oxford của
Anh quốc, khi nghiên cứu DNA của heo rừng
và heo nhà ở vùng nam Thái Bình Dương,
đã nêu giả thuyết mới về nguồn
gốc cư dân các đảo ở vùng
này là từ Việt-Nam. Trong bài báo
của Hàn Lâm Viện Khoa Học số mới
nhất, nhóm nhà khoa học trên, đứng
đầu là tiến sĩ Keith Dobney thuộc khoa
khảo cổ Ðại học Durham cho biết việc
nghiên cứu các loại gene ít bị biến
đổi trên 781 con heo ngày nay và gene heo
sống từ thời xa xưa lấy được
từ các viện bảo tàng. Do có mối
liên quan gene rõ ràng giữa heo hiện nay
ở Việt Nam và heo ở các đảo Sumatra,
Java, New Guinea, New Oceania cùng nhiều đảo nam
Thái Bình Dương, nên họ cho rằng
phần lớn các cư dân sống trên
các đảo này có nguồn gốc từ
Việt Nam. Tiến sĩ Greger Larson, nhà nghiên
cứu chính của nhóm, nhận xét heo
phải được người di cư chuyên chở
đến đó. Theo ông, tổ tiên của
các cư dân trên các hòn đảo xa
xôi đã rời Việt Nam cách đây
vào khoảng 3,600 năm, và họ đã
đi qua nhiều hòn đảo trước khi
đến các đảo nam Thái Bình
Dương.[17]
- William Meacham
khi nghiên-cứu bản-đồ địa-hình
đáy biển, cho biết lúc xưa bờ Biển
Đông tương-đối bằng phẳng.
Khoảng 14,000 năm trước đây, bè tre
đã xuất-hiện. Rồi nước biển
cứ cao dần. Khi mực nước biển gần
đạt đến mức-độ như hiện nay,
chừng 25m, bờ biển đã lùi sâu
vào lục-địa, gặp đúng chỗ
địa-thế lởm chởm, lồi lõm.
Nhiều nhóm người sống trên các
hải-đảo. Sự liên lạc, di-chuyển bằng
thuyền bè trở nên càng ngày càng
cần-thiết hơn. Các trở ngại, khó
khăn trên biển đã thúc-đẩy con
người phải phát-minh ra những cánh
buồm, những bánh lái, những loại
thuyền nhiều thân và những cơ-phận
điều-khiển khác để việc
hải-hành được an-toàn hơn,
tránh bị thổi ra ngoài khơi.[18]
Meacham tin rằng
6,000 - 4,000 năm trước Tây-lịch, những
nền văn-minh vùng châu-thổ sông Hồng
bắt đầu nảy nở. Đồ gốm
đã được nặn trên bàn xoay
ở Đậu-Dương. Khoa khảo-cổ cũng
tìm thấy dây câu, lưới bắt cá
và thuyền độc-mộc. Nhiều dân-cư
sống bằng ngư-nghiệp. (4,000 năm TTL.).

Hình
9. Bờ biển lúc xưa phẳng-phiu, nay
lởm chởm lồi lõm.
- Carl Sauer duyệt-xét
những biến-chuyển về địa-lý
Biển Đông trong thời-khoảng mười
mấy ngàn năm trước đây, đưa
ra kết-luận về tinh-thần tiến-bộ của
cư-dân người Việt (Yueh) thời cổ
như sau: "Mực nước Biển Đông
dâng cao làm tăng thêm nhịp
bồi-đắp phù-sa lên những khu
thung-lũng duyên-hà trong khi các vùng
đất thấp tiếp-tục bị lụt.
Dân-cư khi xưa sống rải rác thì
lúc này thu lại thành các vùng
cư-trú dọc theo nguồn nước... Một
thế-giới mới đã thành-hình,
sự thay đổi môi-trường vật-lý
địa-dư đã trở thành cơ-hội
thuận-tiện tối đa cho những dân thích
phiêu-lưu và mong tiến-bộ... Người
dân bỏ sự nhàn rỗi và nhờ trí-óc
tò-mò để tìm thử-nghiệm, một
cộng-đồng như vậy chỉ cần một
thời-gian ngắn để chuyển-tiếp từ ngư-nghiệp sang thẳng
nông-nghiệp.[19]
Cùng với
Meacham, Sauer ý-thức tầm quan-trọng của
ngư-nghiệp và
hàng-hải trong
tiến-trình văn-minh Đông-Á thời
cổ. Khác biệt hẳn với các nơi
khác trên thế giới, Biển Đông
và vùng đất chung-quanh có tới hai
vụ gió mùa trong một
năm, nên hoàn-cảnh rất thuận-lợi cho
sự phát-triển các ngành
nông-nghiệp, ngư-nghiệp và
hàng-hải.[20]
Vì Biển
Đông có hai vụ gió mùa nên việc
hải-hành viễn-duyên khi đi cũng như khi
về rất tiện-lợi. Hàng-hải
phát-triển kéo theo sự bành-trướng
thương-mại. Sự trao đổi hàng-hóa
nâng cao kỹ-thuật chế-tạo phẩm-vật.
- Charles F. Keyes viết trong
sách "The Golden Peninsula" rằng Việt-Nam
là nơi phát-khởi nền văn-minh
Hoà-Bình trải rộng khắp
Đông-Nam-Á.[21]
Keyes đã xác-định hai điểm sau:
* Quá-trình văn-hóa
thời tiền-sử của toàn vùng
Đông-Nam-Á thường
được chia ra làm những giai-đoạn
mà chỉ-danh từng giai-đoạn lấy từ
địa-danh các vị-trí khảo-cổ tiêu-biểu
nhất như Hòa-Bình, Bắc-Sơn,
Đông-Sơn; tất cả đều nằm trong
Bắc-phần Việt-Nam (trang 182).
* Thời-đại Đồ
Đồng xuất hiện vào khoảng 3,000
đến 2,500 năm TTL. ở Đông-Nam-Á, nghĩa là khởi-sự sớm hơn
Trung-Hoa và Ấn-Độ. Biểu-tượng
chính của nền văn-minh này là những
Trống Đồng tìm thấy ở nhiều nơi
xa xăm như Sulawesi thuộc Nam-Dương
quần-đảo. Những trống đồng như
vậy đều được đúc tại vùng
đất Đông-Sơn nhỏ
hẹp của Việt-Nam, từ đó trống
được phân-phối đi khắp
Đông-Nam-Á theo đường
hải-thương.

Hình 10. Trống
Đồng ghi-dấu khắp nơi ở
Đông-Nam-Á (Trống Đông-Sơn, Viện Khảo
Cổ Học, Hà Nội 1987, trang 131). Lưu-ý
vị-trí Đông-Sơn với
Hoàng-Sa và
Trường-Sa. (trong hai vòng tròn).
2.3 - BIỂN ĐÔNG
THUỘC ẤN-ÐỘDƯƠNG?
Vào thời
Thượng-cổ sang thời Trung-cổ, không
có một vùng biển nào của
Á-Ðông nổi tiếng trong giới
thượng-lưu cũng như thương-mại
Âu-Châu bằng Vịnh Bắc-Việt. Người giàu có
hãnh-diện mỗi khi mua được những
món hàng quý-giá mang về từ
Ðông-phương.
Một
thế-kỷ sau Tây-lịch, học-giả uy-thế
Ptolemy vẽ
bản-đồ thế-giới, ghi-nhận những
địa-danh của "bán-đảo Vàng" Mã-lai/Đông-Dương, Biển Đông với
Vịnh Bắc-Việt tận
cùng về phía Đông của
Ấn-Ðộ, Ông chú-giải chi-tiết và
vẽ hải-đồ hàng-hải giao-thương với một
Hải-cảng thuộc
Giao-Chỉ, được ghi rõ rệt là
Cattigara (hoặc
Cattigara, Kattigara, hay Katigara) tọa-độ 177 độ
Đông kinh-tuyến, 8 độ 30' Nam vĩ-tuyến.
Một chuyện
hạn-hữu mang tính-chất lịch-sử
đã xảy ra. Ðó là chuyện những
bản-đồ Ptolemy được các
học-giả Ả-Rập sử-dụng và
nỗ-lực phổ-biến khắp nơi suốt
thời-gian hơn 1,200 năm. Người ta
tin-tưởng vào công-trình của Ptolemy
đến độ một số sai-lầm trong
tác-phẩm của Ông còn tồn-tại cho
đến cuối thế-kỷ thứ 18. Trong những
sai lầm đó, quan-trọng nhất là những
yếu-tố địa-lý căn-bản của
Vịnh Bắc-Việt bị
nhiều nhà hàng-hải và
cả một sổ nhà địa-lý lừng danh
lập lại một cách lệch lạc đến
1,700 năm sau.

Hình 11. Biển
Đông với hải-cảng chính Cattigara vẽ theo bản-đồ
Ptolemy. "Ancient History
Atlas" Michael Grant, Cartograph by Arthur Bank, Mcmillan Publishing Co., Inc.,
New York, 1971: 75.
Theo Ptolemy, Vịnh Biển
Lớn (Signus Magnus - chỉ Vịnh Bắc-Việt hay rất
có thể là cả Biển Đông) là
một phần của biển Ấn-Ðộ.
Hải-cảng chính
của Vịnh này là Cattigara nằm
bên bờ phía Ðông của
Ấn-Ðộ-Dương cạnh hai con sông lớn.
Tài-liệu của Trường Viễn-Ðông
Bác-Cổ phỏng-định vị-trí hải-cảng Cattigara nằm
trong khu-vực Quảng-Yên, Hồng-Gai.[22]

Hình 12. Họa-đồ Pháp phân-giải sự
nhầm-lẫn về vị-trí và hình-thể
Vịnh Bắc-Việt của các
bản-đồ cổ Ptolemy.
2.4 – BIỂN
ĐÔNG TƯƠNG-LAI, LÃNH-HẢI THÀNH
LÃNH-THỔ
Xem xét qua
các lý-thuyết như vậy, những nhận
xét sau đây đáng được nêu ra:
- Biển
Đông và Việt-Nam không những chỉ
có liên-hệ trong thời hữu-sử mà
sự liên-hệ mật-thiết còn phải
kể từ thuở xa xưa hơn vào thời
tiền-sử.
- Nước
Biển Đông khi lên khi xuống, tuy đôi
lúc làm giông-bão cuồng-loạn thổi
trôi người vật, nhà cửa ra biển
nhưng luôn luôn là cái nôi hiền
dịu, thai-nghén và ấp-ủ văn-minh
nông-nghiệp và
hàng-hải của
dân Việt.
Hình 13. Mực nước
biển lên xuống trong quá-khứ. Nếu
không có gì thay đổi, nước Biển
Đông sắp bắt đầu khô cạn
trở lại.
- Nước
Biển Đông đã lên đến mức
tối-đa. Khoảng chừng ngàn năm trở
lại đây, nhiều nơi tại vùng
châu-thổ sông Hồng-Hà và
Cửu-Long-giang từng bị ngập nước.
Đôi khi mực nước biển có thể
đã dâng cao hơn hiện thời.
Trong một
vài thế-kỷ tới, mực nước có
thể tăng giảm, nhưng có tăng lên
cũng một vài thước là cùng.
Các vùng đất thấp đông
dân-cư đáng lo ngại bị ngập lụt
nhiều nhất là khu châu-thổ các cửa
sông Mae Nam và
thủ-đô Vọng-Các của Thái-Lan. Sau
đó, nước sẽ phải rút xuống.
Trong vòng
dăm ba ngàn năm tới, cả vịnh
Bắc-Việt và
Thái-Lan sẽ trở thành khô-cạn,
người Việt chúng ta không còn có
dịp theo mẹ lên núi nữa mà lại
khởi-sự theo cha tiếp-tục tiến xuống
Biển Đông.
- Thềm
lục-địa chúng ta bảo-vệ hôm nay
sẽ là lãnh-thổ để lại cho con
cháu chúng ta sau này. Thời-gian tuy có
thể nói là xa, nhưng cũng cần
tiên-liệu bây giờ.
- Trong
vòng dăm ba ngàn năm tới, khi nước
rút xuống 20m, eo biển Malacca trở
thành khô cạn. Biển Đông thực
sự biến thành một cái biển
nội-địa. Sự phồn-thịnh của các
thương-cảng tại Tân-gia-Ba và Mã-lai-Á chìm vào quá-khứ.
Nước biển sẽ không còn thoát ra
Ấn-độ-Dương. Biển Đông chỉ còn thông
được với Thái-bình-Dương qua eo biển
Đài-Loan và có lẽ mấy rãnh
nhỏ xuyên qua ngả Phi-luật-Tân mà
thôi.
Tại vịnh
Thái-Lan, hải-cảng Vọng-Các lùi
dần vào đất liền, trở nên một
giang-cảng. Khmer giống như Ai-Lao sẽ biến
thành một quốc-gia nội-địa. Thái-Lan
chỉ còn khu phía Tây thông ra
được biển Andaman và
Ấn-độ-Dương. Các hải-cảng Hải-phòng, Sài-Gòn mất dần
tầm-mức quan-trọng. Tuy vậy nhờ nằm
cạnh vùng biển sâu, Cam Ranh và các
cảng miền Trung-Việt sẽ còn tiếp-tục
hoạt-động và phát-triển mạnh.
Tất cả khu-vực nội-địa rộng lớn
từ Vân-Nam và Thái-Lan sang Ai-Lao, qua Khmer,
tới Việt-Nam chỉ còn trông cậy vào
sự thông-thương ra biển qua các cửa
ngõ này mà thôi.

Hình 14. Hình-thể
Biển Đông nếu nước rút xuống
chừng 70m, lãnh-thổ sẽ rộng ra, nhiều
hải-cảng ngày nay biến mất. (trích
bản-đồ của National Geographic March 197).
Chỉ cần
mực nước biển rút xuống 50, 60m; vịnh
Bắc-Việt thành
khô cạn, vịnh Thái-Lan thâu lại như
một cái hồ nội-địa, và
diện-tích lãnh-thổ Việt-Nam tăng lên
gấp hai lần. Phần đất mới do
thiên-nhiên sắp ban-phát này rất
phẳng-phiu, không núi non rừng rậm. Với
sự cần-cù nhẫn-nại cố-hữu của
dân ta, hầu hết đất nước Việt-Nam
với vùng đồng-bằng bao la sẽ
phì-nhiêu xanh tốt kéo dài suốt
dọc từ Bắc xuống Nam qua nhiều ngàn
cây số.
Tuy vậy, khi
diện-tích đất đai gia-tăng,
dân-số toàn-thể nhân-loại cũng
gia-tăng. Trong lúc diện-tích mặt biển
suy-giảm, số lượng hải-sản cũng
suy-giảm theo; nhiều đổi thay về
môi-trường sinh-sống sẽ xảy ra và
nhịp-độ tranh-chấp lãnh-thổ cùng
hải-phận cũng tăng theo cùng với mực
nước rút... Những luật-lệ đặt ra
hôm nay không còn phù-hợp trong lúc
đó. Vì thềm lục-địa thoai-thoải
của mình, người Việt-Nam cũng nên
tiên-liệu những gì xem ra lợi-ích hay
tệ- hại cho các thế-hệ mai sau.
Sức
người không tát cạn Biển Đông
nhưng thuận vợ thuận chồng hòa anh em,
thương đồng-bào, dân Việt hy-vọng
vẫn trường-tồn và ngự-trị Biển
Đông. Nếu khoa khảo-cổ đúng,
tiền-nhân Việt ta đã tiền-tiến trong
nhiều lãnh-vực, từng vẫy vùng trên
mặt biển mênh mông thì hậu-nhân
Việt sẽ vẫn tiếp-tục vững chắc tiến
bước trên con đường đó cho
dù Biển Đông có ngày khô-cạn.
2.5
– BIỂN ĐÔNG, NGÃ TƯ THẾ-GIỚI
Biển
Đông hay Đông-Hải là một
bán-nội-hải (semi-enclosed sea) nằm về
phía Đông của Việt-Nam. Cũng có
người gọi là Nam-Hải với
ý-nghĩa rằng "biển của người
(Việt) Nam. Vì biển này cũng ở phía
Nam của Trung-Hoa nên bản-đồ quốc-tế
thường ghi là South China Sea. Nói khác
đi, danh-từ Anh-ngữ này (Biển Nam Nước
Trung-Hoa) còn gợi ý cho những nhà
hàng-hải hiểu
rằng vị-trí nước
Tàu nằm ở phía Bắc của "Biển
Đông" này.
|
Table 1. Dimensions of Southeast Asian Seas |
|||
|
|
Area |
Perimeter |
Length |
|
Water Body |
(nmi2) |
(nmi) |
(nmi) |
|
South China Sea |
959,160 |
5,901 |
1,901 |
|
Gulf of Thailand |
85,521 |
1,241 |
339 |
|
Gulf of Tonkin |
46,961 |
1,050 |
268 |
|
TOTAL |
1,091,642 |
|
|
Hình 15. Một
vài con số về kích-thước của
Biển Đông. Theo tài-liệu này, bờ
biển Việt-Nam chiếm tới 35% chu-vi Biển
Đông.
Biển Đông
được bao quanh tới 90% bởi biển các
nước Việt-Nam, Kampuchea, Thái-Lan, Malaysia,
Singapore, Indonesia, Brunei, Philippines, Taiwan và Trung-Hoa; trong
đó phần bờ biển dài nhất là
của Việt-Nam (2,828 hải-lý). Chỉ có 10%
chu-vi của biển này (perimeter = 8192 nautical miles)
thông-thương được ra các biển
Thái-bình-Dương và
Ấn-độ-Dương.
Theo
tài-liệu của văn-phòng International
Hydrographic Bureau, diện-tích Biển Đông vào
khoảng 1,091,642 hải-lý vuông, bao gồm cả
hai vịnh biển khá lớn là vịnh
Bắc-Việt (46,961
hải-lý vuông) và vịnh Thái-Lan (85,521
hải-lý vuông). Chiều dài nhất theo
chiều Bắc-Nam, tới 1,901 hải-lý.
Không có
một vùng biển nào trên thế-giới
với diện-tích tương-đương mà
lại có tầm-mức quan-trọng về
phương-diện giao-thông như Biển
Đông. Muốn từ Thái-bình-Dương sang
Ấn-độ-Dương, tàu thuyền phải chạy qua
đây. Biển Đông nằm ngay trên ngã
tư đường hàng-hải, từ phía Bắc (Trung-Hoa,
Đài-Loan, Đại-Hàn, Nhật-Bản)
xuống Nam (Mã-Lai, Nam-Dương, Úc-Châu)
và từ Tây (Âu-Châu, Phi-Châu,
Trung-Đông, Ấn-Độ) sang Đông
(Nam-Dương, Phi-luật-Tân,
Đại-dương-Châu, Mỹ-châu).
Thời xưa
cũng như ngày nay, bao quanh Biển Đông
là nhiều thương-cảng quốc-tế
quan-trọng. Trước khi Trung-Hoa phát-triển
hàng-hải vào
thế-kỷ thứ 5, hải-cảng sầm-uất
nhất của Biển Đông nằm trong vịnh
Bắc-Việt vùng
Hòn-gay Hải-phòng mà
các nhà hàng-hải quốc-tế thường
gọi là Cattigara (phiên-âm của
các tên thời cổ như Kẻ Chợ- Kesho hay Cửa Gay).

Hình 16. Biển
Đông mở ra Ấn-Độ-Dương với
hải cảng chính Kattigara (thuộc Giao-Chỉ) theo
bản-đồ Ptolemy.
Hơn một
thế-kỷ sau Tây-lịch, Ptolemy tuy không vẽ
hoàn-toàn bản-đồ thế-giới,
nhưng sách của ông có ghi chép về
sinh-hoạt của "bán-đảo Vàng" Mã-lai/Đông-Dương và Biển
Đông. Hải-cảng tận
cùng về phía Đông có
đường hàng-hải giao-thương là
thuộc Giao-Chỉ, được ghi rõ rệt là
Kattigara (tọa-độ 177o
Đông kinh-tuyến, 8o30' Nam vĩ-tuyến
với kinh-tuyến gốc qua quần-đảo Canary).[23]
Ngay trong
thời-kỳ bị Tàu đô-hộ,
người Việt vẫn tiếp-tục nắm giữ
độc-quyền đường biển vùng Hoa-Nam
và Biển Đông như đã từng
nắm giữ từ hàng ngàn năm trước
đó. Hàng-hóa xuất nhập
Đông-Á đều qua cửa khẩu
Giao-chỉ, bên chính-quốc Trung-Hoa lúc
đó không có một hải-cảng nào
quan-trọng. Các đoàn thương-nhân
và ngoại-giao phương Tây sang
Á-Đông đều ngừng lại bến
cuối cùng là "Cattigara" ở xứ ta.[24]
Ngày nay,
Trung-Cộng thường tuyên-bố người
Tàu là giống dân đầu tiên
khám-phá Biển Đông, khám-phá
Hoàng-Sa. Sự kiện này chỉ có
những người nào thiếu kém
hiểu-biết mới tin-tưởng mà thôi.
Trước khi người Tàu lập-quốc
(chỉ chừng 3 thiên-kỷ trước
Tây-lịch) thì nhiều ngàn năm
đó, thổ-dân vùng Đông-Nam-Á đã
đi đi, lại lại thường-xuyên trên
Biển Đông, di-chuyển qua Đài-Loan,
Nhật-Bản và đi ra cả các đảo
ngoài Thái-bình-Dương.
Đường
biển thời cổ nhộn-nhịp đến
độ các dân-tộc cả một vùng
rộng lớn có nhiều sinh-hoạt,
kiến-thức, văn-hóa tương-tự. Qua
đường hàng-hải, ngôn-ngữ các dân-tộc
ảnh-hưởng lẫn nhau. Ngày nay bao quanh Biển
Đông, người ta thấy các ngôn-ngữ
hỗn-hợp giữa hai họ Nam-Á và Nam-Đảo
mà nhà ngữ-học Wilhelm Schmidt
đề-nghị góp chung lại và gọi
là các tiếng Nam-phương (Austric).

Hình 17. Địa-bàn
các ngôn-ngữ Nam-đảo hay Mã-lai Đa-đảo.
Trường-hợp
tiếng Việt-Nam là một thí-dụ về sự
pha trộn đó. Ngôn-ngữ ta được
một số học-giả xếp vào
gia-đình Việt-Mường, tức một chi
của tiểu-họ Môn-Khmer, một số khác
xếp vào chi Nam-Thái. Dù Môn-Khmer hay
Nam-Thái, Việt- ngữ đứng về
vị-trí địa-dư, thuộc
họ Nam-Á. Tuy vậy lại có rất nhiều
bằng-chứng hiển-nhiên về sự
liên-hệ chặt chẽ giữa tiếng Việt
và các thứ tiếng Nam-Đảo. Địa
bàn các tiếng Nam-Đảo này trải
dài hơn nửa vòng trái đất, từ
đảo Madagascar, gần Phi-châu đến
đảo Easter, gần Nam-Mỹ.
Đặc-điểm
của họ ngôn-ngữ này là sự
phân-tán tiếng nói nhờ vào
đường biển mà trung-tâm khởi đi
từ khu-vực chung quanh Biển Đông, khác
hẳn các họ ngôn-ngữ khác truyền
đi bằng đường bộ.
Trong khi nước
Trung-Hoa thành-hình ở bình-nguyên sông
Hoàng-Hà và còn xa lạ với biển,
dân Việt đã sinh sống tại vùng
duyên-hải phía
Đông và Đông-Nam châu Á.
Đặc-biệt dân-cư nền văn-minh
Hòa-Bình (Bắc-Việt) rất giỏi hàng-hải, đã mang văn-minh đi reo rắc
khắp vùng Biển Đông, xuống tận
Nam-Dương và các quần-đảo phía
Nam.

Hình 18. Ảnh-hưởng
văn-hóa hàng-hải của người Việt
(Yueh) thời cổ ở Đông-Á.
Đường biển đi Nhật-Bản, buộc
họ đi ngang Đài-Loan và đường
đi Nam-Dương buộc họ qua Hoàng-Sa Trường-Sa. (Theo
tài-liệu: A History of China, Wolfram Eberhard, 1977: 6-7).
Sử Tàu
cũng ghi chép những chi-tiết xa gần
liên-hệ đến những đường
hàng-hải như
vậy. Còn riêng người Tàu, họ
chỉ mới bành-trướng xuống Hoa-Nam
vài thế-kỷ trước Tây-lịch mà
thôi.
Hiện nay, nhờ
nằm trong vùng địa-thế đặc-biệt
phát-triển hàng-hải như
vậy, các quốc-gia láng giềng với ta
như Mã-Lai, Tân-Gia-Ba đang trở nên
những nước giàu có nhất nhì
thế-giới. Việt-Nam tuy chậm hơn họ
nhưng vẫn có cơ-hội tiến lên.
Nếu lấy
giữa Biển Đông
làm trung-tâm nhìn ra thế-giới:
- Trong
vòng bán-kính 1500 hải-lý, ta thấy
các thành-phố hải-cảng quan-trọng
như Bangkok, Rangoon, Calcutta, Singapore, Djakarta, Manila, Taipei,
Hongkong, Shanghai, Nagasaki.
- Trong
vòng bán-kính 2500 hải-lý, ta thấy
các thành-phố hải-cảng Madras, Colombo, Bombay,
Bali, Darwin, Guam, Tokyo, Yokohama, Seoul, Beijing...
Nhìn kỹ
vòng tròn 2500 hải-lý này, ta thấy
nó bao trùm hầu hết lãnh-thổ các
nước lớn có dân-cư vào hàng đông
nhất trên thế-giới như Trung-Hoa, Ấn-Độ,
Nam-Dương, Nhật-Bản. Sự cận kề
của Biển Đông với gần nửa phần
nhân-loại trong vòng tròn
tương-đối hẹp 2500 hải-lý là
ưu-điểm hàng đầu mà người
ta không thể tìm thấy ở bất cứ
một vùng biển nào khác trên thế-giới.

Hình 19. Vị-trí
Biển Đông và thế-giới. Vòng
tròn có tâm ở Biển Đông và
bán kính 2500 hải-lý bao trùm gần
nửa phần nhân-loại.
Trong các
thế-kỷ vừa qua, những hải-cảng
Việt-Nam như Cam-Ranh, Sài-Gòn,
Hải-Phòng..., vì hoạt-động suy-giảm
nên thường được xếp vào
hạng những hải-cảng kém quan-trọng;
đứng sau các cảng San Francisco, New York, Yokohama,
Hongkong, Sidney, Singapore... Bước sang thế-kỷ
tới, khi những vùng hậu-cảng nước ta
giàu có thêm, kỹ-nghệ phát-triển
và tầm khai-thác tài-nguyên của
Biển Đông đạt đến đúng
mức, thứ hạng quan-trọng của Cam-Ranh cũng
như của các cảng Việt-Nam khác sẽ
thay đổi hẳn.
2.6 –
BIỂN ĐÔNG, HÀNH-LANG CHIẾN-LƯỢC
BẬN
RỘN CỦA THẾ-GIỚI
Biển
Đông là một trong những tuyến
đường biển quan trọng nhất thế
giới. Dưới góc độ giá trị kinh
tế và chiến lược, eo biển Ma-lắc-ca
cửa phía Nam của Biển Đông là
một trong những tuyến vận tải biển quan
trọng nhất trên thế giới, sánh ngang
với kênh đào Su-ez hoặc kênh
đào Pa-na-ma.
Báo Hà
Nội Mới viết: Biển Đông là
hành lang tàu thủy chính giữa Ấn
Độ Dương và Thái Bình Dương,
nối liền các quốc-gia Trung-Đông và
Nam-Á với vùng Đông-Á. Hải-lộ
này cũng nối ba nước đông dân
nhất thế giới là Ấn Độ,
In-đô-nê-xi-a và Trung Quốc, và vì
vậy được xem là điểm điều
tiết giao thông quan trọng nhất ở châu
Á.[25]
Hải-lộ
quốc-tế Biển Đông nằm kẹt giữa
hai quần-đảo Hoàng-Sa và
Trường-Sa của Việt-Nam. Đây là
một khu vực có ý nghĩa chiến
lược trên hai mặt: ngoài các giá
trị to lớn về nguồn tài nguyên thiên
nhiên, các quần đảo này còn
sở hữu một trong những hành lang biển quốc
tế quan trọng nhất thế giới, nơi thông
thương của ¼ nền thương mại
thế giới.
Ví dụ,
năm 1988, Biển Đông chiếm tám phần
trăm tổng số lượng đánh bắt hải-sản của
thế giới, một con số chắc chắn còn
tăng lên. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
đã dự đoán rằng Biển Đông
chứa lượng cá và các nguồn
dầu mỏ, khí gas tự nhiên có giá trị
lên đến một nghìn tỷ đô la.
Vùng Biển Đông
cũng là một trong những vùng có mật
độ hàng hải đông đúc nhất
trên thế giới. Trong những năm 1980, ít
nhất có hai trăm bảy mươi tàu đi
qua quần đảo Trường-Sa mỗi ngày,
và hiện tại hơn một nửa tàu
chở dầu siêu cấp của thế giới
chạy qua vùng biển này hàng năm.
Lượng tàu chở dầu chạy qua Biển
Đông lớn gấp ba lần lượng chạy
qua Kênh Suez và năm lần lớn hơn Kênh
Panama; hai mươi phần trăm dầu thô thế
giới được chuyên chở qua Biển
Đông.[26]

Hình 20.

Hình 21.

Hình 22.
3 hình trên vẽ về
hải-trình và thống-kê lưu-lượng
dầu thô, hàng-hoá ngang qua Biển
Đông trích ra từ trang web U.S. Pacific Command:
http://www.pacom.mil/about/mvp-statements.shtml
Bộ
Năng Lượng Hoa-Kỳ và Bộ Tư-Lệnh
Thái-Bình-Dương của Quân-Lực Mỹ
đã phổ-biển tài-liệu và
hình-ảnh nói rất rõ-ràng về
tầm quan-trọng của hành-lang
chiến-lược này.
2.7 – VỚI
EO KRA, BIỂN ĐÔNG VN SẼ CÀNG
THÊM BẬN RỘN
Các
hải-lộ nối hai đại-dương
Thái-Bình và Ấn-Độ đều
phải đi vòng xuống phía Nam qua các eo
biển Mã-Lai-Á và Nam-Dương. Các
tàu thuyền nếu đi xuyên qua được
eo Kra tại miền Nam Thái-Lan thì
hải-trình sẽ ngắn lại được 2, 3
ngày.
Kế-hoạch
đào một con kinh dài 12 km đủ sâu
để tàu thuyền qua lại dễ-dàng
đã được hoạch-định từ
thời quốc-Vương Narai của xứ Thái
Ayudhya vào năm 1677. Dù vậy cho đến nay,
vì tình-hình an-toàn cho xứ sở
phải cân nhắc, Thái-Lan vẫn do-dự,
chưa dám cho khởi công đào sới.
Các nước như Trung-Hoa, Nhật-Bản,
Mã-Lai-Á, Đức, Pháp đã ngỏ
ý tài-trợ hay đầu tư.
Trong
tình-thế hiện nay, Trung-Hoa chắc-chắn
phải coi vụ kinh-đào Kra rất quan-trọng cho
chiến-lược cũng như quốc sách của
họ. Người Trung-Hoa, vốn là
chuyên-viên tài giỏi trong các
công-trình trị thủy, khai kinh, đắp
đập; chắc chắn họ đầy đủ
khả-năng để thực-hiện dự án
này.

Hình 23. Hải-lộ Kra sẽ cắt ngắn nhiều
ngày đi biển qua lại giữa hai
đại-dương Ấn-Độ và
Thái-Bình. Phú-Quốc, Cà Mau, Côn
Đảo, Cù lao Thu nằm sát bên
hải-lộ quốc-tế này.
Kinh-đào Kra
trước sau gì cũng sẽ phải thành
hình. Hải-lộ quốc-tế này
ảnh-hưởng rất lớn đến Việt-Nam
trong tương-lai. Riêng
Việt-Nam lại có chuyện quá khứ
liên-hệ với eo đất này, (hay eo biển
ngày mai?) từ những ngày trước
công-nguyên. Sách Geography của Ptolemy ghi chép về những
chuyến hải-hành trên Biển Đông
đến "bán-đảo Vàng" Mã-lai/Đông-Dương. Hiếm hoi, ông
cung-cấp cả tên một vị
Thuyền-Trưởng nữa là Alexander.
Theo
Đại-tá (Colonel) G. E. Gerini,[27]
Vịnh Biển Lớn trên bản-đồ cổ
(Magnus Sinus) khởi-sự từ Cape Ti-won (Mũi Kỳ
Vân, Bà Rịa ngày nay) kéo dài tới
Pak-hoi (Bắc-Hải, Trung-Hoa ngày nay), thời ấy
có hai địa-phương tranh-chấp nhau là
Giao-Chỉ và Champa.
Ông Gerini chỉ danh rõ những địa-danh
thương-cảng cũ trong sách Ptolemy với tên các
cảng-thị mới dọc bờ Biển Đông
của Việt-Nam ngày nay.

Hình 24. Bản-đồ này lược-duyệt lại
chuyến đi của Thuyền-Trưởng Alexander
đến Bán đảo Vàng, đồng
thời giúp ta hiểu tạo sao hải-đồ
thời đó vẽ Biển Đông là
“Vịnh Lớn” có Katigara mở về
hướng Tây.
Gerini giống
như Anthony Christie,[28]
cùng cho rằng Thuyền Trưởng Alexander có
lẽ vượt qua eo đất Kra bằng
đường bộ, rồi đáp thuyền
khác tiếp-tục thẳng hướng Đông qua
Katigara (vùng “Kẻ Thị Gay/Hồng Gay ngày nay).
Nguyên-văn Christie viết như sau: “... sea-captain
Alexander had made a voyage to Cattigara, a port which probably lay rather to the east of Saigon, and
Ptolemy drew on his
report for his Geography (Pl. 35). It
is possible that Alexander took the land
route across the Isthmus of Kra and did not sail around the Malay
Peninsula...”
2.8 –
CÔNG-TRÌNH XÂY CẤT, SINH-HOẠT BIỂN &
BỜ
Một
số công-trình xây cất đã
được thực-hiện ngoài biển cũng
như dọc bờ biển liên-hệ đến
phòng-thủ và hàng-hải được
đề-cập tới dưới đây:
2.8.1 –
CÔNG-TRÌNH MỒ HÔI, NƯỚC MẮT
Những năm
đầu khi người lính thủy ra đảo
“chìm” Trường-Sa, nhà ở chỉ
là cái thùng sắt lênh đênh
trên mặt biển, còn gọi là
"Bông tông", được neo đậu
bằng dây chằng. Sau đó đến thế
hệ “nhà cao cẳng" - tức là
nhà sàn đậu trên những chiếc
cọc bê tông. Rồi đến nhà kiểu
"lò vôi" được xây dựng
bằng "bê tông mặn". Nhưng ngày
nay thì mọi chuyện đã khác. Nhà
được xây kiên cố, có hệ
thống bể chứa nước ngọt dùng quanh
năm, có bồn trồng rau quả.

Hình 25. Vòng
hoa tưởng-niệm những chiến-sĩ đã
hy-sinh trong nhiệm-vụ gìn-giữ Biển
Đông, kể cả những quân-nhân chết
khi Nhà Giàn bị bão đánh xập.

Hình 26. Đảo
chìm được xây-dựng thành
đảo nổi.
Cho đến thập-niên
1990, nhiều hải-đăng được dựng
lên giữa biển khơi giúp cho tàu
thuyền hải-hành qua lại được
an-toàn. Xếp hạng theo hệ thống bảo
đảm an toàn hàng hải quốc tế,
nhà đèn trên các đảo An Bang,
Đá Tây, Đá Lát, Tiên Nữ
là nhà cấp 2, riêng nhà đèn
trên đảo Song Tử Tây là nhà
cấp 1.

Hình 27. Có cả cầu tàu ngư-cảng
lớn tại Trường-Sa.

Hình 28. Trường-Sa
đi từ những những rạn san-hô, do sức
người biến đổi thành nguồn
sinh-lực quốc-gia. Những hải-đăng
đồ sộ vươn lên giữa biển
khơi.
Ðảo xa
cũng nên kể Bạch-Long-Vĩ. Đảo này
nằm gần trung-tâm vịnh Bắc-Việt, cách đất liền nước ta
khoảng 110km, cách đảo Hải-Nam (Trung Hoa)
khoảng 130km, cách đảo Cát Bà
khoảng 95km và cách thành-phố
Hải-Phòng khoảng 13km về phía Ðông
Nam.
Ðảo
Bạch-Long-Vĩ có chiều dài 4.5km, chiều
ngang nơi rộng nhất là 1.6km, diện-tích
250ha (2.5km). Đảo trong chương-trình tái
định-cư phát-triển rất mạnh, nay
có chừng 1,000 dân-cư. Điểm cao nhất
của đảo là 62m. Biên-độ thủy-triều
trong vùng biển này tăng đến mức
tối-đa 3.76m.
Ðây là
một khu bảo-tồn biển.
Tổng diện-tích là 550ha, trong đó
diện-tích đảo nổi là 250ha và
diện-tích mặt biển là 300ha,
ấn-định vào năm 1995. Sau đó,
Ngân-hàng Phát-triển Châu Á (Asian
Development Bank, ADB 1999) đề-nghị tăng
diện-tích lên 90,000 ha, trong đó
diện-tích đảo nổi là 250ha và
diện-tích mặt biển là 89,750ha.
Ðảo
Bạch-Long-Vĩ là một trong những
vị-trí chiến-lược
quan-trọng nhất của Miền Bắc-Việt-Nam. Ðảo đứng
đơn-độc, trong phạm-vi bán kính
rộng tới 75km không còn một hòn
đảo nào khác. Ðảo có hải-đăng,
được trang-bị radar viễn-thám, là
nơi cặp bến sửa chữa cho các thuyền
đánh cá xa bờ.
Kể từ ngày 13/8/1999. một trạm
viễn-thông qua vệ-tinh (VSAT) đã
được thiết-lập để giúp cho
việc thông-tin liên-lạc với
Hải-Phòng được dễ-dàng hơn.
Cuối năm 2003,
công nghệ lọc nước biển thành
nước ngọt được thực-hiện tại
đảo. Kết-quả đầu tiên tốt
đẹp trên Bạch-Long-Vĩ sẽ tiếp-tục
trên các hải-đảo Việt-Nam
khác. Sân bay cho phi-cơ nhỏ như Cessna và
Trực-thăng lớn sẽ thực-hiện.

Hình 29. Bến
cảng cá và Cầu tàu Bạch-Long-Vĩ
được xây cất.
2.8.2 –
HỆ-THỐNG HẢI-ĐĂNG VIỆT-NAM
Kể về
những công-trình xây cất khó-khăn
nhọc-nhằn, người ta không thể quên
việc xây cất đèn biển, hay hải-đăng.
Việt Nam hiện
có tới 79 ngọn đèn biển, trải
dài từ Móng Cái đến Hà Tiên
và trên các hải-đảo ngoài
Biển Đông. Không kể một số ít
đèn biển ở gần các thành phố
lớn như Hòn Dấu (Hải Phòng), Tiên Sa
(Đà Nẵng), hoặc ở gần cửa sông tấp
nập thuyền bè vào ra, hầu hết các
ngọn đèn biển đều nằm ở vị
trí heo hút, xa xôi và cao tít như
tổ chim đại bàng trên các vách
đá, mõm núi cheo leo xa cách bóng
người. Các toà nhà đều rất
kiên-cố, được xây dựng để
có thể chịu được những cơn
bão có sức gió trên cấp 12.
Phần lớn
các ngọn đèn biển thường
được xây dựng ở độ cao thuận
tiện, đạt yêu cầu về tầm nhìn
địa lý và tầm hiệu lực ánh
sáng từ 10-25 hải-lý (hl. = 1.852km). Hằng
năm phí thu được từ các tàu
bè qua các luồng biển trên hải phận
Việt Nam lên tới 284 tỉ đồng.
Theo Hiệp Hội
Đại Lý và Môi Giới Hàng Hải,
trong hệ-thống đèn hiệu hải-hành
đó có đến 18 đèn biển ở
các hải đảo như Nam Du, Thổ Chu, Phú
Quốc (tỉnh Kiên Giang) Hòn Khoai, Hòn Chuối
(tỉnh Cà mau), Bãi Cạnh (Côn Đảo),
Phú Quý (Bình Thuận), Hòn hải, Trường-Sa
(tỉnh Khánh Hòa), 9 đèn biển ở
các đảo Trường-Sa và các báo
hiệu ở vùng dầu khí nơi xa đơn
vị và thời tiết khắc nghiệt.[29]
Hình 30. Hải
đăng Hòn Dáu.
Hình 31. Hải
đăng Vũng Tàu (trái).
Nhà
đèn trong quần đảo Trường-Sa
được đặt ở những đầu
chỏm của biển, nơi những doi đất xa
xôi, cam go nhất - nơi mà các tàu
đánh cá xa bờ,
tàu vận tải... thường gặp hiểm nguy
như mắc cạn hay đắm tàu. Ngọn
hải đăng Tiên Nữ đứng ở
vùng cực Đông của hải-phận.
Ngọn đèn mới này đẹp nhất
Trường-Sa, xây dựng năm 2000, nơi nhận
ánh sáng mặt trời lên đầu tiên
của Việt Nam trong ngày.

Hình 32. Hải
đăng Ba Lạt (Thái Bình).
Hình 33. Hải
đăng Đá Tây (quần đảo Trường-Sa).
2.8.3 –
HỆ-THỐNG CẢNG BIỂN VIỆT-NAM
Từ trước
đến giờ, nước ta chỉ có 2 cảng
lớn cỡ quốc-tế là Hải-phòng và
Sài-gòn. Ðể phát-triển kinh-tế,
Việt-Nam đang cải-tiến và xây-cất
thêm nhiều cảng biển trong vòng 10 năm
tới. Từ Bắc vào Nam, ta có thể kể
các cảng: Cái Lân (Quảng-Ninh) Cửa Lò (Nghệ An)
Ðà Nẵng, Qui Nhơn, Dung Quát (Quảng
Ngãi)...
Ngày nay,
cảng nước ta xây-dựng khắp nơi.
Hệ-thống cảng biển bao gồm
phần lớn là các cảng cá, phân
bố trên địa-bàn của 111 huyện,
thành-phố hoặc thị xã - thị trấn
ven biển. Các cảng lớn như
Hải-Phòng, Đà Nẵng, Vũng Tàu...
có nhiều chức năng nhưng cũng có
cảng cá phụ thuộc.
Vào thời
điểm năm 2010, Việt Nam dự-trù
sử-dụng 114 cảng biển được chia
thành 8 nhóm, phân bố dọc theo bờ
biển từ Móng-Cái đến Kiên Giang.
Mỗi nhóm cảng là một hệ thống cảng
nhỏ, có sự hỗ trợ liên-hoàn
với nhau.
Hiện đã
có 74 cảng biển nước ta được
kiểm tra và cấp chứng nhận phù hợp
tiêu chuẩn Bộ Luật quốc tế về An ninh
Tàu và Bến cảng (ISPS Code). Việt Nam cũng
có 1,200 sĩ quan an ninh cảng biển được
đào tạo và cấp giấy chứng nhận
quốc tế về an ninh tàu biển, 203 tàu
biển được phê duyệt kế hoạch an
ninh.
Cảng quốc
tế Cái Mép - Thị Vải được
dự kiến là cảng biển lớn nhất
Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2020. Cảng sẽ
được khởi công vào năm 2006,
hoàn thành đưa vào sử dụng cuối
năm 2009. Cảng Cái Mép - Thị Vải sẽ
có công suất 1,1 triệu TEU cho hàng container
và 1,1 triệu tấn hàng tổng hợp vào
năm 2010, từng bước giúp di dời cảng
Sài Gòn ra khỏi nội đô, giảm
lượng xe tải giao thông trong thành phố.
Tiến sĩ Chu
Quang Thứ, Quyền Cục trưởng Cục Hàng
hải Việt Nam có nhận-xét: hệ thống
cảng biển Việt Nam đang thừa các cảng
nhỏ mà không có (dù chỉ một)
cảng biển có tầm vóc quốc tế.
Còn cảng địa phương như Hải
Hậu (Nam Định), Diêm Điền (Thái Bình)... lúc có tàu vào thì
cần, lúc không có tàu là thừa.

Hình
34. Hệ-thống Cảng Biển
Việt-Nam.
Nhìn xa về
tương-lai, các cảng
biển lớn nhất Việt-Nam sẽ phải
xây-dựng ở miền Trung vì khu-vực
này có nhiều vịnh tốt, kín gió
lại không bị phù-sa bồi lấp.
Ưu-thế hơn tất cả các cảng khác
là chúng nằm sát hải-lộ
giao-thương. Trong khi các cảng của Vịnh
Bắc-Việt như
Hải Phòng cách hải-lộ đó 18
giờ hải-hành hay lâu hơn nữa, các
cảng miền Trung chỉ cách đó vài ba
tiếng đồng-hồ. Ðặc-biệt Vịnh Cam
Ranh (1 giờ tàu biển
là tới) được xếp vào loại
một trong ba hải cảng có điều-kiện
tự nhiên tốt nhất thế giới, với
diện tích vùng vịnh kín tới 60km2
và độ sâu trung bình 18-20m nước,
xung quanh có núi bao bọc làm cho vùng
biển luôn lặng gió. Ngay gần đó
là Văn Phong ưu-điểm cũng không
kém. Tiến sĩ Chu Quang Thứ từng
phát-biểu rằng: Các tài liệu hàng
hải quốc tế tuy không nói cụ thể,
nhưng Việt Nam có Văn Phong (Khánh Hoà)
may ra mới có thể nói là cảng biển
hàng trăm năm.
2.8.4 – SINH-HOẠT
NGƯ-NGHIỆP
Tuy bãi
đánh cá diện-tích nhỏ ở
khắp nơi, nhưng tính ra chỉ có 12
bãi cá chính tại các khu-vực ven
bờ và 3 bãi cá trên các gò
nổi ngoài khơi là có giá-trị
hơn cả.

Hình 35. Các
bãi cá chính của Biển Đông.
Các bãi cá chính
thường có kích-thước lớn và
tương-đối ổn-định trong đó
đáng chú ý là các bãi ở
Bạch-Long-Vĩ, bãi giữa vịnh Bắc-Bộ,
ở Hòn Gió, Thuận An, Cù Lao Thu có
thể khai-thác 15-20 nghìn tấn năm. Các
bãi cá gò nổi vùng khơi chỉ cho
sản-lượng khoảng 2-3 ngàn tấn năm.
Ở Đông Nam Bộ và Nam Bộ, các
bãi cá ở vùng nước xa bờ sâu
trên dưới 50m có năng suất
ổn-định hơn là ở vùng biển
phía bắc. Một số loài cá có
giá-trị kinh-tế cao thường tập trung
ở đấy, thí-dụ như cá Nục
(Carangidae), cá Hồng (Lutianidae), cá Mối
(Synodidae), cá Chỉ Vàng (Selaroides leptolepis), cá
Thu Ngừ (Seombridae), cá Mú (Serranidae) v.v...

Hình 36. Bản-đồ
ghi-nhận mật-độ hải-sản vùng biển Việt-Nam
Hải-Sinh-Vật có mật-độ cao
nhất tại vùng ngoài khơi Vũng-Tàu,
Nghệ-An, Thừa-Thiên, Cà Mau.
Những lần nghiên-cứu gần đây,
đặc-biệt là cuộc khảo-sát bằng
siêu-âm vào tháng 4 và tháng 5-1999 cho
những con số ước-lượng đầu
tiên về hải-sản một cách
cụ-thể. Chuyên-viên của Trung-Tâm
Phát-triển Nghề Cá Ðông-Nam-Á
(SEAFDEC) dùng một con tàu nghiên-cứu
chạy với vận-tốc đều-đặn
là 10 gút (hải-lý/giờ) qua lại
thành những luống trên biển. Trong khi
tàu chạy, người ta cho máy
trắc-lượng ghi nhận mật-độ của
các hải-sinh-vật bằng cách đo
hồi-ba của siêu-âm phát ra.
Nguyên-tắc này giống như của sonar hay
decca, chỉ khác là chùm sóng phát ra
quét rộng lớn. Sonar hay decca cần hội-tụ
chùm sóng vì mục đích là
phát-hiện và theo dõi tàu địch.
Kết-quả được Rosidi Ali, Nguyễn Lam Anh, Vũ Duyên Hải, Shunji
Fujiwara, Kunimune Shiomi và Nadzri Seman lập thành
một báo-cáo khá dài với những
điểm chính sau đây:
- Quan-sát
tổng-quát vào khoảng
27.6% diện-tích thăm-dò đạt tới
mật-độ hải-sản khá cao, vượt
20 tấn/km2 (tối-đa 113 tấn/km2,
tối thiểu 0.1 tấn/km2)
- Trong
khu-vực biển Việt-Nam được thăm
dò, tổng-số hải-sản ước-lượng
vào khoảng 9.26 triệu tấn với
mật-độ trung-bình 15.93 tấn/km2.
- Sự
phỏng-định được dựa trên
giả-thuyết là loài cá thu Decapterus maruadsi được coi
như hải sản chính bao-phủ khắp vùng.
Cá thu này được tính làm
căn-bản, có chiều dài 15.4 cm và
nặng 63g.[30]
Trong việc Tuyên Truyền Biển Đảo,
kế-hoạch 35 /KH/MTTƯ ngày 25 tháng 9 năm
2003 của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ghi
nhận rằng: Nước ta có bờ biển
dài 3.260km, ven biển có 22 vịnh, có 112
cửa sông lớn nhỏ.
Tuyến biển có 28 tỉnh, thành phố
gồm: 109 huyện, thị xã với 511 xã,
phường (trong đó có 11 huyện đảo, 49
xã đảo) với khoảng 20 triệu
người sống ở ven bờ và 17 vạn
người sống ở các đảo (ngư
dân làm nghề biển có khoảng 370,000
người). Có trên 90,000 chiếc tàu
thuyền các loại hoạt động trên
biển, trong đó chủ yếu là tàu
thuyền hoạt động nghề cá, khoảng trên
80,000 chiếc.
Như vậy nghề cá có lớn mạnh,
đội ngũ lao động đang
được nâng cao trình độ tay nghề
về ứng dụng khoa học, công nghệ, trang
bị cho các đội tàu xa bờ.
Thế nhưng vì thấy xa trông rộng,
Bộ Thủy sản đã kêu gọi việc
khai thác ngư-nghiệp phải hợp lý,
giữ bền vững cho các nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Việc bảo vệ môi
trường biển đã
trở thành mục tiêu chiến lược
lâu dài trong quá trình phát triển kinh
tế-xã hội của nước ta.
Bộ cũng ra Thông tư số 03/2006/TT-BTS
ngày 12 tháng 4 năm 2006, trong đó
đoạn e) viết những sự hạn-chế như
sau:
e)
Sở Thủy sản các tỉnh, thành phố ven
biển tổ chức chỉ đạo thực hiện
tốt kế hoạch khai thác hải sản hàng
năm của địa phương; phấn đấu
trong cả nước đến năm 2010, số lượng
tàu cá giữ ở mức 50,000 chiếc, trong
đó tàu có công suất máy lớn
hơn 75CV không quá 6,000 chiếc, tàu có công
suất máy từ 46-75 CV không quá 14,000
chiếc, tàu có công suất máy từ 21-45
CV không quá 20,000 chiếc; duy trì sản
lượng khai thác trong cả nước giữ
ở mức 1.5-1.8 triệu tấn, trong đó
Vịnh Bắc Bộ khoảng 0,27 triệu tấn,
vùng biển miền Trung khoảng 0,37 triệu
tấn, vùng Biển Đông Nam Bộ khoảng
0,71 triệu tấn, vùng biển Tây Nam Bộ
khoảng 0,2 triệu tấn, vùng giữa Biển
Đông và hợp tác khai thác vùng
biển quốc tế khoảng 0,25 triệu tấn.
2.8.4 – CÔNG NGHỆ ĐÓNG
TÀU, MỘT ĐIỂM LOÉ SÁNG
Trong giai đoạn 1991 tới nay, số lượng
tàu thuyền máy được đóng
tăng nhanh, thuyền thủ công giảm dần:
Năm 1991, tàu thuyền máy có 44,347 chiếc,
chiếm 59.6%; thuyền thủ công 30,284 chiếc,
chiếm 40.4%; đến năm 2003 tổng số
thuyền máy là 83,123 chiếc, tổng công
suất đã đạt tới 3,497,457 CV, gấp 5
lần so với năm 1991. Số tàu thuyền
có công suất cao tăng khá nhanh, năm 1997,
thời điểm bắt đầu triển khai
chương trình vay vốn tín dụng đầu
tư đóng tàu đánh bắt xa bờ,
cả nước có khoảng 5,000 tàu
đánh cá xa bờ, đến
năm 2000 đã có 5,896 chiếc, năm 2003
có 6,258 chiếc.
Còn ngành công nghệ nặng đóng
tàu lớn, nhờ cơ-duyên hãn-hữu,
đã nổi lên như một điểm
sáng chói. Gần đây, ngành công
nghiệp đóng tàu đang có xu
hướng chuyển dịch từ các nước
châu Âu sang châu Á, đây là cơ
hội rất lớn cho ngành công nghiệp
tàu thủy và hàng hải nước ta
phát triển. Từ chỗ chỉ đóng
được tàu vài ngàn tấn dùng
nội địa, nay Việt Nam đã đóng
được tàu container, tàu hàng 11,500–12,500
tấn, các loại tàu hút bùn với
khoang chứa 15,000 m3, tàu dầu lớn, tàu
chở hóa khí lỏng.
Ông Andre Haspels, đại sứ Hà Lan nhận
xét: “Việt Nam có những thuận lợi
rất lớn để phát triển ngành
công nghiệp đóng tàu. Đó là
vị trí địa lý thuận lợi cho giao
lưu hàng hoá, lực lượng lao động cần
cù sáng tạo, đồng thời Việt Nam
nằm ở khu vực có tốc độ tăng
trưởng cao. Hiện nay, đã có nhiều
công ty, chủ tàu ở châu Âu đang
hướng tới Việt Nam để đặt
hàng…”
Ngành đóng tàu Việt Nam đang
phát triển một kế hoạch đầy tham
vọng với mức đầu tư lên đến
3 tỉ đô la.
Theo Đài Tiếng Nói Việt Nam phát
đi ngày Chủ nhật, 12/03/2006: Năm 2005
đánh dấu sự phát triển vượt
bậc của ngành công nghiệp tàu thủy
Việt Nam trên các lĩnh vực: Đóng
mới, sửa chữa tàu thủy, vận tải,
xây dựng, thương mại - dịch vụ. Hoạt
động sản xuất kinh doanh của Tổng công
ty công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vianshin)
đạt mức tăng trưởng cao, giá trị
tổng sản lượng đạt trên 11,000 tỷ
đồng, tăng 47% so với năm 2004. Về mặt
sản phẩm, Vinashin đang tiến hành
đóng mới tàu 53,000 tấn, tàu 34,000
tấn xuất khẩu cho Anh, tàu 8.700 tấn xuất
khẩu cho Nhật Bản, hoàn thành và
bàn giao 1 tàu hàng 15,000 tấn, 3 tàu 12.500
tấn cho Vinalines, bàn giao 1 tàu 1,016 TEU cho Công
ty vận tải Biển Đông, khởi công
đóng mới tàu 22,000 tấn… Các
cơ sở đóng tàu phía Nam như:
công ty công nghiệp tàu thủy Sài
Gòn đã đóng mới được
tàu hàng 6,500 DWT, công ty đóng tàu
và công nghiệp hàng hải Sài Gòn
đóng mới sà lan 15,000 DWT…

Hình 37. Một chiếc tàu lớn
sắp hoàn-thành.
Ngành công
nghiệp tàu thủy thực-sự là niềm
hãnh-diện Việt Nam, nước ta được
xếp hạng thứ 11 trong các quốc-gia có
công-nghệ này. Các con “tàu
vĩ-đại” 100,000 tấn có thể sẽ
nằm trong danh-sách sản-xuất không lâu.
Thế nhưng nói về kỹ-thuật cao trong
nghề thì Việt-Nam chưa tự-túc
được. Mong rằng những “con tàu
thành-trì bảo-vệ tổ-quốc”
căn-bản, nhỏ bé nhất như
hộ-tống-hạm 800 tấn hay nhỉnh hơn
chút nữa là khu-trục-hạm 4,000 tấn
cũng nhất-định phải là con đẻ
100% từ hải-xưởng Việt-Nam.
Hiện tại,
trung tâm đóng tàu của thế giới
đang ở Đông Á với ba nước
Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc
chiếm đến 85% tổng sản lượng, EU
chỉ có 11%, các nước còn lại
chiếm hơn 4%. Tuy nhiên, xét về giá
trị, EU lại là khu vực chiếm một tỷ
lệ doanh thu lớn nhất (gần 30%) do họ tập
trung vào những loại tàu cao cấp như:
tàu chở khí lỏng và tàu chở
khách.
Bên cạnh
những nước kỹ-nghệ khổng-lồ
trên, Việt-Nam chỉ là thứ “bé
con” học nghề, may được chia phần
trăm nhỏ bé, nếu có cạnh-tranh thì
sẽ bị thiếu hơi. Ngành đóng
tàu Việt Nam có năng lực nhỏ bé,
trình độ lạc hậu, đầu tư
phân tán và manh mún, không có
lợi thế so sánh, trong khi ngành này
ngày càng đòi hỏi kỹ thuật cao
và trở nên thâm dụng vốn.
Hai Ông Huỳnh
Thế Du - Vũ Thành Tự Anh (TBKTSG), sau khi
nghiên-cứu đã đề nghị: Nhà
nước có thể xem xét mở rộng
thêm cơ hội và phương thức
đầu tư cho các đối tác nước
ngoài, nhất là Hàn Quốc và Nhật
Bản. Trên cơ sở đó thúc
đẩy sự chuyển giao công nghệ và
phát triển các ngành công nghiệp
phụ trợ hạ nguồn. Có như vậy, may ra
mới có thể xây dựng được
một ngành đóng tàu mạnh có
khả năng cạnh tranh cao trong tương lai.[31]
3
– HẢI-SINH-VẬT BIỂN-ĐÔNG.
Động-vật chính
ngoài Biển Đông là các loài chim,
rùa, tôm cá.
3.1
– CHIM CHÓC.
3.1.1 - Biển Đông, Vùng bay của
Di-điểu
Việt-Nam
nằm trên bờ phía Ðông của
bán-đảo Ðông-Dương. Động vật nước ta
được xếp vào phạm vi “động
vật viễn đông”. Bản-đồ ghi
nhận Bán-đảo Ðông-Dương và
Biển Ðông nằm ở khu trung-ương
những đường bay thường-xuyên của
các giống chim di-cư, gọi theo một tên quen
thuộc của giới điểu-học là
Đường Bay Á-Ðông / Úc-Ðại-Lợi
“East Asian – Australasian Flyway”.
Có nhiều
loại di-điểu nhận nước ta làm nơi
tạm-trú trong cuộc đời nay đây mai
đó của chúng. Nhiều loài chim từ
Tây-Bá Lợi Á bay xuống cũng như
Úc-Châu bay lên, ghé qua và tạm
ngừng nghỉ một vài tuần hay năm ba
tháng tại đây.
Người ta
biết rằng động-vật di-chuyển để
kiếm thực-phẩm. Khi mùa thay đổi,
thường là vào mùa Ðông, đồ
ăn khan-hiếm ở vùng vĩ-độ cao,
thú-vật và chim-chóc đều đi
tìm thực-phẩm. Giống chim nhờ bay nhanh,
hợp thành đoàn cùng di-chuyển về phía
xích-đạo có nắng ấm để
kiếm ăn.
Ngỗng và
Vịt trời bay rất xa ở cao-độ tới 29,000
feet, tức là cao hơn cả núi Everest. Bộ
lông chúng giữ nhiệt rất tốt, ta
dùng may áo ấm. Trước khi bay hay trong khi bay
bị đói, mệt phải nghỉ lại, các
loài di-điểu cần ăn thật nhiều
để có sức thực-hiện cuộc
hành-trình. Có con tăng trọng-lượng
thân-thể lên tới gấp rưỡi.
Trong hơn 200
loài chim tham gia vào đường bay này
có nhiều chim biển, chim nước.
Đặc-biệt một số chim quý gồm 15
loài di-điểu đang bị đe doạ
tuyệt-chủng trên
thế giới cũng tìm thấy ở Việt-Nam.
Những loài tiêu-biểu thuộc họ vịt
trời, cò, én… có tên khoa-học
kèm Anh-Ngữ như sau:
Gaviidae Loons Vịt
Podicipedidae Grebes Cộc trắng
Phalacrocoracidae Cormorants
Còng
Cọng
Pelecanidae Pelicans Chằng bè
Ardeidae Herons,
Egrets
and Bitterns Diệc
Ciconiidae Storks Hạc
Threskiornithidae Ibises
and Spoonbills Cò
Thìa
Phoenicopteridae Flamingos Hồng-hạc
Anatidae Swans,
Geese
and Ducks Ngỗng
Gruidae Cranes Sếu
Laridae Gulls, Terns and
Skimmer Hải-âu
Rallidae Rails, Gallinules and
Coots Cuốc
Charadriidae Plovers Óc cau
Heliornithidae Finfoots Chân bơi
Scolopacidae Sandpipers Rẽ
Dromadidae Crab
Plover Choi
choi
Jacanidae Jacanas Gà lôi nước
Recurvirostridae Stilts
and Avocet Phân
họ Cà kheo
Glareolidae Pratincoles
(Họ
Dô nách)
Haematopodidae Oystercatchers
Chim
ăn sò, ốc

Hình 38. Ðường
bay của di-điểu “East Asian – Australasian Flyway”.
Những loài
chim sinh sống trên các bãi biển cũng
có thể là các loài chim di-điểu
tham-dự vào đường bay East Asian – Australasian
Flyway. Ðó là những con chim ăn cua, ốc,
dã-tràng, sò hến...
Chim di cư là
một trong những yếu tố khiến dịch
cúm gia cầm lây lan trên toàn cầu. Virus
như H5N1 được mang từ châu lục
này sang châu lục khác. Tuy vậy theo với
“luật tiến-hoá” để sinh tồn,
các loài chim hoang dã, kể cả chim di-cư
đều có một số khả-năng miễn
nhiễm với bệnh tật. Khi một con bị
bệnh, cả đàn sẽ tách ra để
tránh lây nhiễm. Chúng tiếp-tục
tồn-tại sau hàng chục triệu năm trên
trái đất này.
Vì sinh-hoạt
của chim-chóc khác nhau, có con sống trong
lục-địa, con ngoài đại-dương, con
trên bãi biển, gần hay xa khơi ngoài
biển. Người ta quan-sát và ghi vào
tài-liệu hình vẽ như sau đây:

Hình 39. Một
số loài chim của biển.
3.1.2 - Hải-Âu, bạn
thân-thiết của người đi biển
Đối với
người đi biển, hải-âu là loài
chim mà họ thường gặp nhất khi
hải-hành.
Các đảo
là những nơi ẩn-trú của các
loài chim biển, nhất là chim hải-âu. Chim
bay ra biển kiếm ăn rồi trở về đảo,
chúng đẻ ngay trên đất, không
cần làm tổ. Trứng của chúng to hơn
trứng gà, vỏ mỏng mầu trắng
điểm nhiều đốm đen. Hải-âu
trên Biển Đông (họ Laridea) không lớn
lắm, ít con nào sải cánh (wing-span) tới
80cm. Người Việt chúng ta thường gọi
chung các chim biển đủ mọi loại là
"hải-âu". Thật ra, theo khoa-học,
hải-âu có nhiều loại khác nhau.
Những chim
Biển Đông không phải cùng họ
với loài hải-âu to lớn Albatros (họ
Diomedeidae). Vì chúng có đôi phần
tương-cận, nên nhân-tiện đây
chúng tôi xin kể vài tính-chất của
loài hải-âu Albatros như sau:
- Là
loài chim có cánh sải ra rất dài.
Wandering Albatros đo được 12 feet (3.65 m) từ
đầu cánh này tới đầu cánh kia.
Chúng là loài chim lớn nhất khi bay.
Dạng bay lượn của chim rất nhẹ nhàng
đẹp mắt, chim bay xa nhiều ngàn
hải-lý và sống lâu hơn hầu hết
các loài chim khác. Một hải-âu
được đánh dấu năm 1860, đã
sống qua nhiều thập-niên cho đến khi
bị ngẫu-nhiên giết chết vào năm 1894
tại đảo Faero Island (bắc Tô-cách-Lan).

Hình 40. Bề
sải cánh của Hải-Âu Albatros, so sánh
với người cao 6ft và chim hummingbird loại
nhỏ.
- Nhờ
cánh dài và hẹp bề ngang, chim rất
giỏi liệng qua liệng lại nhưng vì đập
cánh một cách khó khăn nên albatros
thích sinh sống trong những vùng biển có
gió mạnh.
- Là
loài chim di-cư sinh sống trên
đại-dương vùng Nam-bán-cầu, bay theo
gió mùa vòng quanh
thế-giới. Chim Albatros không có nhiều lắm
ở Bắc-bán-cầu và người
Âu-châu chỉ mới biết loài
hải-âu này vào những thế-kỷ
gần đây khi họ khởi sự giương
buồm về Nam, đi thám-hiểm.
- Là
bạn thân-thiết của người đi biển,
hải-âu đôi khi liệng cánh bay theo
tàu nhiều ngày liên-tiếp. Thủy-thủ
kiêng-cữ việc giết hải-âu,
tác-phẩm văn-học nổi-tiếng nhất
đã bi-hùng-hóa niềm mê-tín
này là "The Rime of the Ancient Mariner" của
thi-hào Anh-cát-Lợi, ông Samuel Taylor Coleridge
(1772-1834).
3.1.3 – Chim trên các
đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa
Về các
loại chim trên các
đảo ngoài Biển Đông, chúng
được chia làm ba họ: Laridés,
Stéganopodés và Zosterops. Theo Jean de Lacour và
Jabouillé, người Việt-Nam thường gọi
chim thuộc họ Zosterops là "Chim Sâu
Nghệ". Hai ông thấy chúng
trên đảo Phú-Lâm.[32]

Hình 41. Một loài chim
thuộc họ Zosterops.
Chim Laridea sinh sống suốt
đời ngoài biển, chúng chỉ dành
một phần nhỏ cuộc đời trên
hải-đảo. Theo sự tiến-hóa chân chim
biến-đổi, có màng để bơi
lặn trong nước. Đường thực-quản của
chim có cơ-phận đặc-biệt để
loại bớt chất muối hiện-hữu quá
nhiều trong nước biển. Chim rất nhanh nhẹn
ngoài biển cả, trên không lẫn
dưới nước; nhưng di-chuyển chậm
chạp trên bờ. Chúng không biết leo
cây, thường đậu trên bãi,
đẻ trứng trên cát và không làm
tổ. Đời các hải-âu khá dài,
chúng có thể sống tới 36 tuổi hay
lâu hơn nữa.

Hình 42. Chim hải-âu thuộc họ Laridés.
Chim biển có thức ăn thường ngày
là hải-sản nên phân chứa
nhiều acid phosphoric. Chất này tác-dụng lên
chất vôi là biến-chất của xác
thân san-hô sau khi chết, tạo thành phosphate, song-hành với sự bay hơi của khí CO2.
Chất phosphate này là một
thứ phân-bón giúp cây cối có
cơ-hội phát-triển nhanh chóng.
3.2 - RÙA VÀ SINH-VẬT TRÊN
ĐẢO NGOÀI BIỂN ĐÔNG.
Bên cạnh chim biển, động-vật
đáng kể đến là rùa biển.
Rùa biển sinh sản trong vùng
nhiệt-đới. Rùa đẻ trứng vùi trong
cát. Trứng rùa cần nhiệt-độ cao
mới nở được. Đối với
người Trung-Hoa thời cổ sống nơi vùng
ôn-đới thì những con rùa to lớn
xuất-xứ từ vùng Biển Đông xem ra
rất lạ lùng với họ. Sử Tàu
ghi-nhận chứng-cớ đó.
“Câu
truyện "cống rùa thần" được
chép trong sách Cương-Mục Tiền-Biên
của Kim-Lý-Tường và sách
Thông-Chí của Trịnh-Tiều, theo đó
đời vua Đường-Nghiêu bên Tàu
(2357-2258 tr T.C.), họ Việt-Thường có
đến chầu và cống con rùa thần,
sống tới cả ngàn năm, lưng có mang
chữ viết ghi việc từ khi trời đất
mới mở mang. Vua Nghiêu sai người chép
lại gọi là lịch rùa".[33]
Một loại
rùa biển có giá-trị thương-mại
đáng kể là đồi-mồi. Nhiều
sản-phẩm rất mỹ-thuật làm bằng mai
đồi-mồi bán được giá cao trong
cả hai thị-trường quốc-nội và
quốc-ngoại. Khi để lớn hết cỡ,
mỗi con có thể cho tới 3.6 kg
đồi-mồi.
Người
dân duyên-hải, kể cả ngoại-nhân
xâm-nhập bất hợp-pháp, đã
khai-thác bừa bãi khiến cho giống
đồi mồi đang suy-giảm rõ rệt và
có cơ tuyệt-chủng.

Hình 43. Mai
đồi-mồi rất đẹp, có
giá-trị thương-mại.
Rùa biển
khác với rùa sống trên cạn ở
vài điểm như 4 chân biến thành vây
để bơi. Rùa biển bơi lẹ làng
và vì sự tiến-hóa, vây dài
thêm không còn thu gọn lại được
trong mai như rùa đất. Rùa biển có
thể lớn tối-đa tới 6 feet (1.85m), sống
lâu hàng trăm năm. Đồi-mồi nhỏ
hơn, mai rộng chừng 80cm gồm nhiều miếng
vẩy xếp như mái ngói. Vẩy
đồi-mồi có vân mầu nâu óng
ánh rất đẹp, dùng làm quạt,
gương, lược, bìa sách... thật
đẹp mắt. Đồi-mồi sống nhiều trong
vịnh Thái-Lan, nhất là vùng
Phú-Quốc.
Rùa biển
nằm trong danh-sách các loài sinh-vật cần
được bảo-tồn của
tổ-chức Liên-Hiệp-Quốc.

Hình 44. Vít cũng
như các loại rùa biển khác đẻ
trứng trên bãi cát. Đẻ trứng xong,
con rùa này đang trở ra biển.
Ngoài
đồi mồi còn một loài rùa biển
mà người ta gọi là con Vít. Ban đêm
vít từ biển bò lên bãi đẻ
trứng. Trứng vít lớn như trứng vịt,
có thể ăn được. Muốn bắt
Vít hay lấy trứng, người ta cứ đi theo
những vết chân của nó như hai vệt
bánh xe tăng kéo dài trên cát.
Vít bị lật ngửa thường không tự
lật lại được. Thịt vít cũng
ăn được, lại có thể sẻ ra
làm khô. Chúng đẻ trứng vùi
dưới cát. Nhờ cát nóng, trứng
nở ra vít con chạy tứ tán ra biển.
Trên đường chạy ra biển như vậy,
vô-số vít sơ-sanh bị chim ăn thịt
nhưng vẫn còn nhiều con sống sót
nhảy được xuống nước.
Cũng có
chuột trên các đảo, loại to bằng
chuột cống. Người đi biển cho biết
ở đảo nào cũng có muỗi.
Theo các
nhà Địa-chất-học như Linh-mục La
Fontaine mà nhiều tài-liệu của ông
được tra-cứu và trích-dẫn trong
sách này, thì thú-vật sống trên
các đảo của Biển Đông đều
là các loài đã gặp trên
đất liền. Ông R. Bournet (1937) đã
tìm thấy rắn mối Emoia Atrocostatum tại
Hoàng-Sa, loài này sống ở khắp
nơi từ bán-đảo Mã-Lai qua
Phi-luật-Tân và Đại-dương-Châu.
3.3-
HẢI-SINH-VẬT NGOÀI BIỂN
Một số
lớn các thủy-tộc thông-thường
mà ta thấy ở bờ biển Việt-Nam cũng
sinh-sống ngoài biển Hoàng-Sa và
Trường-Sa như cá thu, cá nhám, cá
hồng, cá mú, lươn bể, cá
đuối, cá mực, đồn đột, tôm
cua, sò ốc...
Thống-kê
về những hải-sinh-vật Biển
Đông cho đến nay vẫn còn thiếu
sót. Các chuyên-viên tiếp-tục phát
hiện nhiều loài cá mới.
Theo công bố
của Viện Nghiên cứu hải sản (NCHS),
Bộ Thủy sản, nguyên vùng quần
đảo Trường-Sa, các nhà nghiên
cứu đã tìm được tới 414
loài cá, trong đó hơn 35% là loài
mới phát hiện lần đầu ở vùng
biển Việt Nam.
Đặc biệt
lần đầu tiên, Việt Nam đã phát
hiện họ cá bống biển sâu (Microdesmidae)
gồm có 2 giống và loài mới. Theo
Viện NCHS, khu hệ sinh vật trong vùng biển
quần đảo Trường-Sa rất phong phú
và có tính đa dạng rất cao: 223
loài thực vật phù du đã
được phát hiện, trong đó có 2
giống và 43 loài mới ở biển Việt
Nam; tìm thấy 223 loài động vật phù
du, trong đó phát hiện 8 giống và 19
loài mới.
Biển
Đông có nhiều loại cá đáng
kể là những mối lợi lớn về
kinh-tế. Chúng tôi sẽ trình bày về
các loài cá của ngư-nghiệp trong phần
tài-nguyên hải-sản ở
những trang sau. Ở đây chúng tôi xin
đề-cập trước vài điều về
những hải-sinh-vật lớn
như cá voi, cá heo.
- Chúng
ta thường hay gọi cá voi, cá kình,
cá heo nhưng trong sinh-vật-học, chúng không phải loài
"Cá" mà được xếp hạng
cùng với con người trong loài "có
vú” (hữu-nhũ, mammalia) máu nóng,
thở bằng phổi, đẻ con nhỏ (không
đẻ ra trứng). Cá voi thực-sự (true whale)
không có răng cứng mà chỉ có
những màng lưới bằng sụn mềm
xếp kín như cái lược. Chúng sống
bằng các phiêu-sinh-vật (plankton)
là những sinh-vật nhỏ li-ti
sống trôi nổi trong nước.
- Viện
Nghiên-cứu Đông-Tây tại Hawaii cho
biết ở Đông-Nam-Á có
tới 11 loài cá voi được xếp
thứ-tự nhìn thấy sinh-sống nhiều ít
như sau: Bryde's whale, Sperm whale, Sei whale, Fin whale, Blue whale,
Minke whale, Goosebeaked whale, Humpback whale, Beaked whale, Black right
whale, Pygmy sperm whale.
- Riêng
ở khu trung-ương của Biển Đông,
những cá voi mà người ta thường
thấy nhất là loại cá voi có vi (fin
whale), tên khoa-học là Balaenoptera Physalus. Cá voi
này có thể dài tới 70 hay 80ft, mầu
xám trên lưng trắng ở bụng, mang thai trong
10 tháng. Cá voi lưng gù (humpback) Megaptera
Novaeangliae là loại cá voi thường thấy
sau loại trên. Cá này dài đến 50ft,
tương đối ngắn nhưng to ngang.
- Người
Việt lúc xưa cũng săn giết cá voi
như mọi giống dân Á-Đông khác. Dân
duyên-hải nước
ta chỉ mới thờ cá voi và ngưng giết
cá voi cách nay không lâu thời Nam-tiến, khi tiếp-xúc nhiều với
người Chiêm-Thành.

Hình 45. Cá voi lưng
gù, một loài có thể sắp bị
tuyệt-chủng.
Những loài
cá lớn nhất như cá voi xanh (dài
tới 100ft) chỉ thỉnh-thoảng mới
xuất-hiện ở vùng biển phía Nam gần
Nam-Dương. Hàng năm, một vài con bị
săn và bị bắn chết khi chúng
di-chuyển từng đàn theo mùa. Một
loài cá voi khác cũng xuất hiện quanh
vùng đáy biển nông Sunda
như Sperm whale (Physeter catadon), Sei whale (Balaenoptera borealis).
- Ngoài
cá voi, Biển Đông cũng là nơi sinh
sống của loại cá heo (Delphinadae). Trong
sinh-vật-học, người ta cho rằng cá voi và
cá heo có nhiều điểm tương-tự;
trừ ra cá heo có hàm răng, chúng sinh
sống bằng các loại cá và cá
mực. Cá heo vùng biển nước ta có
vài điểm hơi khác biệt nên
thường được gọi là cá heo South
China Sea hay cá heo Malacca Dolphin.
Chúng đi từng bày, thân dài trong
khoảng từ 1.5m tới 2m, bơi rất nhanh và
thích đùa giỡn khi chạy qua chạy lại
trước mũi tàu những khi đẹp trời.

Hình 46. Cá heo của
Biển Đông cũng cần được
bảo-vệ…
Ở Việt-Nam
không thấy người ta nuôi dậy cá heo
nhưng ở Thái-Lan, Mã-lai-Á và vịnh Bengal, cá heo
rất hữu-ích vì giúp ngư-dân lùa cá vào
lưới.
3.4 - BIỂN ĐÔNG VÀ
MÔI-TRƯỜNG SINH-VẬT-HỌC VIỆT-NAM
Như đã
trình-bày ở trên về môi-trường
thực-vật, Biển Đông hoàn-toàn
có tính-chất Việt-Nam. Những cuộc
khảo-cứu về phương-diện sinh-vật-học lại
còn cho biết thêm rằng Biển Đông
cũng có môi-trường sinh-sống gần
với Việt-Nam hơn là gần Trung-Hoa hay
Phi-Luật-Tân.
3.4.1
– VÙNG MÔI-SINH Á-ĐÔNG.
Theo khoa Sinh-vật
Địa-lý-học, thế-giới được chia
làm 6 vùng môi-sinh (biogeographical zones);
Bắc-Mỹ, Nam-Mỹ, Bắc Á Âu, Phi-Châu,
Đông-Phương và Úc-châu.

Hình 47. Sáu
vùng môi-sinh trong khoa Sinh-vật Địa-lý-học. Biển
Đông và Việt-Nam cùng nằm trong
vùng Oriental Region.
Khu-vực phía
nam dẫy núi Hi-mã-lạp-Sơn bao gồm
Ấn-Độ và Đông-Nam-Á được đặt
tên là Vùng Đông-Phương (Oriental Region).
Vùng này không lớn lắm nhưng là
khu-vực mà môi-trường sinh-vật phong-phú
nhất trên trái đất, trong đó
có Việt-Nam cũng như Biển Đông.
Trong khi đó,
hầu hết lãnh thổ Trung-Hoa nằm trong
khu-vực mà khoa sinh-vật-học gọi
là Palearctic. Vùng này tuy rộng lớn
nhất, bao-trùm hết cả Bắc-Á,
toàn-thể Âu-châu và Tây-Bắc
Phi-châu nhưng lại ít có những loài
sinh-vật đặc-thù.
Căn-cứ theo
giới-tuyến Himalaya - Đông-Nam-Á, Biển Đông không có
nhiều liên-hệ về sinh-vật với
Trung-Hoa.
3.4.2
– ĐƯỜNG WALLACE – HUXLEY.
Môi-sinh Biển
Đông cũng xa lạ với Phi-luật-Tân,
miền đông Nam-Dương và Úc-Châu.
Ranh-giới chia cắt môi-sinh này thường được
gọi là đường Wallace-Huxley.

Hình 48. Về môi-sinh,
Biển Đông thuộc về Việt-Nam:
Đường Wallace/Huxley cắt Phi-luật-Tân ra
khỏi Biển Đông.
Nước
Việt-Nam nằm trong khu-vực mà các nhà
sinh-vật gọi
là Wallacea, đặt theo tên của Alfred Russel
Wallace. Wallacea là vùng đất sinh-sống
của các động-vật Á-đông.
Không những Trung-Hoa nằm ngoài vùng
môi-sinh Á-đông như đã nói
ở trên, Phi-luật-Tân cũng không ở
trong vùng này.
Nhà
thiên-nhiên-học người Anh này nhận ra
rằng ở đảo Bali có tới 94% loài
bò-sát và 87% loài chim nguồn gốc
Á-Đông, nhưng ở Lombok là đảo
kế cận hướng đông của Bali, thì
các tỷ-lệ trên sụt giảm xuống
còn 85% và 72.5%. Nhiều loài hữu-nhũ
từ Á-Đông sang sinh-sống ở Java,
chúng tới được Bali nhưng không
thấy tồn-tại xa hơn về hướng
Đông như Lombok, Celebe.
Tiếp theo Wallace,
một nhà sinh-vật-học người
Anh nữa là Huxley nghiên-cứu thêm và
thấy rằng tình-trạng sinh-vật ở
Phi-luật-Tân (trừ đảo Palawan) cũng
giống như ở Lombok và Celebe, nghĩa là
khác-biệt với Việt-Nam. Bên bờ phía
Tây của đường này sinh-vật mang
đậm những nét Á-Đông đáng
kể (overwhelmingly Oriental fauna). Càng đi xa về
phía Đông của đường Wallace-Huxley,
ảnh hưởng môi-trường sinh-vật Úc-châu (Australian fauna)
càng nhiều hơn; cho tới đường Weber
thì bách-phân sinh-vật Á-đông chỉ
còn lại là 50%.
Tóm lại,
các lý-lẽ trên chứng-minh rõ ràng
Biển Đông thuộc Việt-Nam về
phương-diện Sinh-vật Địa-lý-học.
3.5 - TRỮ-LƯỢNG
HẢI-SẢN BIỂN ĐÔNG
Biển Việt Nam
có trên 2,000 loài cá, trong đó
khoảng 130 loài cá có giá trị kinh
tế. Theo những đánh giá mới nhất, là
4.2 triệu tấn, trong đó sản lượng cho
phép khai thác là 1,7 triệu tấn/năm, bao
gồm 850 nghìn cá đáy, 700 nghìn
tấn cá nổi nhỏ, 120 nghìn tấn cá
nổi đại dương. Sau
cá có tôm, mực, cua được coi
là có giá trị kinh tế cao.
Toàn ngành
thủy sản có khoảng nửa triệu lao động
đánh bắt hải sản, trong đó hoạt
động gần bờ chiếm tới khoảng 70%.
Trong khi ngành được ghi nhận trả
lương cho người lao động
cao nhất tại Việt-Nam là sản xuất
và phân phối điện, khí đốt,
nước, với mức thu nhập bình quân
của người lao động
là 4 triệu đồng/người/tháng.
Người lao động
có mức thu nhập thấp nhất là ngành
thủy sản, với mức thu nhập bình quân
819,000 đồng/người/tháng.
Ngành thủy
sản đang tích cực đào tạo nâng
cao trình độ tay nghề cho đội ngũ lao động
nghề cá để
họ tiến kịp với sự phát triển
về ứng dụng khoa học, công nghệ, trang
bị của đội tàu xa bờ.
Tuy vậy sự
thu-hoạch thủy-sản ngoài
thiên-nhiên có giới-hạn. Người
Việt sẽ phải nuôi trồng thêm tôm
cá trong các trại tôm, trại cá.
Từ năm 1990
trở lại đây với tôm nuôi cho
xuất khẩu là mũi đột phá quan
trọng. Năm 1991, diện tích nuôi trồng
thủy sản mới đạt 520,000ha, sản
lượng đạt 335,910 tấn, đến năm 1996
diện tích nuôi trồng thủy sản là
585,000ha, sản lượng nuôi trồng đạt
411,000 tấn, năm 2000, diện tích nuôi là
652,000ha, sản lượng đạt 723,110 tấn,
năm 2003 sản lượng nuôi trồng đã
đạt hơn 1 triệu tấn. Nuôi trồng
thủy sản đang từng bước trở
thành một trong những ngành sản xuất
hàng hoá chủ lực.
Hiện nay
ngành nuôi trồng hải sản nước
mặn tuy có phát triển kém hơn
ngành nuôi trồng thủy sản nước
ngọt và nước lợ, nhưng xin nhớ
rằng môi-trường nước mặn ngoài
biển rộng lớn bao la hơn nội-địa
rất nhiều, còn chờ được khai
thác quy-mô.
Hình 49. Thống-kê
cho biết mức-độ nuôi trồng
thủy-sản gia-tăng
đáng kể tại Việt-Nam.
3.6
– BẢO-VỆ MÔI-TRƯỜNG BIỂN
Con người
càng ngày càng chiếm đóng thêm
nhiều hải-đảo. Những nơi xưa kia chim chóc,
rùa vít... thường làm tổ một
cách tự-do thì nay không còn nữa.
Chẳng những người đã chiếm
đất của vật, con người lại còn
tàn-sát các sinh-vật khác
không tiếc tay. Trên Biển Đông số
lượng sinh-vật đang
suy-giảm nhiều, đặc-biệt là những
loài rùa biển, như vít, đồi
mồi, như cá voi, cá heo... Nếu không
được bảo-tồn, chúng có thể bị
tuyệt-chủng. Những cơ-quan bảo-vệ
thiên-nhiên đã kêu gọi các
quốc-gia duyên-hải lưu-tâm tham-gia những
chương-trình của họ.
Theo đà
tiến-bộ chung của nhân-loại, các
nước Đông-Nam-Á cũng
bắt đầu khởi-sự những
chương-trình bảo-vệ môi-sinh
quan-trọng từ hơn một thập-niên qua.
Dẫn đầu những công-tác ngoài
Biển Đông là Nam-Dương. Nhờ nền
kinh-tế phát-triển mạnh, tiền bạc
dồi dào, các chính-phủ Mã-lai-Á và Tân-gia-Ba cũng đang
hăng-hái tham-gia và đã chi-phí
những khoản tiền lớn về chống
ô-nhiễm, bảo-vệ môi-sinh.
Mới đây,
Bộ Thủy Sản đã xây dựng quy
hoạch tổng thể hệ thống các khu bảo
tồn biển Việt Nam đến năm 2010, dự
kiến trình Chính phủ vào cuối năm
nay. Bản quy hoạch đề xuất 15 khu bảo
tồn biển dọc theo chiều dài đất
nước, với mục tiêu khoảng 2% diện
tích vůng biển nước ta được
bảo tồn vào năm 2010.
Hệ thống
các khu bảo tồn này được phân
làm 3 loại theo tiêu chí của IUCN, gồm:
Vườn quốc gia (biển), Khu bảo tồn loài
và nơi cư trú, và Khu dự trữ
tài nguyên thủy sinh vật. Tồn tại song
song với hệ thống này là các khu
bảo tồn được phân loại theo những
hệ thống khác như Khu bảo tồn
đất ngập nước (điểm RAMSAR, Xuân Thủy),
Khu dự trữ sinh quyển (Cát Tiên)...

Hình
50. Các khu bảo tồn
biển Việt Nam.

Hình
51. Các khu bảo tồn
biển Việt Nam (tiếp theo).
Danh sách
các điểm được đề xuất
thành khu bảo tồn biển:
- Đảo
Trần,
- Đảo Cô
Tô (Quảng Ninh)
- Đảo
Cát Bà,
- Bạch Long Vĩ
(Hải Phòng)
- Hòn Mê (Thanh
Hoá)
- Đảo
Cồn Cỏ (Quảng
Trị)
- Sơn Trà -
Hải Vân (Thừa Thiên Huế)
- Cù Lao
Chàm (Quảng Nam)
- Đảo
Lý Sơn (Quảng Ngãi)
- Hòn Mun,
- Nam Yết
(Khánh Hoà)
- Hòn Cau,
- Đảo
Phú Quý (Bình Thuận)
- Côn
Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu)
- Phú Quốc
(Kiên Giang)
Vì thiếu
ngân-khoản, sự thành lập các “khu
bảo tồn biển” rất chậm-trễ. Với
sự trợ giúp của Chính phủ Đan Mạch,
khu bảo tồn biển đầu tiên của
Việt Nam được xây dựng tại Hòn
Mun (Khánh Hòa) vào năm 2000. Bốn năm sau,
khu bảo tồn thứ hai trong mạng lưới khu
bảo tồn biển Việt Nam chỉ vừa mới
được thiết lập tại vùng biển
Cù lao Chàm
(tỉnh Quảng Nam).
3.7
– HẢI SINH-VẬT CẦN BẢO-VỆ
Những
hải-sinh-vật như
rùa biển, cá heo, cá voi... được ghi
trong danh-sách những sinh-vật cần
bảo-vệ. Cơ-quan International Whaling Commission (IWC)
thuộc Liên-Hiệp-Quốc, đặc-trách
việc này đã thông-báo nguy-cơ
tuyệt-chủng của
các loài cá voi, cấm săn-bắn cá
voi lưng gù (Humpback whale, Megaptera novaeangliae) vào
năm 1966, cá voi xanh (Blue Whale, Balaenoptera musculus) năm
1967 và cá voi có vi (Fin whale, Balaenoptera physalus)
vào năm 1975.

Hình 52. Cá
voi xanh, dài tới 100ft, là loài
động-vật lớn nhất của
địa-cầu. Một số di-chuyển theo mùa
trong vùng biển ĐNÁ. Số lượng
đang suy-giảm rõ rệt.
Trong khi đẩy
mạnh sản-lượng ngư-nghiệp, hầu hết các quốc-gia
duyên-hải đã
có kế-hoạch khuyến-cáo những
ngư-dân tránh
sát-hại các loài hải-vật nào
cần-thiết được bảo-tồn để
chúng tiếp-tục sinh-sản.
Trường-hợp
Việt-Nam, ý-thức về việc bảo-vệ
môi-sinh rất thấp, đặc-biệt về
môi-sinh ngoài biển có lẽ còn xa lạ
với phần đông dân ta. Chính-quyền
nào cũng cần lưu-tâm đến
công-tác này, sự giáo-dục phải
khởi-sự ngay từ học-đường ra
đến đại-chúng.
Trong số
lượng lớn quân-nhân trú-phòng
trên các hải-đảo, không chắc có bao nhiêu
cá-nhân ý-thức đến
môi-trường sinh-sống chung quanh. Một khi
nước biển bị ô-nhiễm, ánh-sáng
không còn chiếu xuống được sâu,
nước biển đục ngầu thì san-hô
chết và sự tồn-tại của
hải-đảo lệ-thuộc vào
đó. Người quân-nhân cũng như
thường-dân phải ý-thức được
sự sinh-tồn của con người liên-hệ ra
sao với san-hô, với biển, với
hải-sinh-vật... Đời sống vốn là sự
cộng-sinh giữa muôn loài, sẽ thay đổi
theo chiều-hướng tốt đẹp hơn.

Hình
53. Số
lượng Bò Biển đang suy-giảm rõ
rệt, gần tuyệt-chủng.
4
– KHÍ-TƯỢNG BIỂN ĐÔNG
Khí-tượng Biển Đông khác
với khí-tượng trong lục-địa.
4.1-
TÌNH-TRẠNG KHÍ-TƯỢNG TỔNG-QUÁT
Nói chung
Hoàng-Sa Trường-Sa nhờ nằm
giữa Biển Đông nên khí-hậu
điều-hòa, không lạnh quá về
mùa Đông, không nóng quá về
mùa hè nếu so với những vùng
đất cùng vĩ-độ trong lục-địa.
Không-khí Biển Đông ít bị
ô-nhiễm. Bầu trời thường trong trẻo,
tuy đôi khi u-ám và có mưa lớn trong
giông bão nhưng thời-gian này
tương-đối qua đi khá nhanh. Mưa
ngoài biển qua nhanh, ở Hoàng-Sa không
có mùa nào ảm-đạm kéo dài
như kiểu mưa dầm gió bấc ở
Bắc-phần hay mù-mịt như trong mùa mưa
ở Huế. Buổi sáng cũng ít khi có
sương mù.
- Nhiệt-độ.
Nhiệt-độ ở Hoàng-Sa không
chênh lệch lắm giữa mùa Hạ (28-29
độ bách-phân) và mùa Đông
(24-25 độ). Tuy xa cách Hoàng-Sa tới 6, 7
độ vĩ-tuyến, gần hơn về phía
Xích-đạo nhưng Trường-Sa cũng chỉ
nóng hơn Hoàng-Sa chừng vài độ.
Có thể nói hai quần-đảo Hoàng-Sa
Trường-Sa không có mùa lạnh,
khí-hậu dịu mát nhờ ảnh-hưởng
đại-dương.
- Vũ-lượng.
Ở Hoàng-Sa mưa
trung-bình trong năm lối 1,170mm, tuy được
kể là mưa nhiều nhưng không quá
đáng như ở Huế (3,000mm). Mưa nhiều
nhất trong tháng 10 (17 ngày/228mm). Trường-Sa
là vùng rộng lớn gấp 10 lần hơn
Hoàng-Sa, hiện không đủ dữ-kiện
nhưng chúng ta có thể ước-đoán
rằng vũ-lượng tổng-quát thấp hơn
Hoàng-Sa một chút.
- Ẩm-độ.
Không-khí Biển Đông
tương-đối ẩm-thấp hơn những
vùng biển khác trên thế-giới. Ở
cả Hoàng-Sa lẫn
Trường-Sa, ẩm-độ đều cao, ít khi
nào bách-phân ẩm-độ xuống
dưới 80%. Trung-bình vào tháng 6,
ẩm-độ ở Hoàng-Sa suýt soát 85%.
|
Những sự kiện khí
hậu ở Hoàng-Sa |
||||||||||||
|
Tháng |
Giêng |
Hai |
Ba |
Tư |
Năm |
Sáu |
Bảy |
Tám |
Chín |
Mười |
M.Một |
M.Hai |
|
TB Nhiệt TB Ẩm Độ TB Vũ Lượng Số Ngày Mưa |
23,5 82,1 21 8 |
24 83,7 17 5 |
26,2 83,8 21 3 |
27,7 83,5 60 5 |
29,2 83,9 73 8 |
29,1 84,8 128 8 |
28,9 84,2 93 7 |
28,7 83,7 141 9 |
28,1 84,4 197 15 |
27,1 83,8 228 17 |
25,8 83,7 143 14 |
24,4 81,5 47 13 |
|
(Trích
Khí Hậu V.N. – Nha Giám Đốc Khí
Tượng 1964) |
||||||||||||
Hình 54. Nhiệt-độ,
ẩm-độ, vũ-lượng ở Hoàng-Sa.
4.2 – MÙA GIÓ
Có hai mùa
gió Đông-Bắc và Tây-Nam rất
rõ rệt:
* Mùa gió Đông-Bắc thổi
mạnh trên Biển Đông, từ tháng 11
đến tháng 1, gió 20-25 gút, biển
động mạnh, tới cấp 4 cấp 5. Người
đi biển hay dân đánh cá rất
khổ cực. Vịnh Thái-Lan trong mùa này
tương-đối êm-dịu.
* Mùa gió Tây-Nam thổi trong
những tháng 3, 4, 5. Gió mùa này
thường yếu hơn gió mùa Đông-Bắc và
biển cũng ít động. Trong mùa gió
Tây-Nam, biển Hoàng-Sa khá
êm dịu trong khi Trường-Sa và vịnh
Thái-Lan bị ảnh-hưởng sóng gió
nhiều hơn.
4.3
– THỦY-TRIỀU
Thủy-triều là
một hiện-tượng nước biển lên
xuống, nguyên-do vì hấp-lực của các
tinh-tú mà chính-yếu là mặt trăng
và mặt trời. Hiện-tượng này tuy
phức-tạp nhưng lại đi theo chu-kỳ. Sau
nhiều nghiên-cứu, chiêm-nghiệm; ngày nay
người ta có thể tiên-đoán khá
chính-xác cao-độ thủy-triều tại
bất cứ một hải cảng trong bất cứ
một thời-điểm nào
Hoàng-Sa và
Trường-Sa nằm ngoài khơi Việt-Nam nhưng
thủy-triều lên xuống tại đây lại
không theo đúng nhịp điệu, chu-kỳ hay
biên-độ của những con nước lớn
và nước ròng ở các bến
quy-chiếu chính của Việt-Nam là
Đồ-Sơn và Vũng-Tàu.

Hình 55. Một
đường biểu-diễn cao-độ
tiêu-biểu cho thủy-triều loại
hỗn-hợp.
Nói chung,
biên-độ thủy-triều không lớn
lắm, khoảng 4-5ft (1.2m-1.5m). Chu-kỳ thủy-triều
Hoàng-Sa thuộc
loại hỗn-hợp giữa bán-nhật và
toàn-nhật; với đặc-tính
toàn-nhật vượt trội hơn (chiefly diurnal).
Thông-thường, mỗi ngày một con
nước lớn, một con nước ròng,
chuyển qua hai con nước một ít ngày,
rồi trở lại một con.
Người đi
biển thường dùng những Bảng
Thủy-triều (Tide Table)
để tính-toán thời-gian và
cao-độ mực nước lên xuống.

Hình 56. Tài-liệu
trích trong "Bảng thủy-triều".
Thủy-triều các
cảng Việt-Nam có bến quy-chiếu tại Manila,
Phi-luật-Tân.
Sự
tiên-đoán thủy-triều ngày nay khá
chính-xác, Tide Table trợ giúp rất
đắc-lực cho những nhà hải-hành khi
đi qua các vùng nước cạn, đưa
tàu chui dưới những cây cầu thấp, ra
vô hải-cảng, tính toán giờ giấc
vận-chuyển v.v...
Bảng
Thủy-triều do Bộ
Thương-mại Hoa-Kỳ biên-soạn,
chỉ-dẫn việc dùng bến quy-chiếu ở
Manila, Phi-luật-Tân cho thủy-triều Hoàng-Sa và
các bến vùng Đà-Nẵng, cộng
trừ thêm những sai-biệt đã
được cơ-sở Thủy-Đạo tính
toán sẵn. Chúng tôi xin trích-dẫn
một vài dòng trong sách trên làm
tài-liệu.
Trong khi đó
ở Vũng-Tàu, Kê Gà, Côn-Sơn,
Hòn Khoai, Vịnh Phú-Quốc, Sài-Gòn; thủy-triều là
loại bán-nhật (semi-diurnal) với con nước
dâng lên hạ xuống mỗi ngày hai lần.
Bến quy-chiếu tại Mũi Vũng-Tàu.
Đồ-Sơn
là một bến quy-chiếu khác trong bảng Tide
Table dùng tính toán thủy-triều các
bến dọc theo Vịnh Bắc-Việt, trải dài từ đảo Cái
Bầu, Hải-Phòng, Hòn Me đến cửa
Nhật-Lệ và ra ngoài xa đến đảo
Bạch-long-Vĩ. Thủy-triều này
là loại toàn-nhật (diurnal).

Hình 57. Bản-đồ
nhiệt-độ nước biển, biên-độ
thủy-triều, năng-lực sóng Biển
Đông.
Theo Giáo-Sư
Lê-Bá-Thảo, Thủy-triều trong Biển
Đông rất phức tạp với sự biểu
hiện đồng thời của 4 loại khác nhau
trên những đoạn bờ biển khác nhau.
Trên bờ biển Việt Nam, chế độ
nhật triều, quan sát thấy rõ nhất ở
đoàn từ Hòn Gai về đến Đồ
Sơn, càng lên phía bắc càng giảm
tính thuần nhất cũng như càng xuống
phía nam. Từ nam Đồ Sơn đến nam Thanh
Hóa, nếu nhật triều còn chiếm 2/3
số ngày trong tháng thì ở ven biển
Nghệ Tĩnh, số ngày đó chỉ còn
chiếm già nữa tháng, và như vậy
là đã xuất hiện nhật triều
không đều.
Đoạn
Quảng Bình - Quảng Trị đã thấy
có chế độ bán nhật triều không
đều nhưng ở bờ biển Thừa Thiên
lại thấy có bán nhật triều đều
và là đoạn duy nhất ở Việt Nam
có chế độ ấy.
Tính
chất bán nhật triều lại chuyển dần
sang nhật triều không đều từ bờ biển
Quảng Nam xuống đến bắc Nam Bộ. Từ
đó trở đi đến mũi Cà Mau,
chế-độ bán nhật triều lại trở
nên rõ rệt nhưng ở vịnh Thái Lan
thì đã có nhật triều không
đều và đều.
Như
có thể thấy, chế-độ thủy-triều
trên suốt chiều dài của bờ biển
Việt Nam luôn thay đổi và người ta
chỉ có thể cắt nghĩa điều
đó bằng ảnh hưởng của các
điều kiện địa phương, trong
đó các dao động nước khu vực
và các dao động của sóng triều
tạo nên những hiện tượng cộng
hưởng phức tạp.
Sóng
và thủy-triều là hai yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến dải đất
ven biển: các cửa sông hình
phễu, các hiện tượng xói lở bờ
và bồi tụ, các lạch triều và
bãi triều, các quần xã thực vật
ngập mặn v.v... nói lên điều
đó.[34]
4.4
– VÙNG NƯỚC XOÁY
Nước thủy-triều
di-chuyển lên xuống theo đường thẳng
đứng, Nước cũng di-chuyển ngang, tạo
nên những dòng nước chảy qua chảy
lại trên biển. Vì nhiều yếu-tố
ngoại-lai như địa-thế bờ đất,
hải-đảo, đáy biển, luồng gió ảnh-hưởng
đến, những dòng nước thủy-triều
có thể chạy ngược lại với nhau trong
một vùng nào đó làm nước
xoáy tròn.
Hiện-tượng
nước xoáy này làm những khối
lượng nước bị cuốn xuống
đáy biển theo vòng
trôn ốc như tại khu-vực ngoài khơi
những ghềnh đá Na-Uy. Trong những
trường-hợp đặc-biệt, vùng
nước xoáy mạnh
đến nỗi có thể hút cả ghe
thuyền, đáng sợ nhất là ở
khu-vực nằm giữa hai vùng biển
Phi-luật-Tân và Nhật-Bản.
Tại Biển
Đông, biên-độ thủy-triều
thường nhỏ nên những dòng nước
gây nên bởi thủy-triều không mạnh
lắm. Dân đánh cá thường
biết rõ những vùng nước xoáy gần
bờ để lái ghe thuyền nhỏ bé
của họ tránh ra xa. Ngoài biển khơi, tuy
nước có xoáy ở vài nơi nhưng
không gây nguy-hại hiểm-nghèo cho các
tàu thuyền đi biển lớn hơn mức
trung-bình.

Hình 58. Cách
giải-thích hiện-tượng những con
nước xoáy. Hình vẽ có hơi
phóng-đại cơ-nguy trên Biển Đông.
4.5
– NƯỚC BIỂN, NỒNG-ĐỘ MUỐI
Nước
biển các vùng Hoàng-Sa và Trường-Sa
lúc nào cũng ấm-áp. Nhiệt-độ
cả năm thường cao hơn 20 độ
bách-phân. Nước biển chứa nhiều oxy,
rất trong vì không bị ô-nhiễm và
cũng vì xa các cửa sông nước
đục. Độ mặn của muối dưới
mức trung-bình, thường không cao quá 35
phần ngàn (%o). Bầu trời Hoàng-Sa và
Trường-Sa thường quang đãng ít
mây, mặt trời nhiệt-đới quanh năm
chiếu ánh-sáng thật sâu xuống
dưới nước. Những điều-kiện
này tạo môi-trường lý-tưởng cho
san-hô sinh-tồn và phát-triển ở
độ sâu hàng trăm thước.
4.6
– HẢI-LƯU
Hải-lưu
là dòng nước chảy ở giữa biển
mà nguyên-nhân chính phát-sinh là
gió, sau đó là sự khác-biệt
về tỷ-trọng, nhiệt-độ nước
biển, sự quay của trái đất,
thủy-triều...
Hải-lưu trong
Biển Đông không chảy thường-trực
cố-định suốt năm một chiều như
các đại-hải-lưu của
Thái-bình-Dương. Gió mùa địa-phương
tạo nên những dòng hải-lưu chuyển-vận nước
theo chiều gió thổi, khi gió mùa đổi
ngược chiều thì hải-lưu chảy
ngược lại.
- Trong
mùa gió Đông-Bắc, hải-lưu Biển
Đông chảy ngược theo chiều kim
đồng-hồ. Dòng nước biển chảy
mạnh từ Đài-Loan ngang qua Hoàng-Sa vận-tốc chừng 1
gút. Khi xuống ngang bờ biển Trung-phần,
vận-tốc dòng nước tăng thêm, có
khi tối-đa tới 3, 4 gút trên mặt
nước. Các nhân-viên khí-tượng
Việt-Nam ở Hoàng-Sa (sau vụ Nhật
đảo-chính Pháp tháng 3/1945) và
quân-nhân Hải-Quân Việt-Nam
Cộng-Hoà (sau khi Trung-Cộng tấn-chiếm
đảo tháng 1/1974) đã nhờ nhờ
dòng nước này thả bè trôi về
được tới Quy-Nhơn và ngoài khơi
Cù-lao Ré
để được cứu vớt. — phía
Tây vùng Trường-Sa, nước chảy
ngược lại như một đối-lưu
hướng về phía Đông-Bắc.
Vận-tốc đối-lưu thường thấp.
Vùng gần Palawan nước chảy theo chiều
Tây-Nam.
- Trong mùa
gió Tây-Nam, hải-lưu chảy theo
chiều kim đồng-hồ, từ phía Mã-Lai
đi dọc bờ biển Trung-phần ra Hoàng-Sa với
vận-tốc chừng .5 gút. Đối-lưu từ
phía Đông của quần-đảo Hoàng-Sa
chảy về Trường-Sa rất yếu.
- Hải-lưu
Biển Đông không hoàn-toàn là
một vòng kín. Trong những khi gió mùa thổi
mạnh, những khối lượng nước biển
lớn lao được đẩy ra
ngoài qua các eo biển. Vào mùa gió
Đông-Bắc, nước Biển Đông
thoát ra Ấn-độ-Dương. Vào mùa gió Tây-Nam,
nước biển thoát ra
Thái-bình-Dương.
Theo
tài-liệu trong sách Regional Oceanography[35],
tác-giả Matthias Tomczak & J. Stuart Godfrey thì
dòng nước chảy qua chảy lại như
một máy điều hòa làm
nồng-độ muối ở Hoàng-Sa và
Trường-Sa trong suốt năm giữ nguyên trong
mức độ 33.5 và 33 phần ngàn. Chiều
nước chảy của các hải-lưu Biển Đông
được trình-bày như trong hai hình
dưới đây.
Như vậy quanh
năm, hải-lưu vùng
Hoàng-Sa và
Trường-Sa thay đổi chiều hai lần. Dòng
nước vùng Trường-Sa không mạnh
như dòng nước vùng Hoàng-Sa.
Sau trận
hải-chiến năm 1988 khi chiến-hạm bị
chìm, các thủy-thủ Việt-Nam
Cộng-sản sống sót trên các bè
nổi không trôi đi đâu xa. Vì
nước chỉ chảy chừng 1/4 đến 1/2
gút, sự cấp-cứu đã được
thi-hành trong "khu-vực cánh quạt"
sát gần nơi hải-chiến.
|
|
|
|
Sea surface salinity in
the South China Sea. (a) During the southwest monsoon (August), (b) during
the northeast monsoon (February). Arrows indicate the inferred direction of
flow. After Wyrtki (1961). |
|
Hình 59. Hải-lưu
và nồng-độ muối Biển Đông.
Sự
vận-hành của hải-lưu liên-hệ đến
những thay đổi về thời-tiết,
khí-tượng trong vùng, gây
ảnh-hưởng đến môi-trường
sinh-sống của người và sinh-vật dưới
biển cũng như trên bờ.
4.7 - NƯỚC,
GIÓ VÀ NẠN DẦU LOANG
Khi dàn khoan hoạt-động, các
tàu chuyên chở dầu đi lại nhiều
hơn và những ống dẫn dầu khí
vào bờ khởi-sự; đây cũng là
lúc người ta nghĩ đến những
tai-nạn dầu loang và
sự hiểu-biết về hải-lưu càng
cần-thiết hơn. Các kế-hoạch
phòng-tai bao gồm nhiều giả-thuyết kèm
các biện-pháp ứng-phó. Nước
trôi ra sao cùng gió thổi thế nào
cần được tính-toán sẵn sàng.
Các phỏng-định
sau đây đặt ra với giả-thuyết
vài triệu gallons dầu thô, vì tai-nạn hay
lầm-lỗi kỹ-thuật lúc khai-thác hay
chuyên-chở, bị thất-thoát ra ngoài
biển.
Chừng 24% số
dầu đó sẽ bay hơi hay tan-biến sau 2
ngày, 42% sau 5 ngày, 45% sau 8 ngày.
Bách-phân tiêu-tán này đạt
đến tối-đa là 48% qua 14 ngày. Sau
đó thời-tiết không còn
ảnh-hưởng bao nhiêu và số dầu còn
lại sẽ nằm vật vờ trôi nổi trên
mặt biển. Phải qua rất nhiều thời-gian
để dầu loang tự nó phân-hóa qua
những phản-ứng thoái-hóa sinh-học
(Biological Degradation), oxide hóa quang-năng (photo-oxidation)
mà từ từ tan-biến. Khi dầu thoát ra,
vì nhẹ nên nổi và nước gió
làm dầu trôi đi trên mặt biển.
Phần nặng hay
chất cặn bã của dầu thường
không độc-hại bằng phần lỏng của
nó. Chim chóc, cua cá, cây cối...
tiếp-xúc với dầu hay nằm trong lớp
dầu bao-phủ sẽ bị chết hại rất
nhiều. Nếu không được làm sạch
sẽ đúng cách, tình-trạng môi-sinh
trong vùng bị dầu loang chỉ trở lại
bình-thường sau nhiều năm hay nhiều
chục năm.

Hình 60. Các
giả-thuyết dầu loang ngoài khơi Biển
Đông trong hai mùa gió Đông-Bắc
và Tây-Nam.
Chúng
ta hãy xem vài giả-thuyết dầu loang dọc
duyên-hải Việt-Nam
theo tài-liệu của sách Atlas for Marine Policy in
East Asian Seas:[36]
- Dầu loang ngoài khơi Vũng-Tàu (9o40' N, 108o00' E). Nếu tai-nạn
dầu loang xảy ra vào
ngày 1 tháng 7 khi mùa gió Tây-Nam đang
thổi mạnh, dầu loang sẽ trôi theo
hướng Đông-Bắc một khoảng 600km (372hl)
sau 29 ngày. Chỉ trong vòng 14 ngày, dầu loang
sẽ tràn tới vùng Cam-Ranh.
Nếu tai-nạn trên xảy ra vào ngày 1
tháng 12, trong mùa gió Đông-Bắc;
dầu loang sẽ trôi theo hướng Tây-Nam
một khoảng 400km (248hl) sau thời-gian 14-17 ngày.
- Dầu loang
ngoài khơi Tây-Nam Hải-Nam (23o0'
N, 109o0' E.) Bờ biển Hải-Nam
sẽ bị ô-nhiễm nếu dầu
thất-thoát trong mùa gió Tây-Nam vào
những tháng 5, 6, 7 và 8.
Nếu tai-nạn
trên xảy ra vào lúc giao mùa hay giữa
mùa gió Đông-Bắc, dầu loang sẽ
trôi về phía bờ biển Việt-Nam: tháng
8, vào Bắc-phần và các tháng 9, 10, 11,
12, 1, 2, 3 vào vùng Bắc Trung-phần.
Trong tương-lai nếu Trung-Cộng khởi
sự đào dầu tại Hoàng-Sa, cơ-nguy bờ biển Trung-phần
Việt-Nam bị nạn dầu loang tràn
ngập rất trầm-trọng, nhất là về
mùa gió Đông-Bắc. Hải-lưu vùng
này mạnh, đôi khi vượt 30hl. một
ngày. Dầu loang có thể tràn đến khu
Cù-Lao Ré, Quảng-Ngãi trong vòng 10
ngày và đến Quy-Nhơn chừng 2
tuần-lễ.

Hình 61. Nếu dầu loang
từ Hoàng-Sa hay
ngoài khơi Hải-Nam, bờ biển Việt-Nam có
cơ nguy bị ô-nhiễm nhiều hơn phía
Trung-Hoa.
5
– THIÊN-TAI TRÊN BIỂN ĐÔNG
Thiên-tai Biển
Đông xếp thành nhiều loại:
5. 1
– BÃO-TỐ
Bão-tố
có mùa. Bão Biển Đông là
bão nhiệt-đới, thường xảy ra
những lúc giao mùa, nhất là từ
tháng 6 đến tháng 8. Gió mạnh
đến 90 gút. Bão giảm đi từ
tháng 9 nhưng cũng vẫn còn đến
tháng 1. Tuy vậy, vào giữa mùa gió
Đông-Bắc, bão làm biển trở nên
động dữ dội hơn và kéo dài
trong nhiều ngày.

Hình
62. Bão và các
thiên-tai động đất, sóng thần vùng Biển Đông.
Người
Pháp gọi tên đảo Trường-Sa là
Đảo Bão-Tố (Ile de la
Tempête), nhưng biển Trường-Sa cũng như
toàn thể Biển Đông không phải
là nơi phát-sinh những trận bão lớn
vùng nhiệt-đới. Những trận
Đại-phong hay Typhoon thường khởi-sự từ
phía Đông của Phi-luật-Tân, di-chuyển
theo hướng Tây-Bắc về phía Bắc
Việt-Nam, Hồng-Kông, Đài-Loan
Nhật-Bản. Không tới 1% giông bão
phát sinh từ Biển Đông tiến về
Hoa-Nam và cũng không tới 1% giông bão
phát-sinh ngoài khơi Brunei thổi về Vịnh
Thái-Lan. Có tới chừng 1 phần 3 các
trận đại-phong đi từ
Thái-bình-Dương thổi
về, qua Trường-Sa và Hoàng-Sa, tiến vào bờ biển Trung-Việt
và vịnh Bắc-phần.
Sau khi
thành-lập, bão thường di-chuyển
hướng Tây, nhưng rồi chuyển lên
hướng Đông-Bắc, nên Nam-phần
không mấy khi bị bão lớn tàn-phá.
Khi bão
phát xuất từ đảo Lữ Tống đi
ngang Hoàng-Sa thì
binh-sĩ đóng trên đảo thấy các
triệu chứng như sau: Trời oi, khí áp
xuống nhanh. Trên bầu trời xuất hiện
những mây cao bay nhanh như bó lông (cirrus
panachés). Vài giờ sau bầu trời bị che
phủ bởi một lớp mây rất mỏng (cirro
status), mặt trời chung quanh có quầng, rồi
dần dần bầu trời trắng nhạt. Sau
đó đến lượt những mây thấp
có hình vẩy cá (cirro cumulus). Rồi
đến một lớp mây đen, dày cao lối
3,000m (altostatus), tất cả trở nên đen, u
ám; mưa bắt đầu rơi, gió thổi,
khí áp xuống nhanh. Trần mây thấp
dần xuống (100m hay 50m), mây bay nhanh, gió
thổi mạnh từng cơn, bão đã
tới...
Cường-độ
gió bão có thể lối 50 gút
đến 90 gút.
Khi sấm sét
đã xuất hiện thì có thể coi
như cơn bão đã qua...

Hình 63. Số lượng
trung-bình các trận bão xảy ra trong
những tháng của một năm.
Hai quần-đảo
Hoàng-Sa và
Trường-Sa bao gồm các đảo nhỏ
bé trơ trụi, không phải là chỗ neo
tránh bão lý-tưởng. Mỗi khi các
đài khí-tượng thông-báo có
bão (typhoon) là các tàu thuyền
thường vội vã di-tản khỏi vùng.

Hình 64. Khi bão di chuyển với vận tốc
v, vận tốc gió xoáy là v1: tại vùng bán-nguyệt an-toàn, sức gió
nhẹ hơn (v1-v) phía bán-nguyệt kia khá
nhiều (vận-tốc gió v1+v).
Trường-hợp
không kịp, phải cố chạy về phía Nam,
làm sao nằm được trong "bán-nguyệt
an-toàn" của bão. Trong thế-chiến II,
Hạm-đội Hoa-Kỳ một lần đã
bị thiệt-hại nặng vì bão như
vậy ở ngoài biển Phi-luật-Tân chỉ
vì phải tiếp-tục hành-quân, không
kịp lẫn trốn.

Hình 65. Ðường
đi tiêu-chuẩn của các trận bão trong
những tháng 7, 8, 9, 10. Mùa mưa bão ở
các tỉnh miền Bắc thường đến
sớm hơn các tỉnh miền Trung khoảng 1 đến
2 tháng.
Hai lần
Trung-Cộng hành-quân lớn, chiếm trọn
Hoàng-Sa (19 tháng
1 năm 1974) và nuốt gọn 7 đảo
Trường-Sa (14 tháng 3 năm 1988), chúng
đều khởi-sự ồ-ạt chuyển quân
xuống Biển Đông trong mùa biển ít
bão-tố.

Hình 66. Thang
sức gió bão Beaufort hay đơn
giản là cấp gió là thang đo kinh
nghiệm về sức gió, chủ yếu dựa
trên trạng thái của mặt biển hay
các trạng thái sóng. Cũng cần lưu
ý rằng độ cao của sóng tính trong
điều kiện tìm thấy ở các biển
vắng.
Qua các
tài-liệu lịch-sử, người ta đọc
được nhiều lần thiên-tai
khủng-khiếp gây thiệt hại sinh-mạng
và tài-sản cho nước ta. Vì
người dân đói khổ nên quốc-gia
loạn lạc. Tai-nạn ngoài Biển Đông
mang đến chết chóc, mất tích, tản-lạc
cho ngư-phủ như:
* Vào
đầu thế-kỷ 18, bão thổi thuyền
bè của đội Hoàng-Sa ra biển
sang Hải-Nam. Hai nhân-viên được
người Tàu cứu và được trả
về sau đó.
* Vào
thời Nam-Bắc phân-tranh, khi hai hạm-đội chuẩn-bị
tác-chiến thì
bão thổi tới. Chiến-thuyền đôi
bên rời nhau để chạy trốn nhưng
không kịp. Một số bị chìm, một
số bị thổi ra biển. Có chiếc trôi ra
Hoàng-Sa, có chiếc giạt tới Hải-Nam.
Thiên-tai về
bão-tố đẩy thuyền ra Hoàng-Sa cũng
là một yếu-tố để chứng-minh dân
địa-phương như người Việt
chúng ta đã đến Hoàng-Sa
Trường-Sa, do vô-tình hay cố-ý từ
nhiều ngàn năm xưa. Người Việt
cũng như các người Đông-Nam-Á khác
đã khám-phá các đảo ngoài
Biển Đông ngay từ khi phát-minh ghe thuyền,
không chờ đợi đến khi người
Trung-Hoa hàng ngàn vạn dặm xa-xăm
đến đây để ghi công
“khám-phá” hão!
5.2
– NHỮNG HIỆN-TƯỢNG THIÊN-NHIÊN
KHÁC
Ngoài
bão-táp là thiên-tai khủng-khiếp
nhất, các vùng đất Đông-Nam-Á nằm
ngoài đại-dương còn trải qua một
số các thiên-tai khác như, động
đất, núi lửa, đất trùi, sóng
thần, lụt lội v.v...
5.2.1
– SÓNG THẦN
Ngoài khơi
Việt-Nam, tuy có một số chấn-động
địa-chất ngầm
dưới biển xảy ra ngay trong thế-kỷ thứ
XX nhưng đã không gây nên một
thiệt-hại nào. Vùng Hoàng-Sa và
Cù-lao Thu ghi-nhận
ít nhất 6 lần địa-chấn. May mắn
không có cơn sóng thần nào
tàn-phá duyên-hải nước
ta.
Sóng Thần
(Tsunamis) gây nên bởi những trận động
đất dưới lòng biển sâu. Sóng
thần không do gió phát-sinh và vì
chúng có độ dài sóng rất lớn
nên mắt thường của chúng ta không
thể nhận ra được khi sóng thần còn
ở ngoài biển rộng. Chấn-động
của cơn địa-chấn truyền đi trong
lòng biển với vận-tốc nhanh tới 400-500 gút.
Trên mặt biển, đó là những
làn sóng chỉ cao đến vài ba bộ Anh,
nhưng chiều dài lên tới trên 100
hải-lý. Tuy thủy-thủ hải-hành trong
khu-vực động đất không nhìn thấy
sóng nhưng thường cảm thấy tàu
thuyền của họ bị đập mạnh một
hay hai cái theo chiều thẳng đứng giống
như bị mắc cạn rồi thôi.
Khi tiến
đến gần bờ, vì vận-tốc sóng
vẫn cao trong khi đáy biển trở
thành nông cạn, sóng bất thần bị
chận lại nên trong khoảnh-khắc,
biên-độ vụt gia-tăng ghê gớm.
Những đợt sóng khi đó có thể
cao tới 50-100 feet, di-chuyển rất nhanh,
tàn-phá tất cả những gì trên
đường đi của chúng, vào sâu
trong nội-địa nhiều cây-số.
Hai nước
Phi-luật-Tân và Nam-Dương chịu
đựng liên-tiếp nhiều tai-ương về
động đất. Sóng thần đã
cuốn trôi nhiều làng mạc, quét sạch
nhà cửa, ghe thuyền, con người và
súc-vật ra biển. Các đảo phía
cực đông của Trường-Sa, nằm gần
với rãnh sâu Palawan có thể chịu
những tai-họa thảm-khốc nếu sóng
thần xảy ra.
Bờ biển Việt-Nam
chạy lài lài ra khơi, nước ta may mắn
không tiếp giáp với một bất cứ
một rãnh sâu nào của
đại-dương (trench) nên thoát tai-nạn
những cơn sóng thần.
Việt-Nam và
Biển Đông còn may mắn hơn nữa
vì nằm ngoài Vòng Lửa
Thái-bình-Dương (Cercle de Feu) là
khu-vực không từng bị nạn động
đất nào tàn-phá trầm trọng.
Nói về sự bền vững của nền
lục-địa xứ ta, Giáo-sư
Phạm-Hoàng-Hộ viết
rằng "Việt Nam nằm trên khối Indosinias
của vỏ Trái đất bền vững từ
mấy trăm triệu năm nay" (Cây cỏ
Việt-Nam, 1993).